SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“GIÁO
DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH QUA TIẾT DẠY
TRUYỆN NGỤ NGÔN NGỮ VĂN 6”
PHẦN I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Thực trạng
Kỹ năng sống là yếu tố cần thiết trong mọi thời đại đặc biệt là trong thời kì hội
nhập. Xuất phát từ nhu cầu đó Bộ Giáo dục và Đào tạo lồng ghép kỹ năng sống vào trong
chương trình học của học sinh.
Trong “ Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2009-2020” (Dự thảo
lần thứ 14) nêu rõ: “Giáo dục và đào tạo có sứ mạng đào tạo con người Việt Nam phát
triển toàn diện góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến của đất nước trong bối cảnh toàn
cầu hóa, đồng thời tạo lập nền tảng và động lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Giáo dục và Đào tạo phải góp phần tạo nên một thế hệ người lao động có tri thức, có đạo
đức, có bản lĩnh trung thực, có tư duy phê phán, sáng tạo, có kỹ năng sống, kỹ năng giải
quyết vấn đề và kỹ năng nghề nghiệp để làm việc hiệu quả ở môi trưởng toàn cầu hóa,
vừa hợp tác vừa cạnh tranh”. Có thể khẳng định, mục tiêu giáo dục toàn diện không thể
đạt được nếu không giáo dục kỹ năng sống. Hơn nữa, rèn luyện kỹ năng sống cho học
sinh được xác định là một trong những nội dung cơ bản của phong trào thi đua “Xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
Có thể nói, để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, để thế hệ trẻ đáp ứng nguồn
nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng yêu cầu hội
nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học, người giáo viên phải làm sao hướng
học sinh đến cách tiếp cận kĩ năng sống, kĩ năng sống thực chất là: học để biết, học để
làm gì, học để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống. Bởi vì mục tiêu giáo dục
cực của học sinh, đòi hỏi người học sinh phải tự mình khám phá, chinh phục kiến thức,
không chỉ có thế, qua những kiến thức đó, người giáo viên cần phải hướng các em học
sinh làm sao hình thành được cho các em những kĩ năng cơ bản trong cuộc sống như kĩ
năng tư duy sáng tạo, kĩ năng hợp tác….
Bên cạnh đó giúp học sinh có kĩ năng làm chủ bản thân, có trách nhiệm biết ứng xử
linh hoạt, hiệu quả và tự tin trong các tình huống giao tiếp hằng ngày, có suy nghĩ và
hành động tích cực, có quyết định đúng đắn trong so sánh, có quan hệ tích cực và hợp tác,
biết bảo vệ mình và người khác trước những nguy cơ ảnh hưởng đến sự an toàn và lành
mạnh của cuộc sống.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
a. Đối tượng nghiên cứu
- Các biện pháp nhằm nâng cao kết quả học tập phần truyện ngụ ngôn cũng như
cách tích hợp giáo dục Kĩ năng sống trong một tiết dạy truyện ngụ ngôn sao cho đạt hiệu
quả tốt đối với học sinh khối lớp 6 – trường THCS Phan Sào Nam – Phù Cừ - Hưng Yên.
b. Phạm vi nghiên cứu
- Khả năng tiếp nhận kiến thức trong các văn bản truyện ngụ ngôn đối với học sinh
lớp 6 – trường THCS Phan Sào Nam – Phù Cừ - Hưng Yên.
- Quá trình giảng dạy phần truyện ngụ ngôn, quá trình tích hợp nội dung này với
giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh của giáo viên Ngữ văn.
B. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Vấn đề tích hợp trong dạy học ngữ văn trung học cơ sở là một trong những nội
dung đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học trong chương trình sách giáo khoa
mới mà chúng ta đã thực hiện trong những năm qua. Tích hợp các nội dung giảng dạy đối
với các bộ môn khoa học xã hội là mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất của nội
dung – tư duy – tư tưởng, luôn tiềm ẩn và rất linh hoạt. Trong chương trình giảng dạy,
giáo viên Ngữ văn không chỉ cần có sự tích hợp nội dung kiến thức, kĩ năng của ba phân
môn Văn – Tiếng Việt – Tập làm văn mà còn phải tích hợp nội dung kiến thức, kĩ năng
- Trong những năm giảng dạy môn Ngữ Văn ở trường THCS Phan Sào Nam, vấn đề tích
hợp kĩ năng sống vào bộ môn không phải là điều mới mẻ, giáo viên đã và đang đứng lớp
cũng đã có thực hiện nhưng trong giai đoạn trước, bản thân người giáo viên chỉ thực hiện
theo cảm tính, chưa đi sâu vào nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Nhưng trong
thời gian gần đây, xác định được mục tiêu giáo dục cũng như Bộ giáo dục và Đào tạo
cũng đã phát động phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” nên
vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho học sinh được quan tâm hơn nhiều vì lứa tuổi học sinh
là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm
tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ
bị lôi kéo, kích động. Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường
hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu
cực, luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chon những giá trị, phải đương đầu với những
khó khăn, thách thức, những áp lực tiêu cực. Nếu không được giáo dục kĩ năng sống, nếu
thiếu kĩ năng sống, các em sẽ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực và lối sống ích
kĩ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách. Chính vì vậy vấn đề giáo
dục kĩ năng sống và tích hợp giáo dục Kĩ năng sống vào các môn học trong đó có môn
Ngữ Văn rất được quan tâm.
- Việc tổ chức giáo dục kĩ năng sống trong trường THCS được tiến hành thông qua môn
học (nội khoá, ngoại khoá), thông qua việc dạy học tự chọn, qua hoạt động ngoài giờ lên
lớp và hoạt động câu lạc bộ cũng không còn xa lạ với giáo viên bởi họ đã được làm quen
với cách thức tổ chức này (qua các đợt tập huấn tích hợp một số mặt giáo dục khác của
Sở giáo dục, Phòng giáo dục ). Đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho việc đưa
hoạt động giáo dục này vào nhà trường.
- Sự phối hợp chặt chẽ giáo dục kĩ năng sống với các hoạt động giáo dục vốn đã được
lồng ghép vào chương trình giáo dục từ nhiều năm nay như giáo dục bảo vệ môi trường,
phòng chống ma tuý, giáo dục pháp luật,… sẽ tạo nhiều cơ hội và điều kiện để triển khai
giáo dục kĩ năng sống;
- Nhìn chung hầu hết các giáo viên nói chung và giáo viên Ngữ Văn nói riêng đã bước
đầu làm quen với thuật ngữ “kỹ năng sống”, mặc dù mức độ hiểu biết có khác nhau.
khi lại rất khó lồng ghép Kĩ năng sống.
- Khi thực hiện nhiệm vụ lồng ghép giáo dục Kĩ năng sống vào các môn học, đặc biệt với
môn Ngữ văn, giáo viên còn gặp nhiều khó khăn (chưa có tài liệu cho giáo viên và học
sinh, kế hoạch thực hiện, tiêu chí đánh giá,…).
- Tổ chức giáo dục kĩ năng sống có những đặc thù riêng khác với các hoạt động giáo dục
khác, nội dung giáo dục không chỉ diễn ra trong môn học mà còn thông qua một số hoạt
động khác (hoạt động ngoài giờ lên lớp, câu lạc bộ,...) cho nên phải tính đến cơ sở vật
chất, kinh phí thực hiện, điều này cũng không dễ thực hiện.
- Thói quen chú trọng vào kiến thức mang tính lý thuyết của giáo viên sẽ là cản trở lớn
khi triển khai giáo dục kĩ năng sống, loại hình giáo dục nhằm tạo thói quen, thái độ, hành
vi ứng xử phù hợp với các tình huống của cuộc sống.
- Ðã có một vài dự án, đề tài nghiên cứu tổ chức tập huấn cho đội ngũ giáo viên cốt cán,
song nhìn chung đại bộ phận giáo viên chưa được tiếp cận với phương thức tiến hành
giáo dục kĩ năng sống một cách đầy đủ và bài bản.
3. Kết luận
Trước những yêu cầu hết sức thiết thực, bản thân tôi đang trực tiếp giảng dạy môn
Ngữ Văn 6, luôn trăn trở để làm sao từ những câu truyện ngụ ngôn quen thuộc, các em
học sinh không chỉ thấy được những bài học sâu sắc cho mình mà còn tự rút ra và rèn
luyện được những Kĩ năng sống cho bản thân một cách tốt nhất để các em có thể tự tin
thể hiện mình trước đám đông, biết cách xử lí các tình huống đơn giản hay phức tạp, thể
hiện khả năng tiềm ẩn của mình và phát triển một cách toàn diện trong xã hội năng dộng
và hiện đại ngày nay. Từ những kinh nghiệm của bản thân tôi trong quá trình thực hiện đề
tài, tôi mong muốn chia sẻ cùng đồng nghiệp nhằm đóng góp phần nào kinh nghiệm
giáo dục cho con em chúng ta trở thành những con người toàn diện, năng động, sáng tạo
hòa nhập cùng cộng đồng, và có ích cho xã hội.
III. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, lý luận
- Nhằm hệ thống hóa, khái quát hóa những vấn đề lý luận có tính liên quan đến khả năng
A. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1. Kiến thức: Qua đề tài, giúp các em nắm được:
- Khái niệm và những đặc trưng về nội dung và nghệ thuật đặc trưng nhất của
truyện ngụ ngôn.
- Nắm được nội dung, ý nghĩa, đặc điểm nhân vật cốt truyện và một số nét đặc sắc
nghệ thuật của truyện ngụ ngôn “ Ếch ngồi đáy giếng”, “ Thầy bói xem voi“, “Chân, tay,
tai, mắt, miệng” và “ Đeo nhạc cho mèo”.
- Học sinh cũng cần nắm được những khái niệm cơ bản về Kĩ năng sống, biết được
một số kĩ năng sống cần thiết, hiểu được giá trị và tác dụng của việc lồng ghép giáo dục
kĩ năng sống trong tiết học truyện ngụ ngôn để hợp tác cùng giáo viên trong giờ học.
2. Kĩ năng
- Học sinh rèn được kĩ năng đọc, kể lại truyện có diễn cảm.
- Biết cách tìm và phân tích những đặc điểm nội dung và nghệ thuật của ba truyện
ngụ ngôn đã học và đọc thêm.
- Biết cách tìm hiểu, phân tích những ngụ ý, bài học của truyện ngụ ngôn.
- Biết liên hệ các truyện đã học, đọc thêm với tình huống có thể xảy ra trong cuộc
sống để ứng xử kịp thời.
- Biết cách rút ra Kĩ năng sống cần thiết qua bài học và áp dụng kĩ năng sống vừa
học được vào thực tế cuộc sống.
- Từ việc hướng dẫn của giáo viên, với những truyện ngụ ngôn khác mà các em đọc
thêm được, bản thân các em cũng có thể rút ra các bài học giá trị và các kĩ năng sống cần
thiết cho mình.
3. Thái độ
- Tán thành với ý nghĩa của ba truyện ngụ ngôn đã học và đọc thêm.
- Thêm yêu truyện ngụ ngôn nói riêng và phần Văn học dân gian nói chung.
- Trân trọng những câu truyện ngụ ngôn đã được học và những kí năng sống học
được từ truyện ngụ ngôn ấy.
- Thấy được ý nghĩa của giáo dục kĩ năng sống, để từ đó có thái độ tích cực và hợp
- Học để sống với người khác (learning to live together): bao gồm các KN xã hội
như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự
cảm thông
- Học để làm: (Learning to do): KN thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: kỹ
năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm
- KNS bao gồm một loạt các kỹ năng cụ thể cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của
con người.
- Bản chất của KNS là KN làm chủ bản thân và KN xã hội cần thiết để cá nhân tự
lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả.
Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử
phù hợp với những người khác và với XH, khả năng ứng phó tích cực trước các tình
huống của cuộc sống.
+ Kĩ năng sống là tất cả các kĩ năng cần có giúp người ta có thể học tập, làm việc
có hiệu quả hơn, sống tốt hơn. Có hàng trăm kĩ năng sống khác nhau, tùy hoàn cảnh, môi
trường sống, điều kiện sống mà chúng ta cần dạy cho trẻ em những kĩ năng cần thiết khác
nhau.
Ví dụ trẻ em vùng Đồng bằng sông Cửu Long, cần dạy kĩ năng bơi lội, đi xuồng,
ghe… Trẻ em thành phố cần dạy các kĩ năng tự bảo vệ bản thân, phòng chống xâm hại
tình dục, kĩ năng từ chối ( khi được mời thử ma túy, đi quán Bar….)
c. Truyện ngụ ngôn
- Theo Văn học dân gian Việt Nam ( sách giáo trình Cao đẳng sư phạm – Nhà xuất bản
Giáo dục – 1998): truyện ngụ ngôn (hay ngụ ý) là một loại truyện dân gian mang tính
chất ngụ ý, nói bóng, hay ám chỉ ( phúng dụ) nhằm nêu lên những bài học triết lí, luân lí,
hay một kinh nghiệm sống dưới một hình thức kín đáo.
- Theo Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6, truyện ngụ ngôn là loại truyện kể bằng văn xuôi
hoặc văn vần, mượn chuyện về loài vật, đồ vật hoặc về chính con người để nói bóng gió,
kín đáo chuyện con người, nhằm khuyên nhủ, răn dạy người ta bài học nào đó trong cuộc
sống.
không chỉ hứng thú với bài mà còn có thêm một số kĩ năng, tạo được những sản phẩm
nhất định từ các kĩ năng học được. Tôi xin mạnh dạn trình bày một số phương pháp và
ứng dụng dạy một bài cụ thể:
1. Tìm hiểu về nguồn gốc truyện ngụ ngôn
Ngụ ngôn là một trong những thể loại tự sự cổ xưa nhất, ở Văn học dân gian của
mọi dân tộc đều có thơ hoặc truyện ngụ ngôn. Ngụ ngôn xuất hiện trước công nguyên
trong kho tàng văn hóa các dân tộc như Hy Lạp, Ấn Độ, Ai Cập, Trung Hoa... và xa xưa
nhất có thể tính đến là những tác phẩm ngụ ngôn nửa thực nửa truyền thuyết tương truyền
do Ezop sáng tác, có tầm ảnh hưởng sâu rộng sang cả vùng Trung Đông rồi ngược về
phương Tây với Panchatantra của Ấn Độ thế kỷ 3 trước công nguyên, Calila và Dimna
thế kỷ 8 ở Syrie, Arab; Stefanit và Ichnilat ở Byzance và Nga v.v. Một dòng khác tiếp tục
tồn tại ở đế chế La Mã, vùng Tây Âu thời trung đại với Romul bằng tiếng Latinh, Isopette
bằng tiếng Pháp, và cận đại với ngụ ngôn J. La Fontaine, K. F. Hellert, T. de Iriarte, L.
Holberg, I. Krasicki v.v.).
Ở Trung Quốc, ngụ ngôn cổ đại thâm nhập vào sách triết luận và chính luận của
"chư tử" như Trang Tử, Mạnh Tử, Hàn Phi Tử..., vào các truyện kể trung đại như Bình
thoại, Thoại bản và vào cả tiểu thuyết Đông Chu liệt quốc của Phùng Mộng Long.
Tuy ngụ ngôn tồn tại trong mọi nền văn hóa khắp thế giới nhưng ở những thời đại
văn hóa có sự chú trọng đặc biệt đến giáo huấn và phúng dụ, thì ngụ ngôn là thể loại
trung tâm, là chuẩn cho các thể loại khác, như văn xuôi răn dạy vùng Trung Đông (Cựu
ước, Lời răn bảo của Akhikar v.v.). Ở văn chương Thiên Chúa giáo và văn học Trung đại
(như ngụ ngôn trong Phúc âm với truyện đứa con hoang, người gieo hạt v.v.). Ở những
thời đại ấy, khi văn hóa đọc hiện diện một tâm thức tiếp nhận đặc thù: bất kỳ thiên truỵen
nào cũng được hiểu như ngụ ngôn, thì cái thống trị ở văn hóa ấy sẽ là thi pháp ngụ ngôn,
loại trừ tính miêu tả của văn xuôi cổ đại hay kiểu châu Âu cận đại; thiên nhiên và sự vật
chỉ được nhắc đến khi thật cần thiết, hành động xảy ra như không có bối cảnh; nhân vật
không có nét ngoại hình, tính cách, mà hiện ra như những chủ thể của sự lựa chọn đạo lý.
Từ cuối thế kỷ 19, một loạt nhà văn đã xem sự súc tích, kiệm lời của ngụ ngôn là
vật ra đời trên cơ sở đó. Khi con người có ý thức mượn truyện loài vật để nói về con
người thì truyện ngụ ngôn xuất hiện.
Truyện ngụ ngôn có liên quan đến cách nói bằng hình tượng của nhân dân. Trong
cách nói của mình, nhân dân thường dùng những sự vật cụ thể, những so sánh, ví von để
diễn đạt cái trừu tượng( chẳng hạn cách nói ngu như bò,nhanh như cắt...Khi lối nói tỉ dụ
về sự vật,con vật cụ thể nầy chuyển thành tỉ dụ có tính chất thế sự thì truyện ngụ ngôn ra
đời.
2. Nội dung, ý nghĩa của truyện ngụ ngôn
Mỗi truyện ngụ ngôn đều có hai loại nội dung: Nội dung trực tiếp ( nghĩa đen –
phần xác), nội dung gián tiếp ( nghĩa bóng – phần hồn). Nội dung ý nghĩa đích thực của
truyện ngụ ngôn là phần hồn – nghĩa bóng chứ không phải là phần xác, phần nghĩa đen
của truyện. Căn cứ vào nghĩa bóng ( phần hồn), có thể quy truyện ngụ ngôn của người
Việt vào hai bộ phận chính. Bộ phận thứ nhất gồm những truyện thiên về việc phản ánh,
nhận xét đặc điểm tính cách của các loại người khác nhau trong xã hội phong kiến. Bộ
phận thứ hai gồm những truyện thiên về việc nêu lên những bài học luân lí, triết lí, những
kinh nghiệm sống sâu sắc, giàu ý nghĩa. Có thể cụ thể nội dung, ý nghĩa của truyện ngụ
ngôn như sau:
a.Truyện ngụ ngôn có nội dung đả kích giai cấp thống trị.
Truyện ngụ ngôn được nhân dân dùng làm vũ khí đấu tranh chống giai cấp thống
trị. Bộ phận truyện này nêu lên được những nhận xét sâu sắc về tầng lớp thống trị trong
xã hội cũ: đó là thói ngang ngược của kẻ quyền thế ( Khi chúa sơn lâm ngọa bệnh, Đeo
nhạc cho mèo ), tội cướp của hại người(Chèo bẻo và ác là ) thói đạo đức giả của chúng
(Mèo ăn chay ).
b . Truyện ngụ ngôn phê phán thói hư tật xấu của mọi người.
Truyện ngụ ngôn cũng là tiếng nói giáo dục, phê bình nhắm vào các thói hư tật xấu
của con người như: thói huênh hoang đi kèm với bệnh chủ quan (Ếch ngồi đáy giếng) ,
tính tham lam vô độ ( Người nông dân và con lừa, Thả mồi bắt bóng ), thói đoán mò của
người kém hiểu biết ( Cà cuống với người tịt mũi, Thầy bói xem voi ), thói thay lòng đổi
Nhìn bề ngoài, các con vật trong truyện ngụ ngôn không khác các con vật trong
truyện cổ tích loài vật: chúng cũng biết nói tiếng người, có khả năng ứng xử, có tâm tính
như người và cũng có đủ cả thú, chim, cá, côn trùng… Nhưng xét kĩ hơn sẽ thấy sự khác
biệt.
- Một là, khác biệt về bản thân đối tượng (đối tượng miêu tả hay đối tượng kể
chuyện).
Các con vật trong truyện cổ tích ít nhiều có liên quan đến cuộc sống của chủ nhân
nguồn truyện kể. Con vật trong truyện cổ tích được phân loại cụ thể nhằm mang ý nghĩa
nào đó (người nghiên cứu có thể thông qua sự phân loại đó để xác định những truyện của
người đi săn, người làm ruộng hay người chăn nuôi). Ví dụ: Sự tích con khỉ cho ta biết
truyện kể của loại người trưởng giả, Con voi với người quản tượngcho biết về cuộc sống
của người chăn nuôi…
Các con vật trong truyện ngụ ngôn được chọn lựa theo tiêu chí hoàn toàn khác. Đó
có thể là bất cứ con vật nào, có thể không liên quan gì đến cuộc sống của con người. Việc
phân loại các con vật trong truyện ngụ ngôn không có ý nghĩa cụ thể nào. Nếu có cũng
chỉ mang tính hình thức. Ví dụ: truyện Con cáo, Muỗi và sư tử…
- Hai là, khác biệt về thái độ đối với đối tượng.
Trong truyện cổ tích về loài vật, người kể và người nghe có thể thể hiện tình cảm yêu
ghét rõ rệt đối với con vật, cũng như thể hiện tình cảm với nhân vật trong cổ tích thần kì
và cổ tích sinh hoạt. Ví dụ: truyện Chú thỏ thông minh, lừa được bao nhiêu thú dữ, lại có
thể xử kiện một cách tài tình mà không quan tòa nào xử được. Người đọc sẽ cảm phục
chú thỏ thông minh vô đối này và thỏa mãn vì cách xử lí tình huống nhanh nhạy của thỏ.
Đối với các con vật trong truyện ngụ ngôn, phản ứng của con người ta thể hiện ở mặt
lí trí, suy lí hơn là cảm xúc, tình cảm. Ví dụ: truyện Con thỏ, trong lúc gặp nạn nguy cấp,
thỏ vẫn đủ thời gian và lí trí để tự rút cho mình và cũng cho mọi người bài học. Câu
truyện kết thúc không để lại tình cảm đặc biệt nào cho người đọc. Người đọc không cảm
thấy thương tiếc cho chú thỏ nhút nhát bị nạn. Người ta suy nghĩ về câu chuyện nhiều
hơn là cảm xúc mà câu chuyện mang lại.
- Ba là, khác biệt ở nội dung miêu tả hay kể chuyện.
nào đó. Xung đột không có quá trình hình thành, nó chỉ diễn ra trong một hành động. Đặc
trưng này tạo nên kiểu kết cấu tiêu biểu một màn kịch của truyện ngụ ngôn. Nó gần giống
như quy tắc “tam duy nhất” của kịch cổ điển.
Nét đặc trưng của kiểu kết cấu này:
- Tình huống, hoàn cảnh được chỉ dẫn cụ thể .
- Nhân vật được miêu tả sắc nét.
- Đối thoại hoặc độc thoại hàm súc, hành động diễn ra mau lẹ.
Ở đặc trưng kết cấu này truyện ngụ ngôn có vẻ gần với truyện cười. Tuy nhiên, theo
La Phôngten, truyện ngụ ngôn gồm phần xác (câu chuyện) và phần hồn (điều răn dạy).
Có đôi khi điều răn dạy được diễn tả thành lời, tức là dựa theo quan niệm của La
Phôngten thì phần “hồn” được “hiện ra” bên ngoài xác.
Tác giả Đông Tây ngụ ngôn nêu nhận xét bao quát về những kiểu kết cấu này: “Các
nhời quy trâm, khi thì ăn luôn theo vào bài, chỉ như gợi cái đại ý ra; khi thì đứng lìa rời
hẳn ra ngoài như để thúc kết lại; lúc thì dàn ngay trên đầu bài như nhời giáo đầu; lúc thì
dồn ở dưới cuối như cái khung đóng bài vậy. Có nhiều nhời trâm quy có thể lấy ra mà
dùng như những câu tục ngữ, ca dao được…”. Với những nội dung đụng chạm nhiều đến
giai cấp, kiểu truyện ngụ ý không được “diễn tả bằng lời” được sử dụng triệt để và cũng
là kiểu truyện gốc của ngụ ngôn.
Về kết cấu, nói đến ngụ ngôn dân gian, nói đến tính chất vừa kín đáo, hàm súc, vừa
hồn nhiên, sinh động, ta thường nghĩ ngay đến những bài ca dao ngụ ngôn và những câu
tục ngữ có ý vị ngụ ngôn (mật ngọt chết ruồi, giậu đổ bìm leo, thừa nước đục thả câu…).
Kết cấu hàm súc của truyện ngụ ngôn đã tự tạo cho nó đầy đủ ý nghĩa mà không ai
có thể di dịch hay bình phẩm được nữa, chỉ có thể từ đó rút ra bài học.
3.3. Nghệ thuật Ẩn dụ
Truyện ngụ ngôn thường dùng những ẩn dụ thông qua ngôn ngữ hàm súc. Tác giả
dân gian còn miêu tả đặc điểm phổ biến của các con vật để biểu trưng cho con người .
Từng con vật tiêu biểu cho từng loại người trong xã hội. Chẳng hạn, cáo xảo quyệt, mèo
giả dối ...
Xung đột trong truyện ngụ ngôn cũng có thể phản ánh cái tốt và cái xấu trong xã hội.
Sự đúng sai thông thường không phải là đặc trưng ở một giai cấp nào nên việc đi tìm
đúng sai sau những hành vi ứng xử của nhân vật ngụ ngôn là không nhất thiết.
3.5. Thực tại và hư cấu trong truyện ngụ ngôn.
Truyện cổ tích về loài vật có sự đan xen giữa thực tế và hư cấu. Ở truyện ngụ ngôn
câu truyện kể hoàn toàn là sản phẩm của trí tưởng tượng. Hư cấu ngụ ngôn là hư cấu chịu
sự chi phối của tư duy suy lí. Tức là câu truyện được kể có sự chọn lọc trong việc chọn
lựa nhân vật, hoàn cảnh sao cho phù hợp với ý tưởng có sẵn. Truyện ngụ ngôn không
sáng tạo ra cả thế giới nghệ thuật mà chỉ đặt ra câu chuyện để minh họa cho ý tưởng của
mình. Dù trong truyện ngụ ngôn có xuất hiện con người làm ta liên tưởng đến một sự
kiện thực tế, hiện tượng thực tế thì đó cũng không phải là một hiện tượng thực tế cụ thể
mà chỉ là một loại hiện tượng thực tế.
Nói như vậy không có nghĩa là truyện ngụ ngôn hoàn toàn không dựa trên tính xác
thực. Xét trên góc độ nào đó ta vẫn có thể ít nhiều hiểu biết về những đặc tính của các
con vật và về tâm lí, tính cách con người. Tác giả ngụ ngôn chỉ dựa vào một mặt nào đó
của sự việc trong thực tế để từ đó xây dựng nên câu chuyện cho phù hợp với ý tưởng
muốn gởi gắm.
3.6. Lời kể trong truyện ngụ ngôn dân gian.
Lời kể trong truyện ngụ ngôn dân gian có thể được tóm gọn trong hai đặc điểm:
- Có tính chất cô đúc như những lời châm quy.
- Có tính chất châm biếm trong giọng điệu lời kể.
Đối với truyện ngụ ngôn, nó đã phản ánh con đường thực tế để nhận ra chân lí cuộc sống:
chân lí có thể được rút ra từ kinh nghiệm, từ hoạt động thực tiễn, từ những sai lầm, thất
bại và từ cuộc đấu tranh với ngụy lí. Truyện ngụ ngôn, nhất là ngụ ngôn dâ gian, thường
không ban phát chân lí. Đó có thể là cơ sở và ý nghĩa của tính chất châm biếm trong
giọng điệu truyện ngụ ngôn.
4. Tìm hiểu các truyện ngụ ngôn đã học ở Ngữ văn 6
4.1: Truyện Ếch ngồi đáy giếng
b. Bài học
Từ chuyện “xem voi” của năm ông thầy bói, tác giả dân gian muốn nhắn gửi tới
người nghe một bài học:
- Muốn hiểu đúng về bản chất các sự việc, hiện tượng trong thế giới xung quanh, cần xem
xét toàn diện, tranh thái độ chủ quan, phiến diện.
- Phải có cách xem xét sự vật phù hợp với sự vật đó, phù hợp với mục đích xem xét để có
kết luận chính xác.
4.3: Truyện Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng
a. Đặc điểm nội dung và nghệ thuật
- Qua câu chuyện về sự bất hòa giữa năm nhân vật: Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng tác giả
dân gian muốn nêu ra bài học: Trong một tập thể mỗi thành viên không thể sống tách biệt
mà phải nương tựa vào nhau, gắn bó với nhau để cùng tồn tại. Do đó phải biết hợp tác với
nhau và tôn trọng sức lao động của nhau.
- Tác giả khéo léo tưởng tượng ra câu chuyện về mối quan hệ gữa các bộ phận trong cơ
thể để nêu ra bai học có ý nghĩa.
- Cách kể chuyện sinh động, hấp dẫn, sự quan sát, miêu tả đúng với đặc điểm từng bộ
phận của cơ thể.
b. Bài học
Câu chuyện về mỗi bất hòa giữa các bộ phận trong cơ thể là một câu chuyện có ý nghĩa
sâu sắc. Các nhân vật trong truyện chính là những sáng tạo nghệ thuật đặc sắc về mối
quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, giữa các cá thể với tập thể ( ở đây lại là một tập thể
gắn bó mật thiết, chặt chẽ với nhau). Qua truyện, tác giả dân gian giúp người nghe thấy
được:
- Ở đời, mỗi người có một vị trí, vai trò riêng trong cộng đồng. Tuy khác nhau về nhiệm
vụ nhưng tất cả đều có mỗi liên hệ, gắn bó chặt chẽ với nhau.
- Trong cộng đồng, quan hệ giữa các thành viên vừa là bổ sung vừa là hỗ trợ cho nhau
nên không được ghen tị hay coi thường công sức của người khác. Nếu ghen tị, có thể hại
mình và hại tập thể.
- Trải nghiệm: Người học cần được đặt vào các tình huống để trải nghiệm và thực hành.
- Tiến trình: Giáo dục KNS không thể hình thành trong “ngày một, ngày hai” mà đòi hỏi
phải có cả quá trình:
Nhận thứchình thành thái độ thay đổi hành vi
- Thay đổi hành vi: Mục đích cao nhất của giáo dục KNS là giúp người học thay đổi hành
vi theo hướng tích cực.
- Thời gian: Giáo dục KNS cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng
tốt đối với trẻ em.
6. Các kĩ năng sống cơ bản
6.1. Kĩ năng giao tiếp
- Là kỹ năng làm việc có hiệu quả với một tập thể, cá nhân; ứng xử của mỗi người khi
tiếp xúc với người khác; thái độ cảm thông và ý thức hợp tác của mỗi người; khả năng
bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc đối với người khác.
6.2. Kỹ năng tự nhận thức bản thân
Là khả năng hiểu về chính bản thân mình: khả năng, sở thích, sở trường, điểm yếu..
ý thức được mình đang làm gì.
Tác dụng : Giao tiếp , ứng xử phù hợp, hiệu quả với người khác, cảm thông với
mọi người, có quyết định đúng đắn phù hợp với bản thân.
6.3. Kỹ năng xác định giá trị:
Giá trị là những gì con người cho là quan trọng ( Về vật chất, tinh thần) KN xác
định giá trị là khả năng con người hiểu rõ những giá trị của bản thân mình
Tác dụng : Tôn trọng giá trị của mọi người; có quyết định đúng đắn phù hợp với
bản thân.
6.4. Kỹ năng suy nghĩ sáng tạo
Cách thức, phương pháp tự tư duy độc lập để tìm ra giải pháp tối ưu trong các tình
huống cuộc sống.
Cách tạo ra suy nghĩ sáng tạo:
+ Tổng hợp từ tri thức và kinh nghiệm của cuốc sống
- Kỹ năng hợp tác là kỹ năng cần thiết của mỗi cá nhân, được hình thành trong quá trình
tham gia hoạt động trong một nhóm (có thể từ 2 người trở lên) để cùng nhau hoàn thành
một công việc.
- Mỗi cá nhân đều có mặt mạnh riêng. Sự hợp tác trong nhóm giúp mỗi cá nhân đóng góp
năng lực, sở trường riêng cho lợi ích chung của nhóm, đồng thời học tập và chia sẻ kinh
nghiệm được từ các thành viên khác.
6.11. Kĩ năng từ chối
- Là nghệ thuật nói không với những điều người khác đề nghị nhưng bản thân mình
không thích, không muốn và không có khả năng thực hiện nhưng lại không làm tổn
thương lớn đến mối quan hệ vốn có.
6.12. Kĩ năng thương lượng
* Một số nguyên tắc trong thương lượng
- Cần tự tin.
-
Nêu câu hỏi nếu có thắc mắc.
-
Nên cung cấp thông tin.
-
Gợi ra những khoản nhân nhượng có đi có lại.
-
Đưa ra những dự kiến của mình.