MỘT số KINH NGHIỆM TRONG GIÁO dục sức KHOẺ SINH sản vị THÀNH NIÊN CHO học SINH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ lên lớp - Pdf 34

PHẦN MỞ ĐẦU
* Lý do chọn đề tài: Ước tính mỗi năm trên thế giới có khoảng 16 triệu
nữ tuổi từ 13 đến 18 có thai, 95% trong số này tập trung ở các quốc gia có thu
nhập trung bỡnh hoặc thu nhập thấp trong đó có Việt Nam. “Cơn bão” văn hóa
phẩm đồi trụy xâm nhập vào Việt Nam nhưng giới trẻ chưa được trang bị đầy đủ
kiến thức về giới tính, nhiều trẻ bước vào đời sống “chăn gối” trong độ tuổi vị
thành niên. Thực tế này khiến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có
tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới trong những năm gần đây. Theo thống kê tại ba
bệnh viện công thuộc TPHCM gồm: Từ Dũ, Hùng Vương và Trung tâm chăm
sóc sức khỏe sinh sản, trong năm qua tỷ lệ nữ ở tuổi vị thành niên có thai đến
khám tại đây chiếm 4% trong số các trường hợp có thai. Trong số 90.649 ca sinh
thì có tới 2.434 sản phụ tuổi vị thành niên, 60.352 ca phá thai thì có 3.471
trường hợp nữ tuổi vị thành niên (chiếm 5,81% tổng số ca phá thai).
Qua nghiên cứu việc xác định tỷ lệ tuổi nữ vị thành niên có thai và các
yếu tố nguy cơ, cho thấy trẻ vị thành niên quan hệ tình dục sớm dẫn đến có thai
là do thiếu kiến thức về sức khỏe sinh sản, không áp dụng hoặc áp dụng không
thường xuyên các biện pháp tránh thai.
Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng trên phần lớn là do nữ
vị thành niên thiếu sự quan tâm của gia đình, nhà trường. Các phụ huynh còn
khá dè dặt trong việc trao đổi với con em mình về sức khỏe sinh sản, đùn đẩy
trách nhiệm cho nhà trường. Trong khi đó, chương trình học chính khóa đã quá
dày nên việc giáo dục chăm sóc sức khỏe sinh sản cho trẻ vị thành niên ở trường
chỉ mang tính phong trào. Những nguyên nhân khách quan và chủ quan nói trên
đẩy trẻ vị thành niên vào thế “tự tìm hiểu”.
Riêng ở Việt Nam, mỗi năm có từ 1,2 đến 1,4 triệu trường hợp nạo phá
thai, trong số này có khoảng 300.000 là nữ thanh niên chưa có gia đỡnh. So với
các nước trong khu vực, tỷ lệ nạo phá thai ở nước ta là quá cao. Điều này khụng
những chỉ tốn kộm về kinh tế, vật chất mà cũn đem lại những hậu quả nặng nề
về mặt sức khoẻ cho trẻ vị thành niên.

1

tồn tại, phát triển của mỗi gia đình, mỗi dân tộc. Vì vậy, nếu trẻ vị thành niên
được bắt đầu cuộc sống một cách tốt đẹp, họ có thể có được một sức sống và

2


một ý chí để học tập, để lao động. Ngược lại, nếu họ mắc sai lầm trong thời kỳ
này thì sẽ bị tổn thương lớn về thể chất, tinh thần mà có thể không bao giờ hồi
phục lại được.
Tóm lại, tuổi vị thành niên là giai đoạn quan trọng để hình thành tính cách
và bản sắc. Đây cũng là giai đoạn nhiều thanh thiếu niên tham gia vào cuộc sống
xã hội và cú đóng góp dưới nhiều hình thức khác nhau. Đối với những thách
thức của cuộc sống hiện nay mà các em đang gặp phải, không có lời giải đơn
giản hay biện pháp tác động đơn lẻ nào có thể đối phó được. Các em cần được
sống an toàn, cần sự hỗ trợ và giúp đỡ của người lớn. Xã hội có nhiệm vụ dẫn
dắt và hỗ trợ thế hệ trẻ qua những năm tháng ở tuổi Trẻ vị thành niên với sự đối
xử tôn trọng và thông cảm. Khi xã hội hoàn thành tốt trách nhiệm này sẽ đem lại
lợi ích to lớn cho tương lai.

PHẦN NỘI DUNG

3


CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA GIÁO DỤC SỨC KHOẺ SINH SẢN
VỊ THÀNH NIÊN CHO HỌC SINH
1: Cơ sở lý luận: Khi được khuyên bảo và tư vấn, trẻ vị thành niên sẽ
được trang bị tốt hơn để ứng phó một cách thích hợp trước những tình huống bị
lạm dụng, bị đe doạ, bị đối xử bất công. Các em có thể biết cách để thoát khỏi

- Giai đoạn cuối vị thành niên tương đương với lứa tuổi đầu thanh niên:
Nam từ 17 - 19 tuổi, nữ từ 16 - 18 tuổi.
Trẻ em bước vào tuổi vị thành niên bằng những dấu hiệu của tuổi dậy thì.
Tuổi dậy thỡ đối với nữ được tính từ khi xuất hiện kinh nguyệt lần đầu tiên
(khoảng 13 - 14 tuỏi), cũn đối với nam kể từ khi xuất tinh lần đầu tiên (khoảng
14 - 15 tuổi). Tuổi dậy thì cũn tuỳ thuộc vào dõn tộc (chõu Á sớm hơn châu Âu),
nơi sinh sống (thành thị sớm hơn nông thôn), mức sống (bây giờ sớm hơn trước
đây).
Các nhà Dân số học cho biết, ngày nay đối với toàn thế giới tuổi dậy thỡ
đến sớm hơn nhiều: nữ lên 10, nam 12 - 13, trường hợp cá biệt có thể đến sớm
hơn hoặc muộn hơn bình thường.
Tuổi dậy thì là tuổi có khả năng sinh sản, nhưng cơ thể các em vẫn ở vào
tuổi vị thành niên nghĩa là chưa chín muồi về sinh dục, chưa ổn định về mặt tâm
sinh lý và chưa thể làm cha, làm mẹ được. Vì vậy, chúng ta phải giáo dục sức
khoẻ sinh sản, tạo điều kiện cho các em vị thành niên qua được giai đoạn khủng
hoảng của tuổi dậy thỡ để trở thành người lớn thực sự.
Bước vào tuổi dậy thì, tuyến yên tiết ra những lượng lớn hormone FSH
(follicle stimulating hormone) và hormone LH (lutein hormone) có tác dụng
kích thích hoạt động của buồng trứng (nếu là nữ), tinh hoàn (nếu là nam). Khi
nhận được lệnh của tuyến yên, buồng trứng của nữ giới tăng cường sản xuất 2
hormone là estrogen và progesteron; còn tinh hoàn của nam giới sẽ sản xuất
hoocmon testosterone. Cỏc hormone này khiến cho cơ thể có những biến đổi
sinh học cả bên trong và bên ngoài thật kỳ diệu: biến đổi nhanh về vóc dáng cơ
thể, cơ quan sinh dục phát triển, các đặc điểm giới tính khác như lông, râu, ngực
trở nên rừ rệt, các em gái bắt đầu có kinh nguyệt, em trai có hiện tượng xuất

5


tinh. Sự phát triển đó đưa trẻ bước vào một cuộc sống mới của tuổi vị thành


động NGLL. Nhà trường có một tập thể sư phạm đoàn kết, nhất trí cao, các tổ
chức trong trường như: Công Đoàn, Đoàn thanh niên, Hội Chữ Thập Đỏ, Hội
khuyến học… đó phối hợp chặt chẽ, là những tổ chức vững mạnh. Cỏc hoạt
động tập thể như: Thể dục thể thao, văn hoá văn nghệ luôn đứng đầu các trường
trong huyện và cấp Tỉnh.
+ Khó khăn: Là một trường miền núi nên cơ sở vật chất, nhưng vẫn chưa
đáp ứng đầy đủ theo yêu cầu giảng dạy và học tập. Số học sinh mới tuyển chất
lượng giữa các vùng miền trong huyện không đồng đều, học sinh là người dân
tộc thiểu số như: Mường, Dao, Kinh,Thái.. phần nào đó gõy khú khăn việc hoà
đồng của cỏc em HS trong quỏ trỡnh tổ chức cỏc hoạt động NGLL
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) là những hoạt động
giáo dục được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hoá. Đây là những hoạt động
nối tiếp các hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp. Nói một cách hình ảnh thì
HĐGDNGLL là chiếc cầu nối giữa công tác giảng dạy trên lớp với công tác giáo
dục học sinh ngoài lớp.
HĐGDNGLL là một bộ phận bắt buộc trong kế hoạch dạy học ở trường phổ
thông đã được Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành, là một nội dung trong công
tác quản lý của các cấp chỉ đạo và quản lý giáo dục. HĐGDNGLL có quan hệ
chặt chẽ với hoạt động dạy học, tạo điều kiện gắn lý thuyết với thực hành, thống
nhất giữa nhận thức và hành động, góp phần quan trọng vào sự hình thành và
phát triển nhân cách toàn diện của học sinh trong giai đoạn hiện nay.
HĐGDNGLL là dịp đề học sinh củng cố kiến thức đã học trên lớp, biến tri
thức thành niềm tin ở mỗi học sinh. Đây là điểm rất cơ bản của HĐGDNGLL,
khác với hoạt động ngoại khoá môn học.
HĐGDNGLL là cơ hội cho mỗi học sinh có thể tự so sánh bản thân mình
với những người khác, kích thích các em vươn lên trong quá trình giáo dục. Vì
vậy HĐGDNGLL sẽ phát triển tối đa năng lực, nhu cầu và thiên hướng của học
sinh.
HĐGDNGLL phát huy cao độ tính chủ động, tích cực của tập thể học sinh

Về kiến thức:
- Học sinh hiểu được ý nghĩa của sự gia tăng dân số có ảnh hưởng tới sự
phát triển kinh tế xã hội, tới môi trường sống và chất lượng cuộc sống.
- Hiểu rõ vai trò của gia đình trong giáo dục thanh thiếu niên, trách nhiệm
của vị thành niên trong quan hệ gia đình và cộng đồng.

8


- Hiểu được trách nhiệm của giới trong việc thực hiện sự bình đẳng giới,
sự khác nhau giữa vai trò của nam giới và nữ giới.
- Nâng cao hiểu biết về quan hệ tình dục an toàn và không an toàn; tác
dụng của những biện pháp tránh thai và hậu quả của việc phá thai.
- Hiểu rõ quyền của vị thành niên, khắc sâu những kiến thức về tình bạn,
tình bạn khác giới ở tuổi vị thành niên.
- Nắm được những yếu tố ảnh hưởng tới sức khoẻ vị thành niên, hậu quả
của các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Về kỹ năng:
- Có kĩ năng tuyên truyền, vận động gia đình, cộng đồng thực hiện chính
sách DS - KHH GĐ của Đảng và Nhà nước.
- Biết cách ứng xử có văn hoá trong quan hệ tình bạn, tình bạn khác giới.
- Có kỹ năng sống, luyện tập thể thao để tăng cường sức khoẻ.
Về thái độ:
- Có thái độ đúng đắn trong quan hệ tình bạn, tình bạn khác giới để không
ảnh hưởng tới cuộc sống gia đình; biết tôn trọng và yêu quý mọi người trong gia
đình, bảo vệ và tôn trọng người cùng giới, khác giới.
- Kiên quyết đấu tranh với những thái độ và hành vi thô bạo, thiếu văn
hoá trong quan hệ tình bạn, có nguy cơ xâm hại tình dục.
Nội dung :
Giáo dục SKSSVTN được coi là một nội dung giáo dục quan trọng trong

- Tháng 1: Thanh niên với việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
- Tháng 6+7+8: Mùa hè tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng.
Nội dung giáo dục SKSSVTN được đề cập khá rõ nét trong nội dung hoạt
động của các chủ đề này. Có những chủ đề hoạt động có nội dung gần như trùng
hoàn toàn với nội dung giáo dục SKSSVTN như chủ đề tháng 10. Những chủ đề
hoạt động của các tháng 12, tháng 1 và hè đều có khả năng tích hợp được nội
dung giáo dục SKSSVTN vào nội dung hoạt động của mình. Cụ thể là:
- Chủ đề tháng 10 bao gồm các nội dung và hình thức hoạt động như: Thi
hỏi đáp về tình bạn, tình yêu và gia đình; Hội thi “Những người bạn gái đáng
mến”; thi ứng xử linh hoạt; diễn đàn thanh niên “Vẻ đẹp trong tình bạn và tình
yêu”; hoạt động tư vấn tâm lý lứa tuổi; tìm hiểu Luật hôn nhân và gia đình; tiểu
phẩm về tình bạn và tình yêu.

10


- Chủ đề tháng 12 với nội dung hoạt động “Thanh niên và nhiệm vụ
phòng chống tệ nạn xã hội”.
- Chủ đề tháng 1 với các nội dung và hình thức hoạt động như: Đóng kịch
dựa trên các tình huống giả định; Hội hoá trang thanh niên các dân tộc trên đất
nước Việt Nam.
- Chủ đề hè với các hình thức hoạt động của câu lạc bộ dân số, hoạt động
tuyên truyền cổ động, hoạt động tham quan dã ngoại v.v.... đều phản ánh được
nội dung của giáo dục SKSSVTN.
Từ những nội dung hoạt động của các tháng nêu trên, có thể thấy rõ nội
dung giáo dục SKSSVTN trong HĐGDNGLL tập trung ở những vấn đề cơ bản
sau đây:
+ Tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình.
+ Tình dục và sinh sản, tránh thai và nạo phá thai.
+ Vị thành niên và sức khoẻ vị thành niên.

bạn

đáng mến”.

bạn và tình yêu.

gái - Hoạt động tư
vấn tâm lý lứa

- Thi ứng xử linh tuổi.
11


hoạt.
Tháng 12: Thanh Thanh

niên



niên với sự nghiệp nhiệm vụ phòng
xây dựng và bảo chống tệ nạn xã
vệ Tổ quốc.
hội.
Tháng 1: Thanh - Hội thi “Nét đẹp Đóng

kịch

dựa Hội hoá trang thanh



- Hoạt động tham quan dã ngoại
- v.v....

Như vậy, ở cả ba lớp của THPT, nội dung giáo dục SKSSVTN đều được
quán triệt vào trong nội dung của chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp.
Các chủ đề giáo dục SKSSVTN vị thành niên được tích hợp một cách hợp
lý vào những chủ đề hoạt động có nhiều khả năng nhất. Trong mỗi chủ đề hoạt
động sẽ có những hình thức hoạt động có khả năng tích hợp giáo dục SKSSVTN
nhiều hơn cả.
2: Một số hình thức giáo dục SKSSVTN thông qua HĐGDNGLL:
Chương trình HĐGDNGLL ở THPT với nhiều hình thức hoạt động đa dạng
được thể hiện trong các chủ đề hoạt động của các tháng. Như trên đã nêu, việc
tích hợp nội dung giáo dục SKSSVTN vào chương trình HĐGDNGLL được thể
hiện ở một số chủ đề hoạt động của các tháng: 10, 12, 1 và ba tháng hè. Đây là
những thời điểm có nhiều khả năng tích hợp nội dung giáo dục SKSSVTN trong
chương trình HĐGDNGLL. Cùng với các hình thức hoạt động đã có trong
chương trình HĐGDNGLL, cần phải xây dựng những hình thức hoạt động mang

12


đặc trưng của giáo dục SKSSVTN. Có thể kể ra đây một vài hình thức cụ thể
như:
- Thi hỏi đáp về một chủ đề giáo dục SKSSVTN
- Trình diễn trang phục có liên quan đến nhận thức, thái độ của học sinh
về chăm sóc SKSS
- Thi giải quyết các tình huống có liên quan đến quan hệ tình bạn, tình yêu
tuổi học trò

Loại TB
33.4%
12.6%
19.86%
7.44%
11%
7.8%

Loại yếu
0.9%
0.7%
0.2%

13


CHƯƠNG III
TÝch hîp gi¸o dôc SK SSVTN vµo ch¬ng tr×nh
H§GDNGLL ë trêng THPT
CHỦ ĐỀ THÁNG 10
THANH NIÊN VỚI TÌNH BẠN- TÌNH YÊU- GIA ĐÌNH
I: MỤC TIÊU HOẠT ĐỘNG: giúp học sinh
- Hiểu rõ hơn về tình bạn, tình bạn khác giới và tình yêu ở tuổi học trò. Các em
có quyền được tự do, được bảo vệ các mối quan hệ đó ở lứa tuổi vị thành niên.
- có ý thức xây dựng một tình bạn trong sáng và tự hào về tình bạn trong sáng
của mình.
- Có cách ứng xử đúng mực trong quan hệ tình bạn, đặc biệt là tình bạn khác
giới và tình yêu.
II: NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG:
Tổ chức cho các tổ trong lớp thi và tìm hiểu về tình bạn,. tình yêu với các nộ

Dẫn
- Cả lớp xem băng hình (bài hát tình thơ).
chương

- Trong đời sống tình cảm cá nhân, tình bạn tình yêu giữ một vị

trình 1

trí quan trọng, nó là nền tảng căn bản của cuộc sống con người,

Thời
gian

đồng thời phản ánh vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách của mỗi con
người góp phần nâng giấc thanh lọc tâm hồn, bồi dưỡng nuôi
dưỡng những giấc mơ đẹp, làm cho cuộc sông.
- Tình bạn tình yêu là những cung bậc tình cảm mang đậm giá
trị nhân bản, nhân văn. Nói về tình bạn có câu:
“ Sống trên đời mà không có bạn chẳng khác nào hạn không
mưa”.
Còn về tình yêu, Ông Hoàng của thơ tình - Xuân Diệu từng
khẳng định: “ làm sao sống được mà không yêu
Không nhớ, không thương một kẻ nào”
Dẫn

Có thể nó đè tài tình bạn, tình yêu đã trở nên quen thuộc,

chương

trở thành vấn đề muôn thuở của nhân loại, những biểu hiện

Vị giám khảo số 2: …………

Dẫn
chương
trình 1
Dẫn

Vị giám khảo số3: …………..
- Ban thư kí: Số 1:………….
Số 2:…………
- Sau đây xin được vui mừng chào đón nhân vật chính ngày

chương hôm nay. Ba đội chơi đó là: Đội Tuổi trẻ
trình 2

Đội Tình bạn
Đội Tình yêu

Dẫn
chương
trình 1
Dẫn

Xin mời ban giám khảo cùng 3 đội chơi lên vị trí
- Chúng ta chờ phần giới thiệu của ba đội.
(phỏng vấn từng đội)
- Thưa thầy giáo chủ nhiệm và các ban trong lớp. Có lẽ chúng

chương ta cùng có chung tâm trạng hồi hộp, chời diễn biến của cuộc
trình 2

Ba đội vừa hoàn thành suất sắc phần thi của mình. Sau đây là

chương phầnđánh giá của BGK giành cho 3 đội
trình +

Đội Tuổi trẻ

….. điểm

BGK+

Đội Tình bạn

….. điểm

TK

Đội Tình yêu

…... điểm

Xin cảm ơn BGK!
Chúng ta vừa trải qua phần thi thứ nhất với sự trả lời xuất sắc

Dẫn

chương của 3 đội. Sau đây chúng ta cùng đến với một sáng tác của nhạc
trình 1

sĩ Vũ Hoàng- Bài “ Phượng hồng”

- Phần giao lưu với khán giải:
Ba đội vừa hoàn thành suất sắc phần thi của mình. Sau đây là
Dẫn

phầnđánh giá của BGK giành cho 3 đội

chương

Đội Tuổi trẻ

….. điểm

trình 1

Đội Tình bạn

….. điểm

Đội Tình yêu

…... điểm

Dẫn
chương

Xin cảm ơn BGK và chúc mừng 3 đội
- sau đây ta sẽ đến với một tiết mục văn nghệ qua sự trình bày
của tốp ca lớp 10A bài hát “ Tia nắng hạt mưa”

trình 2

động, giàu hình ảnh, giọng điệu hùng hồn, phong cách chững
chạc….. thời gian hùng biện là 3 phút, điểm tối đa là 30 điểm.
(Ba đội hùng biện theo thứ tự)
Sau đây xin mời phần đánh giá của ban giám khảo dành cho 3
đội ở phần thi này:

Đội Tuổi trẻ

….. điểm

Dẫn

Đội Tình bạn

….. điểm

chương

Đội Tình yêu

…... điểm

trình+BG Tổng điểm 3 phần thi của 3 đội là:
K +3đội

Đội Tuổi trẻ ….. điểm

20



Trả lời:
1/
- Đã yêu nhau thì việc có quan hệ tình dục trước là chuyện bình thường
- Yêu nhau thì cần phải chứng tỏ tình yêu với nhau
2/ Những điều đúng và sai:
Bạn trai: Sai
- Muốn có quan hệ tình dục trước hôn nhân.
- Cố thuyết phục bạn gái quan hệ tình dục với mình.
Bạn gái: Đúng
- Từ chối quan hệ tình dục.
- Nêu nhiều lý do để khéo léo từ chối quan hệ tình dục.

21


TÌNH HUỐNG 2:
Xem kỹ đoạn phim và trả lời 2 câu hỏi sau:
1/ Hai bạn trẻ trong đoạn phim trên gặp phải vấn đề gì?
2/ Bạn trai lo lắng điều gì? có đúng không? Hãy giải thích và cho lời khuyên đối
với bạn trai.
Trả lời:
1/ Hai bạn trẻ trong đoạn phim trên gặp phải vấn đề:
- Hai bạn đã có quan hệ tình dục với nhau.
- Sau đó bạn trai bị sưng đau dương vật, đi tiểu đục và buốt
2. Bạn trai lo lắng:
- Bạn ấy đã bị bệnh lây truyền qua đường tình dục.
- Điều này chưa chắc đã đúng, bởi vì sự thiếu vệ sinh ở bộ phận sinh dục cũng
gây viêm nhiễm.
- Để xác định bạn đang gặp phải vấn đề gì, bạn ấy phải đi khám chuyên khoa.
TÌNH HUỐNG 3:

Để hạn chế đến mức tối thiểu tình trạng trẻ vị thành niên quan hệ tình dục
sớm dẫn đến có thai, các bậc phụ huynh cần quan tâm và định hướng một cách
tế nhị cho con em mình về kiến thức giới tính cũng như sức khỏe sinh sản VTN.
Bên cạnh đó kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cần cụ thể hóa các chương trình
giảng dạy giới tính, sức khỏe sinh sản phự hợp theo các cấp học trang bị kiến
thức trong giai đoạn nhạy cảm của học sinh.
1 : Đối với sở GD&ĐT Thanh Hoá: Tăng cường bồi dữơng chuyên môn
nghiệp vụ thường xuyên cho giáo viên cần cung cấp những thông tin mới về
giáo dục SK SSVTN cho HS.
2: Đối với trường THPT: Tăng cường các biện pháp quản lý nề nếp HS,
thắt chặt hơn nữa mối quan hệ thường xuyên giữa gia đình nhà trường và xã hội.
Chủ động đầu tư, bổ sung cơ sở vật chất nhất là cơ sở vật chất phục vụ cho các
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp để tổ chức một cách có hiệu quả công tác
giáo dục toàn diện trong nhà trường trong đó chú trọng việc tổ chức các hoạt
động giáo dục SK SSVTN và tích hợp giáo dục SK SSVTN vào các môn học
sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất .
TÀI LIỆU THAM KHẢO

23


1- Sách giáo viên hoạt động NGLL 10,11,12.
2- SGK môn hoạt động GD NGLL 10,11,12.
3- Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT- Hoạt động NGLL.
4- Báo cáo tổng kết năm học, 2009-2010, 2010 -2011, 2011-2012 của Trường
THPT Cảm Thuỷ 1.

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status