MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong kho tàng văn hóa của nhân loại, những di sản văn hóa phi vật thể
dễ có nguy cơ bị xóa bỏ trong tâm thức của con người và biến mất theo dòng
thời gian trong đời sống xã hội. Do đó việc gìn giữ và phát huy những giá trị
văn hóa phi vật thể là vô cùng quan trọng và cần có sự quan tâm đặc biệt của
các nhà quản lý, các lĩnh vực trong đó có giáo dục. Ở nước ta, việc bảo tồn và
phát triển những giá trị độc đáo của văn hóa, bao gồm bản sắc văn hóa là một
nhu cầu trong thời đại mới.
Đối với văn hóa dân tộc Thái cũng vậy, đó được coi là di sản văn hóa
quý báu của các cộng đồng dân tộc Việt Nam cần thiết phải được giữ gìn và
phát triển. Hơn nữa văn hóa dân tộc Thái còn hàm chứa đậm nét bản chất
thẩm mĩ và sáng tạo của quần chúng nhân dân, được tồn tại cùng với lịch sử
tiến hóa của các cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Công tác sưu tầm, nghiên
cứu, bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống dân tộc Thái sẽ góp phần phát
triển, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.
Ở tỉnh Sơn La nói chung và thành phố Sơn La nói riêng số lượng tỉ lệ
người dân tộc Thái so với các dân tộc khác chiếm tỉ lệ rất lớn. Do đó, việc giữ
gìn và bảo tồn văn hóa dân tộc Thái là rất cần thiết và phải đưa vào chương
trình giáo dục học sinh. Tuy nhiên, chương trình giáo dục học sinh sử dụng
chung cho học sinh toàn quốc nên nội dung này chưa được đưa vào trong giờ
chính khóa vì không đủ thời lượng. Để khắc phục những hạn chế đó cần đưa
nội dung văn hóa truyền thống dân tộc Thái vào chương trình hoạt động ngoài
giờ lên lớp cho học sinh.
Việc tổ chức chương trình hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường trung
học cơ sở (THCS) là một nội dung nhằm tổ chức cho HS rèn luyện những kĩ
năng hoạt động làm cân bằng các nội dung học tập. Hiện nay việc tổ chức các
1
- Nâng cao chất lượng xây dựng chương trình hoạt động ngoài giờ lên
lớp của nhà trường.
- Tăng cường vốn hiểu biết về văn hóa truyền thống có từ lâu đời của
địa phương.
- Góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc
Thái, quảng bá du lịch địa phương khi có dịp.
- Hướng các em HS tới những hoạt động tập thể bổ ích, tránh xa các tệ
nạn xã hội. Tăng thêm nhiều hứng thú đối với hoạt động ngoài giờ lên lớp của
học sinh góp phần nâng cao tinh thần trong học tập tại nhà trường. Phát huy
tinh thần đoàn kết tập thể, khả năng làm việc nhóm của học sinh.
- Góp phần bồi dưỡng cho học sinh tình yêu quê hương, nét đặc sắc văn
hóa của dân tộc mình.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc
cho học sinh THCS thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
5.2. Xác định thực trạng giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái
thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp ở các trường THCS trên địa bàn TP
Sơn La
5.3. Đề xuất và thử nghiệm các biện pháp giáo dục văn hóa truyền
thống dân tộc Thái thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS
Thành phố Sơn La.
6. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn thành phố Sơn La với 14 trường
THCS được phân bố trên 12 xã phường, với 8540 học sinh. Tỉ lệ học sinh
THCS và học sinh dân tộc Thái tỉ lệ cao. Tuy nhiên tôi chọn 4 trường mang
những nét đặc trưng:
− Trường THCS Hua La: thuộc xã Hua La có tỉ lệ 100% học sinh là
dân tộc Thái và là xã khó khăn trên địa bàn thành phố Sơn La.
3
4
- Phương pháp đàm thoại
Tiến hành đàm thoại với học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý thông qua
các câu hỏi liên quan tới nội dung đề tài, nhằm thu thập thêm thông tin về
thực trạng giáo dục văn hóa truyền thống thông qua hoạt động ngoài giờ lên
lớp cho học sinh THCS hiện nay.
- Phương pháp thử nghiệm sư phạm.
Chúng tôi tiến hành thử nghiệm sư phạm thông qua quá trình thử
nghiệm nhằm đánh giá tính khả thi của biện pháp đã đề xuất.
Thực nghiệm dàn dựng: Tôi trực tiếp cùng với nghệ nhân dàn dựng tiết
mục múa cho các em HS, hướng dẫn các động tác cơ bản sau đó ghép lại
thành tiết mục hoàn chỉnh với nhạc và phục trang phù hợp.
Thực nghiệm thiết kế chương trình HĐNGLL tìm hiểu về văn hóa múa
dân gian dân tộc Thái
- Phương pháp chuyên gia
Trên cơ sở tham khảo ý kiến chuyên gia, lập phiếu xin ý kiến đánh giá của
chuyên gia nhằm xây dựng được hệ thống bảng hỏi, hoàn chỉnh các tiêu chí đánh
giá, chất lượng chương trình thử nghiệm, hướng nghiên cứu của đề tài
7.3. Nhóm phương pháp hỗ trợ:
Trên cơ sở những kết quả số liệu đã thu được từ phương pháp điều tra
giáo dục, sử dụng phương pháp thống kê toán học với sự hỗ trợ của phần
mềm SPSS để lượng hóa những thông tin đã thu được.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo thì luận văn
gồm có 3 chương chính:
Chương I: Cơ sở lí luận của giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc
Thái thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS
Chương II: Thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
đại luôn thể hiện tư tưởng này trong giáo dục của mình, đó là quan điểm học
đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường gắn liền
với giáo dục gia đình và xã hội.
- Khổng Tử (551-449 TCN) một nhà triết gia nổi tiếng Trung Hoa cổ
đại được mệnh danh là “Đại Thành Chí Thánh” từng khẳng định: “Tụng thi
6
tam bách, thụ chi dĩ chính bất phạt, sứ vu tứ phương bất năng chuyên đối”
(Đọc kinh thư 300 thiên, nhưng giao chính quyền cho không làm được, đi sứ
các nước không đối đáp được, tuy có học nhiều cũng chẳng ích gì). Như vậy
ngay từ thời giáo dục chủ yếu đào tạo ra những con người “tầm chương chích
cú” thì vấn đề “học” để “hành” cũng đã được đề cập. [17]
- J.A. Cômenxki (1592 – 1670), là cha đẻ của nền giáo dục cận đại, đã
có những cống hiến quý báu cho sự nghiệp giáo dục. Cômenxki đã nêu lên
nhiều nguyên tắc, phương pháp sư phạm mới của việc dạy học nhằm phát huy
tính tích cực chủ động của học sinh, phản đối phương pháp giảng dạy kinh
viện giáo điều. Ông đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc trực quan, ông đã phân
tích tỉ mỉ những yêu cầu cơ bản đối với nguyên tắc dạy và học khác như: bảo
đảm tính hệ thống, liên tục, vừa sức, củng cố tri thức, ôn tập, khêu gợi hứng
thú cho học sinh. Ông chú trọng đến việc bồi dưỡng cho học sinh những tri
thức phong phú phục vụ cho nhu cầu thực tế. [17]
- Petxtalôzi (1746 - 1827) - một nhà giáo dục lớn của Thụy Sĩ và người
đương thời gọi ông là “ông thầy của các ông thầy”. Bằng con đường giáo dục
thông qua thực nghiệm ông muốn cứu vớt trẻ em mồ côi, con nhà nghèo.
Nhân dân dựng tượng ông và ghi dòng chữ: “tất cả cho người khác, không gì
cho mình”. Ông dựng ra “trại mới” giúp trẻ vừa học văn hóa, vừa lao động
ngoài lớp, ngoài trường học. Ông cho rằng hoạt động ngoài lớp không những
tạo ra của cải vật chất mà còn là con đường giáo dục toàn diện cho học sinh.
Ông quan niệm giáo dục gia đình đi trước, giáo dục trường học là sự tiếp nối
sống là thành tố cốt lõi của chất lượng giáo dục. Điều này được thể hiện trong
khẳng định của UNSECO là:
- Giáo dục thường xuyên, giáo dục suốt đời.
- Nhà trường mở, giáo dục mở.
- Tăng cường giáo dục cộng đồng, giáo dục gia đình.
- Giáo dục cho mọi nguời.
- Giáo dục hướng tới bốn tru cột: học để biết, học để làm, học để chung
sống, học để tự khẳng định mình.
8
Các nghiên cứu của các nhà giáo dục trên đều nhấn mạnh tầm quan
trọng của giáo dục ngoại khoá, ngoài giờ lên lớp. Để học sinh có thể phát
triển toàn diện, các thầy cô giáo không phải chỉ cần quan tâm đến việc cung
cấp tri thức trong các giờ học trên lớp mà còn phải coi trọng các hoạt động tập
thể, vui chơi giải trí, thể dục thể thao, văn nghệ.
1.1.2. Ở Việt Nam
Nghiên cứu về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) đã
thu hút được sự tham gia của các nhà nghiên cứu, của các nhà giáo trong cả
nước từ những năm 80 của thế kỉ 20 trở lại đây. Chúng ta có thể chia làm hai
giai đoạn sau:
a. Giai đoạn từ năm 1979 trở về trước: điểm nổi bật ở giai đoạn này là
khái niệm “HĐGDNGLL” chưa được định hình và chưa có tên gọi như ngày
nay. Tuy nhiên, nội hàm cơ bản của khái niệm đã được Hồ Chủ Tịch đề cập
trong “Thư gửi cho học sinh” nhân ngày khai trường tháng 9/1945, Người
viết “…nhưng các cháu, ngoài giờ học ở trường, cũng nên tham gia vào các
Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để giúp đỡ
một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc giữ gìn đất nước” [21]. Đối với Bác, từ khi
còn là thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy học ở trường Dục Thanh Phan
Thiết(1909 - 1910). Bác đã thực hiện HĐGDNGLL để lại nhiều ấn tượng sâu
động giáo dục ngoài giờ lên lớp”, cũng như những nghiên cứu nhằm tổ chức có
chất lượng HĐGDNGLL trong nhà trường.
Tác giả Hà Nhật Thăng, sau khi lấy ý kiến chuyên gia và hội thảo ở các
địa phương đã dự thảo chương trình khung “Tổ chức HĐGDNGLL ở trường
THCS” vào năm 1998.
Qua nghiên cứu của nhóm cán bộ gồm Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Đăng
Thìn, Lê Thanh Sử, Nguyễn Thị Kỷ về HĐGDNGLL ở trường THCS, nhóm
đã điểm qua về vị trí, nhiệm vụ của HĐGDNGLL, các hình thức và con
đường chủ yếu thực hiện HĐGDNGLL ở trường THCS. Đặc biệt đã giới
thiệu quy trình chung của việc tổ chức HĐGDNGLL và một số hình thức hoạt
động mẫu.
10
Qua tài liệu bồi dưỡng giáo viên về HĐGDNGLL, nhóm tác giả
Nguyễn Dục Quang, Trần Quốc Thành, Lê Thanh Sử đã nêu được mục tiêu,
nội dung và phương pháp tổ chức HĐGDNGLL.
Các công trình nghiên cứu trên đã đi sâu nghiên cứu cơ bản về HĐGD
NGLL, nghiên cứu thực nghiệm, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nhằm xây
dựng quy trình tổ chức và đổi mới nội dung phương pháp HĐGDNGLL.
Nhiều công trình nghiên cứu, luận văn, luận án khác đã đề cập đến việc dàn
dựng chương trình hoạt động ngoài giờ lên lớp theo những cách nhìn khác
nhau tùy theo những yêu cầu về nội dung và đề tài cũng như địa điểm cụ thể
mà họ đã tìm hiểu và nghiên cứu. Mặc dù vậy vẫn chưa thấy ai đi sâu quan
tâm đến chi tiết là sẽ đưa một nội dung cụ thể vào chương trình ngoài giờ lên
lớp một cách bài bản và có hệ thống.
Tất cả những nghiên cứu trên sẽ là tài liệu hữu ích cho chúng tôi trong
quá trình thực hiện luận văn này.
1.2. Một số khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1. Giáo dục
Theo điều lệ trường trung học, HĐGD trong trường trung học bao gồm:
- HĐGD trên lớp được tiến hành thông qua việc dạy học các môn học
bắt buộc và tự chọn theo quy định trong chương trình giáo dục THCS, THPT
do Bộ GD&ĐT ban hành.
- hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) do nhà trường
phối hợp với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường tổ chức bao gồm hoạt
động ngoại khóa về khoa học, văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao, nhằm phát
triển năng lực toàn diện của học sinh và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu,
các hoạt động vui chơi, tham quan du lịch, giao lưu văn hóa, các hoạt động
giáo dục môi trường … phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi học
sinh. HĐGD trên lớp và HĐGDNGLL là 2 bộ phận hữu cơ hợp thành một thể
thống nhất trong quá trình giáo dục học sinh nhằm đạt được mục tiêu giáo dục
ở trường trung học. [3]
Để HĐGD có hiệu quả, việc tổ chức các HĐGD trong nhà trường phải
chú ý những vấn đề cơ bản sau:
- Cơ cấu các HĐGD trong nhà trường cần được xác định theo mục tiêu
giáo dục mà trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội và nhu cầu phát triển con
người nhưng không thể đi quá xa so với các hoạt động cơ bản của học sinh.
Xét cho cùng HĐGD chỉ là một trong rất nhiều hoạt động của học sinh.
12
- Các HĐGD tạo môi trường cho hoạt động của học sinh và chính
những hoạt động của học sinh quyết định sự phát triển nhân cách của mỗi cá
nhân. Vì thế các HĐGD phải dựa vào hoạt động của học sinh, mặt khác hoạt
động của học sinh phải được định hướng bởi các HĐGD. Hoạt động giáo dục
và hoạt động của học sinh không thể thay thế cho nhau. Do vậy tất cả các
HĐGD với các hình thức khác nhau trong và ngoài nhà trường cần phải hoạch
định sao cho phát huy tốt nhất những hoạt động cơ bản của học sinh tập trung
ưu tiên và đẩy mạnh những hoạt động này.
thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học, kĩ thuật, lao động
công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa nghệ thuật, thẩm
mỹ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí… để giúp các em hình thành và phát
triển nhân cách. [12]
- Trong chương trình THCS về HĐGDNGLL, các tác giả đưa ra các
khái niệm: Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là những hoạt động được tổ
chức ngoài giờ học của các môn học ở trên lớp. HĐGDNGLL là sự tiếp nối
hoạt động dạy và học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết và thực tiễn, tại
nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của học sinh. [2]
Như vậy, HĐGDNGLL là sự tiếp nối hoạt động văn hoá, bằng hình
thức sinh hoạt hấp dẫn với nội dung phong phú góp phần củng cố, khắc sâu
kiến thức, rèn luyện kỹ năng, bồi dưỡng tình cảm, xây dựng ý thức độc lập,
tinh thần tự chủ, phát triển tình đoàn kết của HS. HĐGDNGLL còn là một
hoạt động phù hợp với nhu cầu của các em như: vui chơi, giải trí, văn hoá văn
nghệ, thể dục thể thao…
Từ các ý kiến đã nêu trên, chúng tôi cho rằng: HĐGDNGLL là các
hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn học ở trên lớp. HĐGDNGLL
là sự tiếp nối, bổ sung, hỗ trợ hoạt động dạy học trên lớp, là con đường gắn lí
thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, góp
phần hình thành tình cảm, niềm tin đúng đắn ở HS.
14
1.2.3. Văn hóa truyền thống dân tộc Thái
∗ Văn hóa
Trong nghiên cứu về văn hóa nhiều học giả cho rằng văn hóa (hiểu theo
nghĩa rộng) nói chung bao gồm tất cả những giá trị vật chất và tinh thần. Theo
nghĩa rộng nhất của nó, văn hóa bao gồm những sáng tạo về vật chất và tinh
thần của con người trong quá trình cải tạo hiện thực khách quan. Những tri
thức, các kết quả của hoạt động cải tạo xã hội và tự nhiên là thành phần của
xuyên suốt cơ thể xã hội, nó biểu hiện trình độ người, trình độ xã hội, văn
minh quốc gia, văn minh nhân loại.
∗ Truyền thống
Truyền thống vốn là một từ Hán - Việt. Theo Từ điển Hán - Việt của Đào
Duy Anh "Truyền thống: đời nọ truyền xuống đời kia". Trong từ điển tiếng Việt
phổ thông truyền thống được định nghĩa là "thói quen hình thành từ lâu đời trong
lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác".
Theo quan niệm của các nước phương Tây, Truyền thống (Tradition)
có nghĩa là "giao", "chuyển giao". Bách khoa thư Pháp định nghĩa "Truyền
thống là tất cả những gì người ta biết và thực hành bằng sự chuyển giao từ thế
hệ này đến thế hệ khác, thường là truyền miệng, hay bằng sự bảo tồn và noi
theo những tập quán, những cách ứng xử, những mẫu hình và tấm gương".
Như vậy, có thể hiểu "truyền thống" như là một hệ thống các tính cách,
các thế ứng xử của một cộng đồng, được hình thành trong lịch sử, trong môi
trường sinh thái và nhân văn nhất định, trở nên ổn định, trường tồn nhưng
không vĩnh cửu, có thể được định chế hóa bằng luật hay bằng lệ (phong tục
tập quán) và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Có thể gọi là sự
di truyền văn hóa bên cạnh sự di truyền sinh vật về thể xác - để đảm bảo tính
thống nhất của một cộng đồng trong lịch sử. Mọi sự phát triển đều xuất phát
từ truyền thống, con người từ khi sinh ra trong một gia đình, một xã hội đã bị
chi phối bởi truyền thống và các hiện tượng văn hóa cũng vậy. Tuy nhiên mọi
vấn đề đều có tính hai mặt, truyền thống cũng vậy. Truyền thống nào cũng có
truyền thống phù hợp và truyền thống không phù hợp. Truyền thống có thể
thúc đẩy sự phát triển nhưng mặt khác nó cũng có thể cản trở sự phát triển.
16
Truyền thống mang tính cộng đồng. Truyền thống được chuyên chở, lưu giữ
trong ký ức và từ đó điều khiển hành động của cá nhân. Nhiều khi nó trở
thành vô thức, con người cứ hành động theo các quy định. Truyền thống có
∗ Dân tộc Thái
Việt Nam là một nước giàu truyền thống văn hóa với 54 tộc người cùng
chung sống. Tính đa dạng về văn hóa tộc người thể hiện trên bình diện văn
hóa các nhóm ngôn ngữ - tộc người, và văn hóa các nhóm địa phương của
mỗi tộc người. Như Việt - Mường, Tày - Thái, Môn - Khơme, Nam Đảo,
Mông - Dao, Tạng - Miến, Hoa... Mỗi tộc người lại gồm nhiều nhóm địa
phương với sắc thái văn hóa phong phú. Cái sắc thái văn hóa tộc người ấy đan
kết, thâm nhập, tiếp biến giữa nhân tố bản địa và ngoại lai, tạo nên bức tranh
đa sắc của văn hóa Việt Nam.
Ở Việt Nam dân tộc Thái có trên 1 triệu người (đông thứ 3 sau người
Kinh và người Tày) sinh sống chủ yếu tại các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn
La, Hòa Bình, Yên Bái, Nghệ An, Thanh Hóa và sinh sống rải rác ở một số
tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên do di dịch cư. Dân tộc Thái còn có
những tên gọi khác là Táy và có các nhóm Táy Đăm, Táy Khao, Táy Mười,
Táy Thanh, Hàng Tổng, Pu Thay, Thổ Đà Bắc. Tiếng Thái thuộc hệ ngôn ngữ
Tày – Thái.
∗ Văn hóa truyền thống dân tộc Thái
Văn hóa truyền thống dân tộc Thái rất đa dạng và phong phú. Trong
phạm vi nghiên cứu vấn đề đưa giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc Thái
trong nhà trường phổ thông, chỉ tập trung vào những giá trị truyền thống văn
hóa tinh thần tiêu biểu, cốt lõi của dân tộc Thái, phù hợp với lứa tuổi, cấp học
của các em, đồng thời nhằm phát huy vai trò của truyền thống đối với xây
dựng nhân cách văn hóa vị thành niên trong cuộc sống và yêu cầu phát triển
của đất nước hiện nay.
1.2.4. Một số đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THCS
Lứa tuổi học sinh THCS bao gồm những em bao gồm những em từ
11,12 tuổi đến 14,15 tuổi, đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 trường THCS.
Trên thực tế đa số các em học sinh THCS đã bước vào lứa tuổi thiếu niện nên
người ta gọi lứa tuổi này là lứa tuổi thiếu niên.
18
hóa, trừu tượng hóa, so sánh, phán đoán mới rút ra được kết luận, mới hiểu
được tài liệu học. Vì thế tư duy của học sinh THCS đã phát triển ở mức cao.
19
* Hoạt động giao tiếp của lứa tuổi THCS.
Lứa tuổi này có nhu cầu mở rộng quan hệ với người lớn và mong muốn
người lớn quan hệ với nó một cách bình đẳng như người lớn, không muốn
người lớn coi nó như trẻ con trước đây nữa.
Sự nảy sinh ở lứa tuổi này là cảm giác về sự trưởng thành và nhu cầu
được người lớn thừa nhận nó là người lớn đã đứa đến vấn đề quyền hạn của
người lớn và các em trong quan hệ với nhau.
Như vậy việc chuyển tiếp từ kiểu quan hệ giữa người lớn và trẻ em,
sang kiểu quan hệ mới về chất (đặc thù cho sự giao tiếp học sinh THCS với
người lớn), tạo điều kiện phát triển mức độ trưởng thành ở lứa tuổi này.
Sự giao tiếp giữa các em đã vượt qua ngoài phạm vi nhà trường, mà
còn mở rộng trong những hứng thú mới, những việc làm mới, những quan hệ
mới trong đời sống của các em, các em có nhu cầu lớn trong giao tiếp với bạn
bè, Vì vậy, ở lứa tuổi này hoạt động giao tiếp với bạn bè đã trở thành hoạt
động chủ đạo đứng sau hoạt động học tập. Do đó, giáo dục đạo đức cho học
sinh ở lứa tuổi này cần lưu ý đến những nhóm bạn bè mà học sinh tham gia.
Tóm lại, sự giao tiếp ở lứa tuổi học sinh THCS là một hoạt động đặc
biệt. Nhờ hoạt động giao tiếp mà các em nhận thức được người khác và bản
thân mifnhh; đồng thời qua đó làm phát triển một số kĩ năng như năng so
sánh, phân tích, khái quát hành vi của bản thân và của bạn, làm phong phú
thêm những biểu tượng về nhân cách của bạn và của bản thân.
* Sự phát triển nhân cách của học sinh THCS.
Sự hình thành tự ý thức
Ở lứa tuổi này, đặc điểm quan trọng về tự ý thức của lứa tuổi này là sự
mâu thuẫn giữa nhu cầu tìm hiểu bản thân với kĩ năng chưa đầy đủ để phân
chi phối việc giáo dục Đạo đức cho học sinh THCS. Xét cho cùng, kết quả
giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào việc
tiếp nhận của đối tượng giáo dục. Dù chủ thể giáo dục có tích cực đến đâu mà
đối tượng giáo dục không tiếp nhận thì quá trình giáo dục không có hiệu quả.
21
1.3. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THCS
1.3.1. Khái niệm HĐGD ngoài giờ lên lớp ở trường THCS.
HĐGDNGLL là một bộ phận của quá trình giáo dục ở nhà trường phổ
thông nói chung và trường THCS nói riêng. Đó là những hoạt động được tổ
chức ngoài giờ học các môn văn hóa trên lớp, HĐGDNGLL là sự tiếp nối
hoạt động dạy học trên lớp và là con đường gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo
nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động, góp phần hình thành tình
cảm, niềm tin đúng đắn ở học sinh. HĐGDNGLL góp phần quan trọng vào sự
hình thành và phát triển nhân cách cho các em.
1.3.2. Vai trò của HĐGD ngoài giờ lên lớp đối với giáo dục nhân
cách học sinh THCS
HĐGDNGLL là điều kiện tốt nhất để học sinh phát huy vai trò chủ thể
và tính tích cực, chủ động của các em trong quá trình học tập và rèn luyện.
HĐGDNGLL vừa củng cố, bổ sung, mở rộng kiến thức đã học, vừa phát triển
các kĩ năng sống cơ bản cho học sinh để phù hợp với yêu cầu, mục tiêu của
giáo dục và đòi hỏi của xã hội. Mặt khác HĐGDNGLL còn thu hút và phát
huy tiềm năng của các lực lượng giáo dục, góp phần quan trọng trong công
việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường
Với vị trí và vai trò như vậy, HĐGDNGLL thực sự là một bộ phận
hữu cơ của hệ thống hoạt động giáo dục ở trường THCS, HĐGDNGLL
cùng với hoạt động dạy học trên lớp là một quá tr ình gắn bó thống nhất
nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo của cấp học. Dưới sự cố vấn, giúp đỡ
của giáo viên, học sinh cùng nhau tổ chức các hoạt động tập thể khác
những mục đích nhất định, tuy nhiên thực tiễn giáo dục trong nhà trường cho
thấy, mục tiêu giáo dục của các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp thường
bị che lấp bởi những tiêu chí mang tính thi đua, phong trào như nhà trường sẽ
có giải vàng về điền kinh trong Hội khỏe Phù đổng cấp tỉnh, giải thi tìm hiểu
Luật giao thông đường bộ…Vì vậy, nhà trường phải xác định mục đích của
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho cả năm học, từng học kì, từng hoạt
động; trong đó cần định hướng tính đa dạng của mục tiêu giáo dục nhằm thực
hiện mục tiêu giáo dục toàn diện.
23
- Tính kế hoạch: kế hoạch sẽ định hướng và giúp cho việc tổ chức hoạt
động có chất lượng và hiệu quả. Tính kế hoạch của hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp sẽ đảm bảo tính ổn định tương đối, tính hệ thống và tính hướng
đích, không gây sự hỗn loạn và tùy tiện trong tổ chức các hoạt động của nhà
trường. Trên cơ sở kế hoạch, nhà trường chủ động định hướng cách thức tổ
chức, dự tính các nguồn lực (con người, kinh phí, cơ sở vật chất, thời gian),
nội dung, hình thức cũng như qui mô hoạt động; sự chuẩn bị kế hoạch giáo
dục chu đáo sẽ đem lại chất lượng, hiệu quả giáo dục mà nhà trường và xã hội
mong muốn.
Nguyên tắc về tính tự nguyện, tự giác tham gia hoạt động
- Nếu học sinh bắt buộc phải học tập các môn học trên lớp thì các em
có quyền lựa chọn tham gia các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp mà các
em ưa thích.
Nguyên tắc này đảm bảo học sinh có quyền lựa chọn tham gia các hoạt
động phù hợp với khả năng, hứng thú, sức khỏe và điều kiện cụ thể của bản
thân mỗi em; chỉ có như vậy, nhà trường – nhà giáo dục mới tạo được sự
hứng thú, tự giác và tích cực tham gia hoạt động, phát huy được thiên hướng,
khả năng của mỗi học sinh, trên cơ sở đó giúp nhà trường và gia đình hướng
nghiệp học sinh phù hợp nhất.
phải được quán triệt trong quá trình tổ chức hoạt động cho học sinh, phải
được thể hiện từ bước chuẩn bị hoạt động, đến bước tiến hành hoạt động cho
đến đánh giá kết quả hoạt động. Trong mỗi bước, học sinh phải thực sự phát
huy khả năng của mình, được bày tỏ ý kiến của mình cũng như những sáng
kiến nhằm giúp cho chính hoạt động của tập thể đạt hiệu quả.
- Ở lứa tuổi học sinh phổ thông, các em chưa có đủ kinh nghiệm sống,
kinh nghiệm tổ chức hoạt động; vì vậy, vai trò của thầy cô giáo là người định
hướng, gợi ý, dẫn dắt, giúp đỡ các em trong quá trình tổ chức hoạt động
nhưng không làm thay họ.
1.3.5. Nội dung chương trình HĐGD ngoài giờ lên lớp ở trường THCS
Ở nhà trường THCS có 3 nội dung cơ bản về HĐGDNGLL
*Giáo dục về nhận thức
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp giúp học sinh bổ sung, củng cố và
hoàn thiện những kiến thức đã được học ở trên lớp (qua hình thức câu lạc bộ,
25