'*
=1 TẠO
BỌ GIAO DỤC VA==
ĐAO
BỌ GIAO DỤC VA ĐAO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
~
LÊ
LẼ THỊ
THỊ KIM
KIM LIỄU
LIÊU
MỘT SÓ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC
MỘT SÓ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC
^
LỜI CẢM ƠN
Bài Luận vãn này là một phần kết quả của quá trình học tập và bước
1.
Lý do chọn đề tài...................................................................................1
2.
Mục đích nghiên cứu.............................................................................3
3.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu......................................................3
4.
Giả thuyết khoa học...............................................................................3
5.
Nhiệm vụ nghiên cứu............................................................................4
6.
Phương pháp nghiên cứu.......................................................................4
7.
Đóng góp của luận văn..........................................................................5
8.
giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.........................................................20
1.3.3. Nội dung, phương pháp, hình thức tố chức giáo dục đạo đức cho
học sinh tiểu học..................................................................................21
1.3.4. Đánh giá kết quả giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.................31
1.4.
Một số vấn đề về quản lý công tác giáo dục đạo đức thông qua
hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh tiểu học.............................33
1.4.1. Vai trò của hoạt động ngoài giờ lên lớp đối với công tác giáo
dục đạo đức cho học sinh tiểu học.....................................................33
1.4.2. Yêu cầu, nội dung, phương pháp, hình thức quản lý công tác giáo dục
đạo đức thông qua hoạt động ngoài giờ lên lóp cho học sinh tiểu học
1.5.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý công tác giáo dục đạo
đức thông qua hoạt động ngoài giờ lên lóp cho học sinh tiểu học.....37
1.5.1. Pháp luật của Nhà nước......................................................................37
1.5.2. Yeu tố nhà trường...............................................................................37
1.5.3. Yếu tố gia đình....................................................................................38
1.5.4. Yếu tố xã hội.......................................................................................39
Chương 2. cơ SỞ THựC TIỄN CỦA VÁN DÈ QUẢN LÝ CÔNG
TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC THÔNG QƯA HOẠT ĐỘNG
NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIẺƯ
HỌC
Thực trạng quản lý công tác giáo dục đạo đức thông qua hoạt
động ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường tiểu học quận 8,
Thành phố Hồ Chí Minh.....................................................................47
2.2.1 Khái quát về nghiên cứu thực trạng quản lý công tác giáo dục
đạo đức cho học sinh các trường tiểu học..........................................47
2.2.2. Ket quả nghiên cứu thực trạng quản lý công tác giáo dục đạo
đức cho học sinh các trường tiểu học.................................................50
2.3.
Đánh giá chung về thực trạng quản lý công tác giáo dục đạo đức
thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường
tiểu
học
quận
8,
Thành
phố
Hồ
Chí
Minh
3.1.4.
Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi........................................................67
3.2.
Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức thông qua
hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường tiểu học ở
quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh..........................................67
3.2.1. Nâng cao nhận thức cho cán bộ và giáo viên các trường tiểu học
về sự cần thiết phải tăng cường quản lý công tác giáo dục đạo
3.2.2.
Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức thông qua hoạt động ngoài
giờ lên lớp cho học sinh tiểu học một cách khoa học........................69
3.2.3.
Xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh trong nhà trường............72
3.2.4.
Thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục đạo đức
thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh tiểu học............76
3.2.5. Đảm bảo các điều kiện để nâng cao hiệu quả quản lý công tác
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
về tầm quan trọng của ĐĐ và GDĐĐ, từ xưa đến nay đã được nhiều
nhà GD, nhiều triết gia, nhiều học giả quan tâm và khẳng định: “Đạo đức như
gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối, sức mạnh của con người, sức có
mạnh mới gánh được nặng và đi được xa” (Hồ Chí Minh). Đạo đức là cái gốc
trong nhân cách toàn diện của con người. Chính vì vậy GDĐĐ cho mọi người
là việc làm có tầm quan trọng đặc biệt và rất cần thiết, vỉ ĐĐ không tự có, nó
chỉ được hình thành qua con đường GD và tự GD [4]. Nhờ GDĐĐ, con người
trau dồi được những phẩm chất tốt và không ngừng hoàn thiện bản thân
mình.
Sinh thời, Hồ Chí Minh rất mực yêu thương, quan tâm đến việc rèn luyện,
GD
thế hệ trẻ, Người đã dạy: Bây giờ phải học, học đê yêu Tổ quốc, yêu nhân
dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức. GDĐĐ ở bậc Tiểu học là làm
cho nhân cách của HS phát triển về mặt ĐĐ, tạo cơ sở đế trẻ ứng xử đúng
đắn
các mối quan hệ của trẻ với người khác (gia đình, bạn bè, thầy cô giáo, người
lớn tuổi và ít tuổi...) và với xã hội. GDĐĐ là để HS có được các phẩm chất
ĐĐ tốt đẹp và bền vững, có được bản lĩnh để ứng xử đúng trong các mối
quan
hệ ĐĐ. Một nhà giáo dục học đã tổng kết: Làm hỏng một đồ bằng vàng có
thể
làm lại, làm hỏng một viên ngọc quý có thể bỏ đi, nhưng làm hỏng một con
người là một tội lỗi [4]. Thực tiễn ĐĐ đã chứng minh người được rèn luyện
3
không cần thiết. Nhìn chung, hoạt động NGLL vẫn còn chưa phát huy được
hết ý nghĩa thực chất của nó đối với việc nâng cao chất lượng GD toàn diện,
chưa thực sự được các cấp quản lý và GV đầu tư đúng nghĩa, trong toàn
ngành thực hiện chưa được đồng bộ thống nhất, chưa có chiều sâu.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, đê góp phần vào công tác GDĐĐ
cho HS trong giai đoạn hiện nay, và qua thực tiễn công tác quản lý và giảng
dạy HS ở trường tiểu học, chúng tôi nhận thấy việc nắm rõ thực trạng và đề ra
biện pháp hiệu quả đê quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS thuộc khối tiểu học
thông qua các HĐNGLL là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của người cán
bộ QL GD. Vì thế, chúng tôi chọn đề tài: “Một so giải pháp quản lý công tác
giáo dục đạo đức thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh các
trường tiểu học quận 8, Thành pho IIÒ Chỉ Minh ” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên CÚ11
Đe xuất một số giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức thông qua
hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường tiểu học, quận 8, Thành
phố Hồ Chí Minh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Vấn đề quản lý công tác giáo dục đạo đức thông qua hoạt động ngoài
giờ lên lớp cho học sinh tiểu học.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức thông qua hoạt
động ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường tiểu học ở quận 8, Thành phố
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận đế xây
dựng cơ sở lý luận của đề tài. Thuộc nhóm này có các phương pháp cụ thể
sau
đây:
- Phương pháp phân tích - tổng họp tài liệu;
5
Để xử lý số liệu thu được thông qua việc sử dụng phần mềm SPSS.
7. Đóng góp của luận văn
7.1. về mặt lý luận
Góp phần hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về quản lý giáo dục nói
chung, quản lý công tác giáo dục đạo đức thông qua hoạt động ngoài giờ lên
lớp cho học sinh các trường tiểu học nói riêng.
7.2. về mặt thực tiễn
Đánh giá thực trạng quản lý công tác giáo dục đạo đức thông qua hoạt
động ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường tiểu học ở quận 8, Thành phố
Hồ Chí Minh; từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo
đức thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường tiểu học ở
quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh có cơ sở khoa học và có tính khả thi.
6
Chương 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐÈ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC
phải từ trên trời sa xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà
phát triển củng cố, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng
trong” [13,552]. Phải rèn luyện, tu dưỡng đạo đức suốt đời, trong đó tự rèn
luyện có vai trò rất quan trọng. Người khắng định: đã là người thì ai cũng có
chỗ hay chỗ dở, chỗ xấu, chỗ tốt, ai cũng có cái thiện, cái ác ở trong mình.
Vấn đề là dám nhìn thẳng vào con người mình, không tự lừa dối, huyễn hoặc,
thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện để phát huy, và thấy rõ cái dở, cái xấu, cái ác
đẻ khắc phục. Tu dưỡng đạo đức phải được thực hiện thường xuyên trong
hoạt động thực tiễn, trong đời tư cũng như trong mọi mối quan hệ.
Giáo dục đạo đức cho học sinh là vấn đề được các nhà nghiên cứu trên
thế
giới quan tâm từ lâu. Đã có nhiều công trình đề cập đến vấn đề này. Nhưng
GDĐĐ cho học sinh tiểu học thông qua HĐNGLL đang còn ít được quan tâm
trong các nghiên cứu ở nước ngoài, nhất là đối với lứa tuổi học sinh tiểu học.
Từ những năm 70 của thế kỉ XX, các nhà nghiên cứu của Viện Khoa
học giáo dục Việt Nam, Trường ĐHSP Hà Nội đã quan tâm nghiên cứu về
ĐĐ và GDĐĐ cho học sinh. Đó là các tác giả Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức
8
Các tác giả Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Dục Quang, Đỗ Trọng Văn đã biên
soạn tài liệu “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học” và
khẳng định, HĐNGLL là con đường thích hợp nhất, hiệu quả nhất để GDĐĐ
cho học sinh tiểu học.
Tác giả Hoàng Thị Luận với đề tài “G/áơ dục đạo đức cho học sinh
tiếu
học thông qua hoạt dộng ngoài giờ lên lớp” ở huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh
Hóa. Đe tài “Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu trưởng các trường Trung học cơ sở huyện
Quá trình tham gia hoạt động làm cho con người hỉnh thành và phát triển
được phẩm chất và năng lực, nhân cách được hình thành và phát triển.
Từ mối quan hệ giữa hoạt động và nhân cách, chúng ta thấy rằng muốn
hình thành nhân cách HS, chúng ta phải đưa các em vào những hoạt động
nhất định. Nói cách khác GD trước hết phải là quá trình tổ chức sự hoạt động
tích cực, sáng tạo của HS để HS tiếp thu, chiếm lĩnh nền văn hóa của nhân
loại, hình thành và phát triển được những phẩm chất nhân cách mà xã hội đòi
hỏi. HS không thể chơi, học tập, lao động, hoạt động xã hội, hoạt động thê
thao, nghệ thuật một mình được. Trong tất cả các hoạt động trên, HS phải
giao tiếp với những người khác, với các bạn, với thầy cô giáo... Nhưng cũng
cần lưu ý, bên cạnh một số hoạt động đóng vai trò chủ yếu trong sự phát triển
nhân cách còn những dạng hoạt động khác đóng vai trò thứ yếu, vì thế cần
phải thấy rõ sự phụ thuộc của sự phát triến nhân cách vào hoạt động chủ đạo
trong từng thời kỳ nhất định.
10
Một trong những quy luật của GD là phải thay đổi tính chất của hoạt
động, phong phú hóa nội dung, hình thức, cách tổ chức nó trong quá trình GD
đê lôi cuốn bản thân HS tham gia tự giác và tích cực vào hoạt động và việc
quản lý hoạt động.
1.2.1.2. Hoạt động ngoài giờ lên lớp
Theo T.A.Ilina: “Công tác giáo dục học sinh ngoài giờ học thường
được gọi là công tác giáo dục ngoại khóa. Công tác này, bo sung và làm sâu
thêm công tác giảo dục nội khóa, trước tiên là phương tiện đế phát hiện đầy
đủ tài năng và năng lực trẻ em, thức tỉnh thiên hướng và hứng thủ của học
sinh đoi với một hoạt động nào đỏ, đỏ là một hình thức tô chức giải trí của
học sinh và là cơ sở đế tô chức việc học tập về hành vi đạo đức, đế xây dựng
1.2.2. Đạo đức và giáo dục đạo đức
1.2.2.1. Đạo đức
Với tư cách là một phạm trù của tri thức triết học, những tư tưởng đạo
đức học đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học Trung Quốc, Ân
Độ, Hy Lạp cổ đại. Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng La tinh là “mos”
(moris): lề thói (moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa). Còn
“luân lý” thường xem như đồng nghĩa với “đạo đức” thì gốc ở chữ Hy Lạp là
“êthicos” nghĩa là lề thói, tập tục. Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi ta nói
đến
12
người trong xã hội. Khái niệm đạo đức đầu tiên xuất hiện trong kinh văn đòi
nhà Chu và từ đó trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều.
“Đức” dùng đế nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của
đạo, là đạo nghĩa, là những nguyên tắc luân lý. Như vậy có thể nói đạo đức
của người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do
cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo.
Đạo đức là một bộ phận quan trọng trong các hình thái ý thức xã hội.
Theo quan niệm Mác-xít, ĐĐ là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực hành vi của
con người và đánh giá cách ứng xử trong quan hệ của ngưừi này với người
khác, việc thực hiện nghĩa vụ của con người đối với xã hội.
Việc thực hiện các quy tắc, chuẩn mực ĐĐ phản ánh các quan hệ, hành
vi của cá nhân đối với cộng đồng, xã hội thông qua những lợi ích nhất định.
Nội dung của khái niệm ĐĐ bao gồm:
Một là: ĐĐ là một hình thái ý thức xã hội nên nó phản ánh trực tiếp
hoặc gián tiếp sự tồn tại xã hội, do đó ĐĐ biến đối theo sự biến đối của tồn
diện”. [1]
Giáo dục ĐĐ cho HS là một quá trình lâu dài, liên tục về thời gian,
rộng khắp về không gian, từ mọi lực lượng xã hội. Trong đó, nhà trường giữ
vai trò rất quan trọng.
Giáo dục Đạo đức cho HS còn là quá trình hình thành và phát triển các
phâm chất ĐĐ của nhân cách HS dưới những tác động và ảnh hưởng có mục
đích
được tổ chức có kế hoạch, có sự lựa chọn về nội dung, pp và hình thức GD
phù
họp với lứa tuổi và vai rò chủ đạo của nhà GD. Từ đó, giúp HS có những
hành
vi
ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ giữa cá nhân vói cá nhân, vói cộng
đồngxã hội, vói lao động, với tự nhiên... Bản chất của GDĐĐ là chuỗi tác động có
định hướng của chủ thể GD và yếu tố tự GD của HS, giúp HS chuyển những
14
Như vậy, GDĐĐ là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, có tổ
chức của nhà GD và yếu tố tự GD của người học để trang bị cho HS những
tri
thức, ý thức ĐĐ, niềm tin, tình cảm ĐĐ và quan trọng nhất là hình thành ở
HS hành vi, thói quen ĐĐ phù hợp với các chuẩn mực xã hội. Hay nói một
cách khác, GDĐĐ là một quá trình sư phạm được tổ chức một cách có mục
đích, có kế hoạch nhằm hình thành và phát triển ở HS ý thức, tình cảm, hành
vi và thói quen ĐĐ.
1.2.3. Quản lý và quản lý công tác giáo dục đạo đức thông qua hoạt
cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều
phải
dựa vào sự nố lực của cá nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm
vi
rộng lớn hon ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận và chịu một sự
QL
nào đó. C.Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động
chung
nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ
đạo
đế điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung
phát
sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của
những
khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy
mình,
còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.
Ngày nay thuật ngữ QL đã trở nên phổ biến, nhưng chưa có một định
nghĩa
16
- Chức năng kế hoạch: là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành
tựu
tương lai của tố chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được
mục tiêu, mục đích đó.
- Chức năng tố chức: là những nội dung và phương thức hoạt động cơ
sáng tạo, có cách ứng xử tốt.
1.2.4. Giải pliáp và giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức
thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp
1.2.4.1. Giải pháp
Theo Đại từ điển tiếng Việt, “giải pháp” là “cách giải quyết một vẩn
đề”
[12]. Như vậy, nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tác động nhằm
thay đổi chuyến biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định...
mà cụ thể là nhằm đạt được mục đích hoạt động. Nếu giải pháp càng thích
họp,
càng tối ưu thì càng giúp cho con người nhanh chóng giải quyết những vấn
đề
đặt ra. Nhưng đê có được những giải pháp như vậy, cần phải dựa trên cơ sở
khoa học tin cậy.
1.2.4.2. Giải pháp quản lỷ công tác giáo dục đạo đức thông qua hoạt
động ngoài giờ lên lớp
Giải pháp QL là những cách thức cụ thể đế thực hiện phương pháp QL.
Vì đối tượng QL phức tạp nên đòi hỏi các giải pháp QL phải đa dạng, phong
phú, linh hoạt phù hợp với đối tượng QL. Nói đến giải pháp QL là nói đến
18
- Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản
thân và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa,... Ngoài ra, trẻ còn
phải thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có
cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện.
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng, nên trẻ hứng thú các loại sách
báo có lời và không lời, sách văn học, truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi
đồng,... nên có thể kê cho trẻ nghe hoặc tố chức các cuộc thi kể truyện đọc
thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ cách viết nhật kí,...
Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm
soát, điều khiên chú ý còn hạn chế. ơ giai đoạn này chú không chủ định
chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành
kỹ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình. Chú ý có chủ định phát triẻn dần
và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như
học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài,... Trong sự
chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thòi gian, trẻ đã định
lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng
hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định.
Tình cảm của HS tiếu học mang tính cụ thê trực tiếp và luôn gắn liền
với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ,... Lúc này khả năng kiềm chế
cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện
cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư...
Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của HSTH luôn luôn
kèm theo sự phát triến năng khiếu: Trẻ nhi đồng có thê xuất hiện các năng
khiếu như thơ, ca, hội họa, kỹ thuật, khoa học,... khi đó cần phát hiện và bồi
dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm
thui chột năng khiếu của trẻ.
Chính vì thế, việc giáo dục ĐĐ cho HSTH cần ở nhà giáo dục sự khéo
léo, tế nhị khi tác động đến các em; nên dẫn dắt các em đi từ hình ảnh trực
quan sinh động, hấp dẫn và đặc biệt phải luôn chú ý củng cố tình cảm cho các