SKKN linh hoạt, sáng tạo trong dạy “quan hệ từ” cho học sinh lớp 5 trường tiểu học - Pdf 40

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"LINH HOẠT, SÁNG TẠO TRONG DẠY “QUAN HỆ TỪ” CHO
HỌC SINH LỚP 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC"

1


A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Môn Tiếng Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ hình thành và phát triển cho học sinh
những kĩ năng cơ bản ban đầu về nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong môi
trường hoạt động của lứa tuổi. Để thực hiện được mục tiêu này, mỗi phân môn trong môn
Tiếng Việt đều có nhiệm vụ quan trọng trong việc hình thành kiến thức, phát triển các kĩ
năng sử dụng tiếng Việt để giao tiếp và làm phương tiện học tập.
Luyện từ và câu ở Tiểu học là phân môn mang tính công cụ nhằm huy động vốn từ,
mở rộng vốn từ làm cho học sinh hiểu nghĩa từ và tác dụng của chúng trong câu, tạo lập
câu,…Có sử dụng từ chính xác, viết câu đúng ngữ pháp thì người đọc, người nghe mới
hiểu được nội dung văn bản. Muốn viết câu trong văn bản đúng và hay ngoài việc dùng
từ chính xác chúng ta cần phải biết liên kết từ, liên kết câu, liên kết các ý lại với nhau. Đó
chính là nhiệm vụ rất quan trọng và khó khăn của phân môn Luyện từ và câu nói chung
và việc dạy Quan hệ từ nói riêng.
Lâu nay, việc học từ ngữ nói chung và học từ loại nói riêng là một phần nhiệm vụ
rất khó khăn đối với học sinh Tiểu học. Bởi vì ranh giới để phân biệt từ, dấu hiệu để nhận
diện các từ do nhiều lúc không rõ ràng. Việc nhận diện các thực từ như: danh từ, động từ,
tính từ đã khó; việc nhận biết các hư từ ( quan hệ từ, phó từ,…) lại càng khó hơn. Bởi thế
mà khi dạy quan hệ từ cho học sinh lớp 5, giáo viên gặp rất nhiều khó khăn trong việc tổ
chức, hướng dẫn, gợi mở để giúp các em nắm được những kiến thức sơ giản ban đầu về
quan hệ từ. Chính vì dạy quan hệ từ là một nội dung khó trong phân môn LT&C ở Tiểu
học nên đã từ lâu bản thân tôi luôn băn khoăn, trăn trở, tìm tòi các biện pháp để giúp học
sinh tiếp thu nội dung quan hệ từ (QHT) một cách nhẹ nhàng, hiệu quả hơn. Nhờ Linh

Việt nói chung và QHT nói riêng cho học sinh.
2. Về học sinh:
a. Ưu điểm:
Phần đa HS nắm chuẩn kiến thức kỹ năng cơ bản của môn Tiếng Việt vì thế chất
lượng môn Tiếng Việt đạt khá cao trên 90% đạt trung bình trở lên. Một số HS có năng
khiếu học văn, yêu thích môn Tiếng Việt.
b. Tồn tại:
Lâu nay, trong thực tế, một bộ phận không nhỏ HS Tiểu học chưa ham thích học
Tiếng Việt nói chung, Luyện từ và câu nói riêng vì các em cho rằng trong bộ môn này có
nhiều quy tắc rườm rà khó nhớ, hay nhầm và hay lẫn lộn. Các em thường lười đọc sách,
báo, truyện ngắn, tiểu thuyết,..mà chỉ đọc các truyện Đô- rê -mon, truyện tranh. Hơn nữa
các em dành thời gian cho môn học này còn ít, chủ yếu là dành thời gian học Toán, Ngoại
ngữ. Chương trình quy định phần QHT ở Tiểu học chỉ học trong 3 tiết. Đây là một thời
lượng rất ít ỏi nhưng phần lớn các em sử dụng chưa có hiệu quả, có khi còn nói chuyện,
làm việc riêng nên không nắm vững bài học, sau một thời gian ngắn là quên ngay các tác
dụng, cách sử dụng QHT. Do HS chưa nắm vững kiến thức của mỗi bài học cho nên
trong nói và viết các em chưa biết sử dụng QHT hay sử dụng QHT không phù hợp với
văn cảnh. Có thể nói đây là tình trạng chung của học sinh Tiểu học hiện nay.
3. Về phía phụ huynh:

3


Một số phụ huynh mặc dù rất quan tâm tới việc học của con cái nhưng do sự hiểu
biết còn hạn chế nên chưa định hướng đúng đắn cho việc học tập của con em. Do xu thế
của xã hội hiện nay viêc “học lệch” khá phổ biến phụ huynh thường động viên con em
tập trung vào các môn khoa học tự nhiên và xem nhẹ các môn khoa học xã hội. Một số
người chỉ quan tâm đầu tư, ép buộc con mình học Toán, học Ngoại ngữ mà không chú
trọng tới môn Tiếng Việt. Cũng có những phụ huynh coi trọng, quan tâm tới việc học
Tiếng Việt của con em mình nhưng thiếu phương pháp hướng dẫn con học môn Tiếng

4


đẽ,…để từ đó GV có định hướng đúng đắn trong việc dạy học môn Tiếng Việt cũng như
dạy nội dung QHT cho HS lớp 5 ngay từ những kiến thức sơ giản đầu tiên của nó.
Giải pháp 2: Linh hoạt sáng tạo khi sử dụng các kỹ thuật, các phương pháp dạy
QHT:
2.1. Sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ:
Đây là phương pháp rất quan trọng trong quá trình dạy học Tiếng Việt nói chung và
dạy quan hệ từ nói riêng.
Phương pháp phân tích ngôn ngữ là phương pháp học sinh dưới sự chỉ dẫn của thầy
giáo vạch ra những hiện tượng ngôn ngữ nhất định từ các tài liệu cho trước, quy các hiện
tượng đó vào một phạm trù nhất định và chỉ rõ đặc trưng của chúng. Như vậy, thực chất
của phương pháp này là từ việc quan sát, phân tích các hiện tượng ngôn ngữ theo các chủ
đề nhất định và tìm ra những dấu hiệu đặc trưng của các hiện tượng ấy. Phương pháp
phân tích phát hiện được tiến hành như sau:
Phân tích – phát hiện:
Trên cơ sở các tài liệu mẫu, thầy giáo sử dụng các câu hỏi định hướng học sinh
quan sát, so sánh đối chiếu và rút ra quy tắc mới. Thao tác này thường được áp dụng
trong quá trình hình thành quy tắc, khái niệm mới của bài học.
Ngoài ra còn có các thao tác: phân tích - chứng minh; phân tích - phán đoán và
phân tích - tổng hợp.
Giáo viên có thể vận dụng phương pháp này vào việc dạy các dạng bài tập về
Quan hệ từ trong phân môn luyện từ và câu. Sau đây tôi xin trình bày cách sử dụng
phương pháp phân tích ngôn ngữ vào dạy hai loại bài tập cơ bản của Quan hệ từ: Bài tập
Hình thành kiến thức và bài tập luyện tập, thực hành.
a. Đối với loại bài tập “Hình thành kiến thức.”
Cách tiến hành:
- Bước 1: Giáo viên giao nhiệm vụ, phát phiếu bài tập và phổ biến hình thức tổ
chức hoạt động.

PHIẾU BÀI TẬP BÀI 1:
Ví dụ

Tìm từ Tác dụng của từ in đậm
in đậm

a.Rừng say ngây và ấm nóng.
b.Tiếng hót dìu dặt của Hoạ Mi giục
các loài chim dạo lên khúc nhạc tưng
bừng ca ngợi núi sông đang đổi mới.
c. Hoa mai trổ từng chùm thưa thớt,
không đơm đặc như hoa đào. Nhưng
cành mai uyển chuyển hơn cành đào.

6


- Nhóm trưởng điều khiển nhóm mình thảo luận để kiểm tra việc hoàn thành bài tập
của từng cá nhân:
Từ in đậm trong câu văn ở ví dụ trên dùng để tả các đặc điểm, tính chất, hoạt
động,... của các sự vật hay nối các từ ngữ tả các đặc điểm, tính chất của sự vật? (Dùng để
nối các từ ngữ tả đặc điểm, tính chất,... của các sự vật )
Bước 3: Tổ chức cho các nhóm báo cáo kết quả, nhận xét, bổ sung
Bước 4: GV tổ chức cho HS tổng hợp và thống nhất các ý kiến, rút ra kết luận:
QHT là từ dùng để nối các từ ngữ, các câu đứng sau và trước nó.
Để giúp HS bước đầu hiểu được ý nghĩa QHT tôi cho HS làm bài tập sau:
Bài 2: Gạch chân dưới các quan hệ từ trong các câu sau và nêu ỹ nghĩa của các câu
sau ? Nhờ vào đâu mà các câu sau có ý nghĩa khác nhau:
a. Anh nói rồi tôi nói.
b. Anh nói và tôi nói.


rồi

Hai người không nói
cùng một lượt, người nói
trước người nói sau.

b. Anh nói và tôi nói.



Cả hai người nói cùng
một lượt.

c. Anh nói nhưng tôi không nhưng
nói.

Chỉ có người thứ nhất
nói, người thứ hai không
nói

d. Anh nói còn tôi nghe.

Người thứ nhất nói,
người thứ hai nghe.

còn

Nhờ vào đâu mà các câu trên có ý nghĩa khác nhau?( nhờ vào QHT trong các câu
trên)

thứ tự trước cùng một
sau
lúc

- Vườn cây đâm chồi Đâm chồi nảy lộc,
nảy lộc rồi vườn cây ra ra hoa
hoa.
- Em học thuộc lý thuyết Học
thuộc

rồi em mới làm bài tập. thuyết, thực hành.
- Các em quét nhà sạch
sẽ rồi mới lau chùi bàn Quét nhà, lau chùi
ghế.
bàn ghế
- Con ăn cơm xong rồi Ăn cơm,
mới uống nước con nhé! nước

uống

+ Nhóm trưởng điều khiển nhóm mình thảo luận thống nhất ý kiến
Nêu các hoạt động trong từng câu trên? ( đầm chồi - nảy lộc ; học lý thuyết - làm
bài tập ; quét nhà - lau chùi bàn ghế ; ăn cơm - uống nước)
Các hoạt động này diễn ra cùng đồng thời một lúc hay các hoạt động đó diễn ra
theo thứ tự trước sau ? ( Diễn ra theo thứ tự trước sau)
Để nối các từ ngữ chỉ các hoạt động đó người ta đã dùng quan hệ từ nào? (dùng
quan hệ từ “rồi”)
Từ rồi thường dùng để nối các từ ngữ có mối quan hệ gì với nhau?( Các từ ngữ đó
chỉ các hoạt động, các đặc điểm diễn ra theo thứ tự trước sau)
Bước 3: Tổ chức cho các nhóm báo cáo kết quả, nhận xét bổ sung.

cùng một lúc:

- Rừng say ngây và ấm
nóng.
Hoa hồng và hoa huệ
đều thơm.
Lan học giỏi và hát
hay.
- Mây bay và gió thổi.
* Nhóm trưởng điều khiển nhóm thảo luận và tìm ra kết luận
Những từ trước và sau từ “và” có quan hệ gì với nhau?( Là các từ có cùng chức vụ
ngữ pháp hay là các từ chỉ các đặc điểm của cùng một sự vật hay các sự việc cùng diễn ra
một lúc)
Vậy quan hệ từ “và” nó dùng để nối các từ ngữ cùng chỉ đặc điểm hay chỉ các
hoạt động của sự vật diễn ra cùng một lúc.

10


Nhóm 3: c. nêu tác dụng của Quan hệ từ “của”:
- Tiếng hót dìu dặt của Hoạ Mi giục các loài chim dạo lên những khúc nhạc tưng
bừng ca ngợi núi sông đang đổi mới .
- Mùi hương ngọt lựng của thảo quả lan toả cả khu rừng.
- Tôi rất thích tiết trời ấm áp của mùa xuân.
* Cá nhân đọc và hoàn thành bài tập sau:
Phiếu bài tập nhóm 3:
Ví dụ

QHT "của" nối Từ đứng trước QHT "của"
các từ nào

Mỗi nhóm chuyên sâu lúc đầu cả 6 em cùng nghiên cứu 1 nội dung, bây giờ sang
giai đoạn 2 mỗi nhóm cúng có 6 em nhưng có 2 thành viên cùng nhóm ở giai đoạn 1(
Nhóm chuyên sâu) tức là mỗi nhóm có 6 em trong đó có 2 em thuộc cùng một nhóm
chuyên sâu lúc đầu. Nhiệm vụ của các em trong giai đoạn này là dùng phương pháp phân
tích ngôn ngữ để hướng dẫn các bạn còn lại biết được tác dụng của QHT mà mình đã
được tìm hiểu ở giai đoạn 1. Đồng thời các em phải chú ý lắng nghe những ý kiến mà các
thành viên trong nhóm mới đưa ra để phân tích tổng hợp tìm ra kết luận hay nhất cho
nhóm mới.
Nêu tác dụng của các từ in đậm: của, và, rồi:
Vận dụng kiến thức vừa tìm hiểu được ở nhóm chuyên sâu lúc đầu để giúp đỡ
hướng dẫn cho những thành viên trong nhóm mình hiểu được tác dụng của quan hệ từ
mình đã được tìm hiểu trước (có thể lấy ví dụ lúc trước hoặc lấy ví dụ khác)
a. QHT của
- Tiếng hót dìu dặt của Hoạ Mi giục các loài chim dạo lên những khúc nhạc tưng
bừng ca ngợi núi sông đang đổi mới.
- Mùi hương ngọt lựng của thảo quả lan toả cả khu rừng.
- Tôi rất thích tiết trời ấm áp của mùa xuân.
Từ đứng sau từ của chỉ sự vật hay chỉ đặc điểm của sự vật?
Từ đứng trước từ của chỉ sự vật hay đặc điểm của sự vật?
Các từ đứng trước và sau từ của có mối quan hệ gì?
Nếu bỏ từ “của” thì câu văn đó có hay không, có thành câu không?
b.QHT và:
- Rừng say ngây và ấm nóng.
- Hoa hồng và hoa huệ đều thơm.
- Lan học giỏi và hát hay.
- Mây bay và gió thổi.
Các từ đứng sau và đứng trước từ và chỉ các hoạt động diễn ra như thế nào?
Các từ đứng trước và sau từ và có điểm gì chung?

12

- Các em về nhà làm đề một hoặc đề hai.
- Tôi ngồi xe máy hoặc chị tôi ngồi xe máy.

13


Trong các câu trên các sự việc trước và sau từ hoặc được thực hiện cả hai sự
việc hay chỉ được thực hiện một sự việc?(Chỉ được lựa chọn thực hiện một sự việc)
Để nối các sự việc ấy lại người ta dùng QHT nào? ( hoặc)
Vậy QHT “hoặc” nối các từ ngữ có mối quan hệ gì với nhau? ( QHT “hoặc” nối
các từ ngữ có mối quan hệ lựa chọn - chỉ được lựa chọn một trong hai sự việc ở trong câu
)
Quan hệ từ “nhưng (mà)”
- Trời rét đậm nhưng (mà) cây cối vẫn xanh tốt.
- Tôi tìm mãi nhưng (mà) không thấy quyển sách ấy đâu cả.
- Mẹ bảo mãi nhưng (mà) con không nghe.
- Tôi học mãi nhưng (mà) không thuộc.
Các sự việc sau và trước từ nhưng (mà) có mối quan hệ gì với nhau? ( các sự việc
này có mối quan hệ tương phản (đối lập) nhau.
Nếu những từ ngữ đứng trước QHT nhưng (mà) nêu sự việc tốt, thuận,… thì
những từ ngữ đứng sau QHT nhưng (mà) nêu sự việc xấu, nghịch,.. hoặc ngược lại.
Vậy khi nối các sự việc có mối quan hệ tương phản đối lập nhau ta dùng quan
hệ từ “nhưng (mà)”
Quan hệ từ “như”:
- Trời nắng như đổ lửa.
- Mưa như trút nước.
- Nói như tát nước và mặt.
- Trông anh hùng dũng như một chàng hiệp sĩ cổ đeo cung ra trận.
- Hàng khuy áo thẳng tắp như hàng quân đang duyệt binh.
Tương tự các quan hệ từ trên từ “như”: Các từ ngữ đứng sau và trước từ như có

Để nối nguyên nhân trời mưa với kết quả đường lầy lội người ta dùng cặp quan hệ
từ nào? (Dùng cặp quan hệ từ Vì - nên). Nếu không có cặp QHT Vì - nên việc xác định
những từ ngữ nào là nguyên nhân, những từ ngữ nào là kết quả có dễ dàng không? Mối
quan hệ nguyên nhân - kết quả có chặt chẽ như trước nữa không?
Các vế câu có quan hệ từ Vì, bởi, do, nhờ, tại, tại vì,…nêu nguyên nhân hay kết
quả của sự việc ? Các vế câu có QHT nên, mà,… làm rõ nội dung gì của sự vệc trong
câu?
(Các vế câu có QHT: Vì, bởi, tại, nhờ, do, tại vì,…làm rõ nguyên nhân của sự việc
trong câu, thường đứng trước những từ ngữ nêu nguyên nhân. Còn các vế câu có quan hệ
từ nên, mà,… làm rõ kết quả của sự việc và các QHT này thường đứng trước các từ ngữ
nêu kết quả trong câu đó.

15


Thông thường vế câu nêu nguyên nhân thường đứng trước bộ phận kết quả.
Khi muốn nhấn mạnh kết quả thì chúng ta làm thế nào? Khi đó cách diễn đạt câu
đó có gì thay đổi? ( Muốn nhấn mạnh kết quả chúng ta đưa vế nêu kết quả lên đầu câu
khi đó QHT đi kèm với vế kết quả bị lược bỏ).
Các cặp quan hệ từ biểu thị mối quan hệ “giả thiết - kết quả”
- Nếu ngày mai trời mưa thì chúng ta không đi cắm trại.
- Hễ cóc kêu thì trời mưa.
GV hướng dẫn HS trả lời các câu hỏi sau để tìm hiểu tác dụng của cặp quan hệ từ
nêu “giả thiết - kết quả” cũng như tác dụng của câu văn nêu giả thiết kết quả.
H . Chúng ta không đi cắm trại là kết quả của giả thiết nào?
H. Giả thiết ngày mai trời mưa đã diễn ra chưa? Nếu giả thiết này không diễn ra thì
kết quả có phải là : “chúng ta không đi cắm trại nữa không”?
H. Khi đọc câu văn này các em hiểu ngày mai trời nắng thì các em làm gì? Còn
trời mưa thì các em sẽ làm gì?
H . Hiểu được hai cách như vậy là nhờ vào đâu?

Tìm quan hệ từ.

-

Các quan hệ từ đó nối những từ ngữ nào trong câu.

Bước 2: Cá nhân HS nhớ lại các đặc điểm của các quan hệ từ đã học.
Bước 3: Cá nhân HS tiến hành làm việc ghi kết quả vào phiếu bài tập.
Bước 4: Các nhóm dưới sự điều khiển của nhóm trưởng thảo luận trong nhóm
thống nhất ý kiến.
Bước 5: Các nhóm thống nhất và kết luận.
Bước 6: Kiểm tra kiến thức:
PHIẾU BÀI TẬP : Gạch hai gạch dưới quan hệ từ và một gạch dưới những từ được
các quan hệ từ đó nối lại.
A Cháng đeo cày. Cái cày của người Hmông to, nặng, bắp cày bằng gỗ tốt màu
đen, vòng như hình cái cung, ôm lấy bộ ngực nở.Trông anh hùng dũng như một chàng
hiệp sĩ cổ đeo cung ra trận.
Khi các nhóm thảo luận GV đến các nhóm hỏi để kiểm tra xem các em có nắm
vững kiến thức không :
H. Đoạn văn trên có mấy câu ? Câu nào có sử dụng quan hệ từ ? QHT nào dùng để
nối những từ nào? Nếu bỏ các quan hệ từ đó thì các câu trên có thành câu nữa không?
Mối quan hệ giữa các câu, các ý có chặt chẽ như trước nữa không ?
Hướng dẫn tương tự với các bài tập luyện tập sau:
Bài 2: Điền quan hệ từ thích hợp trong ngoặc đơn vào chỗ chấm các câu sau:
( của, bằng, mà, và, hay, còn, nhưng)
- Các em đã hoàn thành bài tập Toán … bài tập Tiếng Việt chưa?
- Chiếc xe nổ máy ….lướt nhanh trên đường.

17


thường được sử dụng trong việc tạo ra những câu văn có sử dụng quan hệ từ mà nội dung
các ý trong câu có mối quan hệ chặt chẽ.
Khi mới hình thành được khái niệm, kiến thức để củng cố các kiến thức vừa được hình
thành tôi áp dụng phương pháp Rèn luyện theo mẫu

18


Phương pháp này tôi tiến hành theo các bước sau đây:
- Cung cấp mẫu lời nói hoặc hành động lời nói.
- Hướng dẫn học sinh phân tích mẫu theo 1 số yêu cầu.
- Học sinh mô phỏng mẫu để tạo lời nói của mình.
- Kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm.
Ví dụ : Sử dụng phương pháp rèn luyện theo mẫu để cho học sinh đặt câu có sử dụng
quan hệ từ
-

Em về nhà và……………….……

-

Em về nhà rồi………………..…..

-

Em về nhà còn………………..….

-

Em về nhà hoặc………………….


19


Hằng ngày, chúng ta vẫn thường xuyên dùng QHT vào để diễn đạt nội dung lời nói
và bất kì sự biểu đạt nào cũng có thể sử dụng QHT. Vì vậy, đây là phương pháp rất gần
gũi với học sinh, tích cực hoá được hoạt động học tập của học sinh.
Ví dụ: Sử dụng phương pháp thực hành giao tiếp trong việc củng cố kiến thức và
hình thành kĩ năng giao tiếp của học sinh.
- Các tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp GV tạo ra nhiều tình huống giao tiếp trong
môi trường vui chơi có mục đích. Khi đó GV có thể tổ chức cho các em thi nhau giới
thiệu bản thân hoặc giới thiệu về vấn đề nào đó trước nhóm, tổ, lớp,...Nói thành câu,
đoạn,...mà có sử dụng quan hệ từ ( Tuỳ đối tượng HS để yêu cầu mức độ nhiều hay ít, cao
hay thấp để các em không ngại khó mà phấn đầu thi đua cùng các bạn)
- Khi giao nhiệm vụ cho các bạn trong nhóm: Nếu một bạn làm 2 công việc em sẽ
nói như thế nào? Em hãy nêu câu mình phân công nhiệm vụ cho bạn để bạn biết mình
làm những công việc gì? (An trang trí lớp và làm báo tường nhé !) Để bạn biết công việc
nào làm trước công việc nào làm sau em sẽ nói với bạn như thế nào? (An trang trí lớp
xong rồi làm báo tường nhé!) Để bạn biết lựa chọn một trong hai công việc đó em sẽ nói
như thế nào? (An trang trí lớp hay làm báo tường?). Vận dụng linh hoạt những khoảnh
khắc " Vui chơi có mục đích ” mỗi hôm một ít lâu dần sẽ tạo cho các em một thói quen
bất cứ lúc nào cũng “ học mà chơi - chơi mà học ” rất bổ ích và không biết lúc nào các em
đã tự hình thành cho mình cách nói “ có đầu có đuôi ”; nói có lập luận chặt chẽ, biết sử
dụng QHT để giao tiếp. Với cách học này các em luôn có một môi trường học tập lành
mạnh phát huy được tính độc lập tự chủ, tư duy sáng tạo không máy móc lệ thuộc mọi
công việc vào thầy cô giáo bạn bè và còn luyện tập được thực hành những kiến thức được
học tập hàng ngày .
* Khi dạy bài Đạo Đức: Hợp tác với những người xung quanh ( Đạo Đức lớp 5)
Bước 1: GV nêu tình huống:
- “Có một số bàn ghế để giữa sân. Lúc này, em sẽ nói thế nào để cùng bạn khiêng

bình chọn cách giải quyết tình huống hay nhất, cách sử dụng câu văn hay nhất chặt chẽ
nhất.
Bước 4: Nhận xét tuyên dương HS, chú ý sự tiến bộ của các em dù rất nhỏ cũng
phải động viên khích lệ các em kịp thời. Câu, đoạn chưa hay thì khen HS mạnh dạn, có
cố gắng vươn lên ; câu, đoạn hay thì khen HS chăm chỉ học tập,...
Ví dụ: Trong các tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp GV nên định hướng cho các em
nhóm trưởng, tổ trưởng hay ban cán sự lớp chú ý rèn cách nói khi chơi, khi giao nhiệm
vụ cho bạn,... cần nói những câu có sử dụng quan hệ từ để lời nói, câu văn trở nên chặt
chẽ dễ hiểu hơn.
Ngoài các phương pháp nêu trên. Khi dạy giáo viên có thể vận dụng linh hoạt thêm
các phương pháp khác như: phương pháp trò chơi học tập, phương pháp thảo luận
nhóm,...Mỗi phương pháp có một tác dụng riêng, không có phương pháp nào là vạn năng
cả, vì thế trong bài dạy cần phải sử dụng phối hợp các phương pháp, kỹ thuật và hình
thức tổ chức dạy học khác nhau một cách hợp lí thì kết quả tiết học sẽ cao hơn.
Lưu ý :

21


- Quan hệ từ ngoài tác dụng nối các từ, cụm từ, các vế câu, các đoạn văn lại với
nhau có những QHT nó còn biểu thị quan hệ ngữ pháp ví dụ :
. Tôi nói với bạn.
. Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai
. Mẹ lên giường và trằn trọc.
- Quan hệ từ còn biểu thị quan hệ ngữ nghĩa. Nhưng có những trường hợp nếu
không dùng QHT thì câu văn sẽ biến nghĩa hoặc không rõ nghĩa là những trường hợp bắt
buộc phải dùng QHT.
Ví dụ : Anh nói tôi như vậy là rất tốt. ( Câu này không rõ nghĩa do có ít nhất có hai
cách hiểu : nói về tôi, nói cho tôi. Vì vậy phải có QHT để chỉ có một cách hiểu: Anh nói
về tôi như vậy là rất tốt hoặc dùng QHT khác.)

tự lựa chọn nội dung)
Nêu tác dụng của QHT “ rồi ”
- Vườn cây đâm chồi nảy lộc rồi vườn cây ra hoa.
- Em học thuộc lý thuyết rồi em mới làm bài tập.
- Các em quét nhà sạch sẽ rồi mới lau chùi bàn ghế.
- Con ăn cơm xong rồi mới uống nước con nhé!
GV sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ để tổ chức cho HS hình thành tác
dụng của QHT “ rồi ” là : dùng để nối các từ ngữ chỉ các hoạt động, các đặc điểm,…
diễn ra theo thứ tự trước sau.
Tương tự đối với QHT khác GV cần thêm bài tập vào, tổ chức cho HS tìm hiểu tác
dụng của từng QHT và cách sử dụng từng QHT ( thường dùng vào những trường hợp
nào, các từ ngữ được QHT từ đó nối lại thường cố đặc điểm gì?) rèn cho HS luyện đặt
câu, viết văn có sử dụng từng quan hệ từ QHT đó; sau đó mới cho HS luyện tập tổng hợp
- sử dụng tất cả các QHT.
c. Thay đổi hình thức tổ chức, phương pháp dạy học để gây sự hưng phấn trong học
tập hình thành niềm say mê học Tiếng Việt cho các em.
Ví dụ : Khi áp dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ để giúp HS hiểu tác dụng của
QHT rồi GV tổ chức cho HS chơi các trò chơi học tập để luyện tập kiến thức vừa rút ra
như các trò chơi : “Thi đối đáp”; “Ai đúng”, “Ai nhanh”, “Ai hay ”; ...
Nhóm đôi, nhóm 4, hỏi đối đáp nhau nêu những câu văn có sử dụng QHT mà bạn
mình yêu cầu trong thời gian khoảng 2-3 phút. Đại diện các nhóm báo cáo thành tích của
nhóm mình ; lớp bình chọn câu văn hay nhất, biết sử dụng QHT phù hợp nhất; cá nhân,
nhóm tiêu biểu nhất.
d. Phân hoá đối tượng để giao nhiệm vụ phù hợp cho các em, làm sao em nào cũng
làm được, em nào cũng phải phát huy tối đa năng lực tư duy trong tiết học đó. Tránh tình
trạng cả lớp ra một nội dung một mức độ như nhau em kém làm không xong, còn em giỏi
còn có thời gian thừa để chơi ngay trong một tiết học thời gian quá khiêm tốn là thế.

23


Giải pháp 4: Dạy QHT lồng ghép vào các môn học khác và trong thực tế:
Chương trình Tiếng Việt Tiểu học được xây dựng theo quan điểm tích hợp cả hàng
dọc và hàng ngang. Ngay trong các phân môn khác của Tiếng Việt cũng có nhiệm vụ
giúp học sinh hiểu thêm về quan hệ từ. Bởi vì nếu không lồng ghép quan hệ từ vào dạy

24


trong bài học đó, tiết học đó thì các em sẽ không hiểu hết nội dung cũng như nghệ thuật
của đoạn văn, bài văn.
Ví dụ trong môn Tiếng Việt:
Khi dạy bài Tập đọc “Cao Bằng” (tuần 22 TV lớp 5)
Sau khi qua Đèo Gió
Ta lại vượt Đèo Giàng
Lại vượt đèo Cao Bắc
Thì ta tới Cao Bằng.
Cao Bằng, rõ thật cao
Rồi dần dần bằng xuống….
Nếu chúng ta không cho các em nhận biết tác dụng của các quan hệ từ trong khổ
thơ một và hai, nó còn giúp cho các em hiểu rõ địa thế rất đặc biệt của Cao Bằng là lên
một loạt đèo thì tới Cao Bằng nhưng đến Cao Bằng địa hình lại bắt đầu bằng hơn. Nhờ có
QHT lại, thì ở khổ một mà ta biết chặng đường đầu khi đi lên Cao Bằng đều là lên đèo và
QHT rồi trong khổ thơ thứ hai mà chúng ta biết được sau chặng lên dốc thì chặng tiếp
theo địa hình bằng phẳng hơn. Và rất nhiều bài nữa…
Ví dụ trong môn Toán:
- Khi dạy So sánh phân số ở lớp 4 hoặc lớp 5 chúng ta cũng phải dạy cho học sinh
cách sử dụng quan hệ từ “vì”, “nên” thì học sinh trình bày bài làm trở nên chính xác,
chặt chẽ và khoa học hơn.
2
4

- Khi nhân một số thập phân với 0,1 ; 0,01 ; 0,001 ;… ta làm như thế nào?
( Ta chỉ cần chuyển dấu phẩy của số đó sang trái một, hai, ba,…chữ số.)

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status