skkn linh hoạt, sáng tạo trong dạy “quan hệ từ” cho học sinh lớp 5 trường tiểu học - Pdf 35

S¸ng kiÕn kinh nghiÖm n¨m häc 2013-2014
LINH HOẠT, SÁNG TẠO TRONG DẠY “QUAN HỆ TỪ” CHO HỌC
SINH LỚP 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Môn Tiếng Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ hình thành và phát triển cho học
sinh những kĩ năng cơ bản ban đầu về nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp
trong môi trường hoạt động của lứa tuổi. Để thực hiện được mục tiêu này, mỗi
phân môn trong môn Tiếng Việt đều có nhiệm vụ quan trọng trong việc hình thành
kiến thức, phát triển các kĩ năng sử dụng tiếng Việt để giao tiếp và làm phương
tiện học tập.
Luyện từ và câu ở Tiểu học là phân môn mang tính công cụ nhằm huy động
vốn từ, mở rộng vốn từ làm cho học sinh hiểu nghĩa từ và tác dụng của chúng trong
câu, tạo lập câu,…Có sử dụng từ chính xác, viết câu đúng ngữ pháp thì người đọc,
người nghe mới hiểu được nội dung văn bản. Muốn viết câu trong văn bản đúng và
hay ngoài việc dùng từ chính xác chúng ta cần phải biết liên kết từ, liên kết câu,
liên kết các ý lại với nhau. Đó chính là nhiệm vụ rất quan trọng và khó khăn của
phân môn Luyện từ và câu nói chung và việc dạy Quan hệ từ nói riêng.
Lâu nay, việc học từ ngữ nói chung và học từ loại nói riêng là một phần
nhiệm vụ rất khó khăn đối với học sinh Tiểu học. Bởi vì ranh giới để phân biệt từ,
dấu hiệu để nhận diện các từ do nhiều lúc không rõ ràng. Việc nhận diện các thực
từ như: danh từ, động từ, tính từ đã khó; việc nhận biết các hư từ ( quan hệ từ, phó
từ,…) lại càng khó hơn. Bởi thế mà khi dạy quan hệ từ cho học sinh lớp 5, giáo
viên gặp rất nhiều khó khăn trong việc tổ chức, hướng dẫn, gợi mở để giúp các em
nắm được những kiến thức sơ giản ban đầu về quan hệ từ. Chính vì dạy quan hệ từ
là một nội dung khó trong phân môn LT&C ở Tiểu học nên đã từ lâu bản thân tôi
luôn băn khoăn, trăn trở, tìm tòi các biện pháp để giúp học sinh tiếp thu nội dung
quan hệ từ (QHT) một cách nhẹ nhàng, hiệu quả hơn. Nhờ Linh hoạt sáng tạo
trong dạy “Quan hệ từ”, tôi đã gặt hái được những thành công nhất định trong
việc dạy môn Tiếng Việt và dạy học nói chung.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I .THỰC TRẠNG :

a. Ưu điểm:
Phần đa HS nắm chuẩn kiến thức kỹ năng cơ bản của môn Tiếng Việt vì thế
chất lượng môn Tiếng Việt đạt khá cao trên 90% đạt trung bình trở lên. Một số HS
có năng khiếu học văn, yêu thích môn Tiếng Việt.
b. Tồn tại:
Lâu nay, trong thực tế, một bộ phận không nhỏ HS Tiểu học chưa ham thích
học Tiếng Việt nói chung, Luyện từ và câu nói riêng vì các em cho rằng trong bộ
môn này có nhiều quy tắc rườm rà khó nhớ, hay nhầm và hay lẫn lộn. Các em
thường lười đọc sách, báo, truyện ngắn, tiểu thuyết,..mà chỉ đọc các truyện Đô- rê mon, truyện tranh. Hơn nữa các em dành thời gian cho môn học này còn ít, chủ
yếu là dành thời gian học Toán, Ngoại ngữ. Chương trình quy định phần QHT ở
Tiểu học chỉ học trong 3 tiết. Đây là một thời lượng rất ít ỏi nhưng phần lớn các
em sử dụng chưa có hiệu quả, có khi còn nói chuyện, làm việc riêng nên không
nắm vững bài học, sau một thời gian ngắn là quên ngay các tác dụng, cách sử dụng
QHT. Do HS chưa nắm vững kiến thức của mỗi bài học cho nên trong nói và viết
các em chưa biết sử dụng QHT hay sử dụng QHT không phù hợp với văn cảnh. Có
thể nói đây là tình trạng chung của học sinh Tiểu học hiện nay.
3. Về phía phụ huynh:
Một số phụ huynh mặc dù rất quan tâm tới việc học của con cái nhưng do
sự hiểu biết còn hạn chế nên chưa định hướng đúng đắn cho việc học tập của con
2


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm n¨m häc 2013-2014
em. Do xu thế của xã hội hiện nay viêc “học lệch” khá phổ biến phụ huynh thường
động viên con em tập trung vào các môn khoa học tự nhiên và xem nhẹ các môn
khoa học xã hội. Một số người chỉ quan tâm đầu tư, ép buộc con mình học Toán,
học Ngoại ngữ mà không chú trọng tới môn Tiếng Việt. Cũng có những phụ huynh
coi trọng, quan tâm tới việc học Tiếng Việt của con em mình nhưng thiếu phương
pháp hướng dẫn con học môn Tiếng Việt, nhất là phân môn Luyện từ và câu.
4. Về môi trường giáo dục:

đó GV có định hướng đúng đắn trong việc dạy học môn Tiếng Việt cũng như dạy
nội dung QHT cho HS lớp 5 ngay từ những kiến thức sơ giản đầu tiên của nó.

3


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm n¨m häc 2013-2014
Giải pháp 2: Linh hoạt sáng tạo khi sử dụng các kỹ thuật, các phương pháp
dạy QHT:
2.1. Sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ:
Đây là phương pháp rất quan trọng trong quá trình dạy học Tiếng Việt nói
chung và dạy quan hệ từ nói riêng.
Phương pháp phân tích ngôn ngữ là phương pháp học sinh dưới sự chỉ dẫn
của thầy giáo vạch ra những hiện tượng ngôn ngữ nhất định từ các tài liệu cho
trước, quy các hiện tượng đó vào một phạm trù nhất định và chỉ rõ đặc trưng của
chúng. Như vậy, thực chất của phương pháp này là từ việc quan sát, phân tích các
hiện tượng ngôn ngữ theo các chủ đề nhất định và tìm ra những dấu hiệu đặc trưng
của các hiện tượng ấy. Phương pháp phân tích phát hiện được tiến hành như sau:
Phân tích – phát hiện:
Trên cơ sở các tài liệu mẫu, thầy giáo sử dụng các câu hỏi định hướng học
sinh quan sát, so sánh đối chiếu và rút ra quy tắc mới. Thao tác này thường được
áp dụng trong quá trình hình thành quy tắc, khái niệm mới của bài học.
Ngoài ra còn có các thao tác: phân tích - chứng minh; phân tích - phán đoán
và phân tích - tổng hợp.
Giáo viên có thể vận dụng phương pháp này vào việc dạy các dạng bài tập
về Quan hệ từ trong phân môn luyện từ và câu. Sau đây tôi xin trình bày cách sử
dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ vào dạy hai loại bài tập cơ bản của Quan hệ
từ: Bài tập Hình thành kiến thức và bài tập luyện tập, thực hành.
a. Đối với loại bài tập “Hình thành kiến thức.”
Cách tiến hành:

- Nhóm trưởng điều khiển nhóm làm việc:
Cá nhân đọc và hoàn thành bài tập 1:
PHIẾU BÀI TẬP BÀI 1:
Ví dụ

Tìm từ Tác dụng của từ in đậm
in đậm

a.Rừng say ngây và ấm nóng.
b.Tiếng hót dìu dặt của Hoạ Mi giục các
loài chim dạo lên khúc nhạc tưng bừng ca
ngợi núi sông đang đổi mới.
c. Hoa mai trổ từng chùm thưa thớt, không
đơm đặc như hoa đào. Nhưng cành mai
uyển chuyển hơn cành đào.
- Nhóm trưởng điều khiển nhóm mình thảo luận để kiểm tra việc hoàn thành
bài tập của từng cá nhân:
Từ in đậm trong câu văn ở ví dụ trên dùng để tả các đặc điểm, tính chất, hoạt
động,... của các sự vật hay nối các từ ngữ tả các đặc điểm, tính chất của sự vật?
(Dùng để nối các từ ngữ tả đặc điểm, tính chất,... của các sự vật )
Bước 3: Tổ chức cho các nhóm báo cáo kết quả, nhận xét, bổ sung
Bước 4: GV tổ chức cho HS tổng hợp và thống nhất các ý kiến, rút ra kết
luận: QHT là từ dùng để nối các từ ngữ, các câu đứng sau và trước nó.
Để giúp HS bước đầu hiểu được ý nghĩa QHT tôi cho HS làm bài tập sau:
Bài 2: Gạch chân dưới các quan hệ từ trong các câu sau và nêu ỹ nghĩa của
các câu sau ? Nhờ vào đâu mà các câu sau có ý nghĩa khác nhau:
a. Anh nói rồi tôi nói.
5




Hai người không nói cùng
một lượt, người nói trước
người nói sau.

b. Anh nói và tôi nói.



Cả hai người nói cùng một
lượt.

c. Anh nói nhưng tôi không nói. nhưng
d. Anh nói còn tôi nghe.

còn

Chỉ có người thứ nhất nói,
người thứ hai không nói
Người thứ nhất nói, người
thứ hai nghe.

Nhờ vào đâu mà các câu trên có ý nghĩa khác nhau?( nhờ vào QHT trong
các câu trên)
Bước 3 : Tổ chức cho các nhóm báo cáo kết quả, nhận xét, bổ sung
Bước 4 : GV tổ chức cho HS tổng hợp và thống nhất các ý kiến, rút ra kết
Để giúp HS hiểu được thấu đáo hơn ý nghĩa của QHT và sử dụng được QHT
trong nói và viết tôi cho HS làm bài tập sau:
Bài 3: Hình thành kiến thức về một số quan hệ từ: rồi, và, của...
6

rồi em mới làm bài tập.
thực hành.
- Các em quét nhà sạch sẽ
rồi mới lau chùi bàn ghế. Quét nhà, lau chùi
bàn ghế
- Con ăn cơm xong rồi Ăn cơm, uống nước
mới uống nước con nhé!
+ Nhóm trưởng điều khiển nhóm mình thảo luận thống nhất ý kiến
Nêu các hoạt động trong từng câu trên? ( đầm chồi - nảy lộc ; học lý thuyết làm bài tập ; quét nhà - lau chùi bàn ghế ; ăn cơm - uống nước)
Các hoạt động này diễn ra cùng đồng thời một lúc hay các hoạt động đó diễn
ra theo thứ tự trước sau ? ( Diễn ra theo thứ tự trước sau)
Để nối các từ ngữ chỉ các hoạt động đó người ta đã dùng quan hệ từ nào?
(dùng quan hệ từ “rồi”)
7


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm n¨m häc 2013-2014
Từ rồi thường dùng để nối các từ ngữ có mối quan hệ gì với nhau?( Các từ
ngữ đó chỉ các hoạt động, các đặc điểm diễn ra theo thứ tự trước sau)
Bước 3: Tổ chức cho các nhóm báo cáo kết quả, nhận xét bổ sung.
Bước 4: Nhóm rút ra kiến thức:
Vậy quan hệ từ “rồi” thường dùng để nối các từ ngữ chỉ các hoạt động,
các đặc điểm,… diễn ra theo thứ tự trước sau.
* Tương tự tiến hành luyên tập về QHT vào các buổi học tăng tôi tổ
chức cho các em luyện tập như sau:
Nhóm 2: b. nêu tác dụng của quan hệ từ “và”:
- Rừng say ngây và ấm nóng.
- Hoa hồng và hoa huệ đều thơm.
- Lan học giỏi và hát hay.
- Mây bay và gió thổi.


8


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm n¨m häc 2013-2014
- Tiếng hót dìu dặt của Hoạ Mi giục các loài chim dạo lên những khúc nhạc
tưng bừng ca ngợi núi sông đang đổi mới .
- Mùi hương ngọt lựng của thảo quả lan toả cả khu rừng.
- Tôi rất thích tiết trời ấm áp của mùa xuân.
* Cá nhân đọc và hoàn thành bài tập sau:
Phiếu bài tập nhóm 3:
Ví dụ

QHT "của" nối các Từ đứng trước QHT "của" chỉ
từ nào
sự vật hay đặc điểm, tính chất
của sự vật đứng sau QHT "của"

- Tiếng hót dìu dặt của
Hoạ Mi giục các loài
chim dạo lên những khúc
nhạc tưng bừng ca ngợi
núi sông đang đổi mới .
- Mùi hương ngọt lựng
của thảo quả lan toả cả
khu rừng.
- Tôi rất thích tiết trời ấm
áp của mùa xuân.
* Nhóm trưởng điều khiển các thành viên trong nhóm thảo luận thống nhất ý
kiến và rút ra kết luận:

Từ đứng sau từ của chỉ sự vật hay chỉ đặc điểm của sự vật?
Từ đứng trước từ của chỉ sự vật hay đặc điểm của sự vật?
Các từ đứng trước và sau từ của có mối quan hệ gì?
Nếu bỏ từ “của” thì câu văn đó có hay không, có thành câu không?
b.QHT và:
- Rừng say ngây và ấm nóng.
- Hoa hồng và hoa huệ đều thơm.
- Lan học giỏi và hát hay.
- Mây bay và gió thổi.
Các từ đứng sau và đứng trước từ và chỉ các hoạt động diễn ra như thế nào?
Các từ đứng trước và sau từ và có điểm gì chung?
Trong các câu đó có thể thay từ và bằng ngữ khác hay dấu câu gì hay bỏ nó
đi được không?
c. QHT rồi:
- Vườn cây đâm chồi nảy lộc rồi vườn cây ra hoa.
- Em học thuộc lý thuyết rồi em mới làm bài tập.
- Các em quét nhà sạch sẽ rồi mới lau chùi bàn ghế.
- Con ăn cơm xong rồi mới uống nước con nhé!
Các từ được từ rồi nối lại là những từ nào?
Các từ được từ rồi nối lại chỉ các hoạt động diễn ra như thế nào?
Chúng ta có thể bỏ từ rồi được không? Hay có thể thay từ “rồi” bằng từ ngữ
khác được không?
10


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm n¨m häc 2013-2014
QHT rồi có tác dụng nối những từ ngữ có đặc điểm gì?( QHT “rồi” có tác
dụng nối các từ ngữ chỉ các hoạt động, các đặc điểm diễn ra theo thứ tự trước sau)
Sau khi các nhóm đã hoàn thành xong giai đoạn 2 GV tổ chức cho các nhóm
báo cáo kết quả của nhóm mình đúc rút được để cả lớp nhận xét thống nhất và rút

11


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm n¨m häc 2013-2014
Nếu những từ ngữ đứng trước QHT nhưng (mà) nêu sự việc tốt, thuận,…
thì những từ ngữ đứng sau QHT nhưng (mà) nêu sự việc xấu, nghịch,.. hoặc
ngược lại.
Vậy khi nối các sự việc có mối quan hệ tương phản đối lập nhau ta dùng
quan hệ từ “nhưng (mà)”
Quan hệ từ “như”:
- Trời nắng như đổ lửa.
- Mưa như trút nước.
- Nói như tát nước và mặt.
- Trông anh hùng dũng như một chàng hiệp sĩ cổ đeo cung ra trận.
- Hàng khuy áo thẳng tắp như hàng quân đang duyệt binh.
Tương tự các quan hệ từ trên từ “như”: Các từ ngữ đứng sau và trước từ
như có mối quan hệ gì với nhau? (Những từ ngữ đứng sau làm rõ đặc điểm của sự
vật được nêu ở trước từ “như”, là vật được so sánh với sự vật đứng trước từ “như”)
Quan hệ từ “trên”:
- Chú chuồn chuồn nước đậu trên một cành lộc vừng .
- Màu vàng trên lưng chú lấp lánh.
- Sóng nhè nhẹ liếm trên bãi cát, tung bọt trắng xoá.
Chú chuồn chuồn đậu ở đâu? (Trên cành lộc vừng)
Màu vàng ở vị trí nào? ( Trên lưng)
Sóng nhè nhẹ liếm nơi nào? ( Trên bãi cát)
Để nối các sự vật “chuồn chuồn”, “màu vàng”, “sóng” với vị trí hoạt động
của sự vật đó ta dùng quan hệ từ nào?( Quan hệ từ “trên”)
Vậy quan hệ từ “trên” có tác dụng nối các sự vật với vị trí diễn ra các hoạt
động hay nối sự vật với vị trí chỉ đặc điểm của sự vật đó.
* Cặp quan hệ từ:

Khi muốn nhấn mạnh kết quả thì chúng ta làm thế nào? Khi đó cách diễn đạt
câu đó có gì thay đổi? ( Muốn nhấn mạnh kết quả chúng ta đưa vế nêu kết quả lên
đầu câu khi đó QHT đi kèm với vế kết quả bị lược bỏ).
Các cặp quan hệ từ biểu thị mối quan hệ “giả thiết - kết quả”
- Nếu ngày mai trời mưa thì chúng ta không đi cắm trại.
- Hễ cóc kêu thì trời mưa.
GV hướng dẫn HS trả lời các câu hỏi sau để tìm hiểu tác dụng của cặp quan
hệ từ nêu “giả thiết - kết quả” cũng như tác dụng của câu văn nêu giả thiết kết quả.
H . Chúng ta không đi cắm trại là kết quả của giả thiết nào?
H. Giả thiết ngày mai trời mưa đã diễn ra chưa? Nếu giả thiết này không
diễn ra thì kết quả có phải là : “chúng ta không đi cắm trại nữa không”?
H. Khi đọc câu văn này các em hiểu ngày mai trời nắng thì các em làm gì?
Còn trời mưa thì các em sẽ làm gì?
H . Hiểu được hai cách như vậy là nhờ vào đâu?
H . Nếu câu văn chỉ viết: “Ngày mai trời mưa, chúng ta không đi cắm trại”
thì có được hiểu theo hai cách như thế không? Mối liên kết giữa các vế câu đó có
chặt chẽ như khi sử dụng cặp quan hệ từ “nếu- thì” không?
13


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm n¨m häc 2013-2014
Như vậy các cặp quan hệ từ : “nếu - thì”, “hễ - thì”,..dùng để nối các vế câu
có mối quan hệ giả thiết - kết quả. Nhờ có các cặp quan hệ từ này mà mối quan hệ
giữa các vế câu trở nên chặt chẽ hơn, rõ ràng hơn, câu văn trở nên sinh động hơn.
Các cặp quan hệ từ biểu thị mối quan hệ “tương phản”
- Tuy thời tiết rét đậm rét hại kéo dài nhưng cây lúa trên đồng vẫn tươi tốt.
- Mặc dù nhà ở xa trường nhưng Hoàng không bao giờ đi học muộn.
Thời tiết rét đậm rét hại thì thường cây cối có phát triển tươi tốt không? Rét
mà cây cối vẫn tươi tốt điều đó có mâu thuẩn với sự phát triển của cây cối khi thời
tiết xấu không?

màu đen, vòng như hình cái cung, ôm lấy bộ ngực nở.Trông anh hùng dũng như
một chàng hiệp sĩ cổ đeo cung ra trận.
14


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm n¨m häc 2013-2014
Khi các nhóm thảo luận GV đến các nhóm hỏi để kiểm tra xem các em có
nắm vững kiến thức không :
H. Đoạn văn trên có mấy câu ? Câu nào có sử dụng quan hệ từ ? QHT nào
dùng để nối những từ nào? Nếu bỏ các quan hệ từ đó thì các câu trên có thành câu
nữa không? Mối quan hệ giữa các câu, các ý có chặt chẽ như trước nữa không ?
Hướng dẫn tương tự với các bài tập luyện tập sau:
Bài 2: Điền quan hệ từ thích hợp trong ngoặc đơn vào chỗ chấm các câu sau:
( của, bằng, mà, và, hay, còn, nhưng)
- Các em đã hoàn thành bài tập Toán … bài tập Tiếng Việt chưa?
- Chiếc xe nổ máy ….lướt nhanh trên đường.
- Tôi rất yêu chiếc cặp làm……. da của bố mua tặng tôi.
- Cây đa ….. làng tôi rất cổ kính.
- Anh hát ….. tôi hát?
- Nó học hành ngày càng tấn tới….. tôi thì ngày một kém đi.
- Tôi đọc mãi …… chẳng thuộc.
- Quyển sách này ….. tôi.
Cho HS thảo luận nhóm tìm quan hệ từ cần điền thích hợp, sau đó HS trình
bày, nhận xét và kết luận từ nào điền vào là thích hợp nhất. GV bổ sung sửa chữa
kết luận của HS: Cần nhấn mạnh cho HS biết nếu không điền QHT thích hợp vào
các dòng trên thì các dòng đó đã thành câu hoàn chỉnh chưa? Nội dung thông báo
của câu có hợp lý không?
Bài 3: Điền quan hệ từ thích hợp vào chỗ chấm
Ôi chao! Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao! Màu vàng …..lưng chú
lấp lánh. Bốn cái cánh mỏng……..giấy bóng. Cái đầu tròn …..hai con mắt long

Ví dụ : Sử dụng phương pháp rèn luyện theo mẫu để cho học sinh đặt câu có sử
dụng quan hệ từ
-

Em về nhà và……………….……

-

Em về nhà rồi………………..…..

-

Em về nhà còn………………..….

-

Em về nhà hoặc………………….

-

Em về nhà nhưng……………..…

-

Em về nhà mà……………………

-

Em về nhà hay…………………...


lớp,...Nói thành câu, đoạn,...mà có sử dụng quan hệ từ ( Tuỳ đối tượng HS để yêu
cầu mức độ nhiều hay ít, cao hay thấp để các em không ngại khó mà phấn đầu thi
đua cùng các bạn)
- Khi giao nhiệm vụ cho các bạn trong nhóm: Nếu một bạn làm 2 công việc
em sẽ nói như thế nào? Em hãy nêu câu mình phân công nhiệm vụ cho bạn để bạn
biết mình làm những công việc gì? (An trang trí lớp và làm báo tường nhé !) Để
bạn biết công việc nào làm trước công việc nào làm sau em sẽ nói với bạn như thế
nào? (An trang trí lớp xong rồi làm báo tường nhé!) Để bạn biết lựa chọn một
trong hai công việc đó em sẽ nói như thế nào? (An trang trí lớp hay làm báo
tường?). Vận dụng linh hoạt những khoảnh khắc " Vui chơi có mục đích ” mỗi
hôm một ít lâu dần sẽ tạo cho các em một thói quen bất cứ lúc nào cũng “ học mà
chơi - chơi mà học ” rất bổ ích và không biết lúc nào các em đã tự hình thành cho
mình cách nói “ có đầu có đuôi ”; nói có lập luận chặt chẽ, biết sử dụng QHT để
giao tiếp. Với cách học này các em luôn có một môi trường học tập lành mạnh phát
huy được tính độc lập tự chủ, tư duy sáng tạo không máy móc lệ thuộc mọi công
việc vào thầy cô giáo bạn bè và còn luyện tập được thực hành những kiến thức
được học tập hàng ngày .
* Khi dạy bài Đạo Đức: Hợp tác với những người xung quanh ( Đạo Đức
lớp 5)
Bước 1: GV nêu tình huống:
- “Có một số bàn ghế để giữa sân. Lúc này, em sẽ nói thế nào để cùng bạn
khiêng số bàn ghế đó vào phòng học ”.
Bước 2: HS Thảo luận nhóm bàn ghi các câu mà nhóm mình chuẩn bị vào
phiếu bài tập.
(- Mình và các bạn khiêng bàn ghế vào lớp đi!
17


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm n¨m häc 2013-2014
- Mình bảo này: các bạn nam đằng ấy khiêng bàn còn các bạn nữ đằng này

văn trở nên chặt chẽ dễ hiểu hơn.
Ngoài các phương pháp nêu trên. Khi dạy giáo viên có thể vận dụng linh
hoạt thêm các phương pháp khác như: phương pháp trò chơi học tập, phương pháp
thảo luận nhóm,...Mỗi phương pháp có một tác dụng riêng, không có phương pháp
nào là vạn năng cả, vì thế trong bài dạy cần phải sử dụng phối hợp các phương
pháp, kỹ thuật và hình thức tổ chức dạy học khác nhau một cách hợp lí thì kết quả
tiết học sẽ cao hơn.
18


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm n¨m häc 2013-2014

Lưu ý :
- Quan hệ từ ngoài tác dụng nối các từ, cụm từ, các vế câu, các đoạn văn lại
với nhau có những QHT nó còn biểu thị quan hệ ngữ pháp ví dụ :
. Tôi nói với bạn.
. Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai
. Mẹ lên giường và trằn trọc.
- Quan hệ từ còn biểu thị quan hệ ngữ nghĩa. Nhưng có những trường hợp
nếu không dùng QHT thì câu văn sẽ biến nghĩa hoặc không rõ nghĩa là những
trường hợp bắt buộc phải dùng QHT.
Ví dụ : Anh nói tôi như vậy là rất tốt. ( Câu này không rõ nghĩa do có ít nhất
có hai cách hiểu : nói về tôi, nói cho tôi. Vì vậy phải có QHT để chỉ có một cách
hiểu: Anh nói về tôi như vậy là rất tốt hoặc dùng QHT khác.)
- Sử dụng QHT trong câu văn đoạn văn là rất tốt vì nó tạo được sự gắn kết
các ý trong đoạn văn trở nên chặt chẽ hơn, nhưng cũng không quá lạm dụng sử
dụng tràn lan, không phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp
Giải pháp 3: Đa dạng hoá các hình thức tổ chức và linh hoạt trong lựa
chọn nội dung dạy QHT:
a. Khi dạy quan hệ từ GV không nên tuân thủ máy móc theo các nội dung ở

- Con ăn cơm xong rồi mới uống nước con nhé!
GV sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ để tổ chức cho HS hình thành
tác dụng của QHT “ rồi ” là : dùng để nối các từ ngữ chỉ các hoạt động, các đặc
điểm,… diễn ra theo thứ tự trước sau.
Tương tự đối với QHT khác GV cần thêm bài tập vào, tổ chức cho HS tìm
hiểu tác dụng của từng QHT và cách sử dụng từng QHT ( thường dùng vào những
trường hợp nào, các từ ngữ được QHT từ đó nối lại thường cố đặc điểm gì?) rèn
cho HS luyện đặt câu, viết văn có sử dụng từng quan hệ từ QHT đó; sau đó mới
cho HS luyện tập tổng hợp - sử dụng tất cả các QHT.
c. Thay đổi hình thức tổ chức, phương pháp dạy học để gây sự hưng phấn
trong học tập hình thành niềm say mê học Tiếng Việt cho các em.
Ví dụ : Khi áp dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ để giúp HS hiểu tác
dụng của QHT rồi GV tổ chức cho HS chơi các trò chơi học tập để luyện tập kiến
thức vừa rút ra như các trò chơi : “Thi đối đáp”; “Ai đúng”, “Ai nhanh”, “Ai hay ”;
...
Nhóm đôi, nhóm 4, hỏi đối đáp nhau nêu những câu văn có sử dụng QHT
mà bạn mình yêu cầu trong thời gian khoảng 2-3 phút. Đại diện các nhóm báo cáo
thành tích của nhóm mình ; lớp bình chọn câu văn hay nhất, biết sử dụng QHT phù
hợp nhất; cá nhân, nhóm tiêu biểu nhất.
d. Phân hoá đối tượng để giao nhiệm vụ phù hợp cho các em, làm sao em
nào cũng làm được, em nào cũng phải phát huy tối đa năng lực tư duy trong tiết
học đó. Tránh tình trạng cả lớp ra một nội dung một mức độ như nhau em kém làm
không xong, còn em giỏi còn có thời gian thừa để chơi ngay trong một tiết học thời
gian quá khiêm tốn là thế.
Ví dụ: Khi làm bài tập luyện tập:
Bài 2 : Điền quan hệ từ thích hợp vào chỗ chấm:
Ôi chao! Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao! Màu vàng …..lưng chú
lấp lánh. Bốn cái cánh mỏng……..giấy bóng. Cái đầu tròn …..hai con mắt long
20


Chương trình Tiếng Việt Tiểu học được xây dựng theo quan điểm tích hợp
cả hàng dọc và hàng ngang. Ngay trong các phân môn khác của Tiếng Việt cũng có
nhiệm vụ giúp học sinh hiểu thêm về quan hệ từ. Bởi vì nếu không lồng ghép quan
hệ từ vào dạy trong bài học đó, tiết học đó thì các em sẽ không hiểu hết nội dung
cũng như nghệ thuật của đoạn văn, bài văn.
Ví dụ trong môn Tiếng Việt:
Khi dạy bài Tập đọc “Cao Bằng” (tuần 22 TV lớp 5)
Sau khi qua Đèo Gió
Ta lại vượt Đèo Giàng
Lại vượt đèo Cao Bắc
21


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm n¨m häc 2013-2014
Thì ta tới Cao Bằng.
Cao Bằng, rõ thật cao
Rồi dần dần bằng xuống….
Nếu chúng ta không cho các em nhận biết tác dụng của các quan hệ từ trong
khổ thơ một và hai, nó còn giúp cho các em hiểu rõ địa thế rất đặc biệt của Cao
Bằng là lên một loạt đèo thì tới Cao Bằng nhưng đến Cao Bằng địa hình lại bắt đầu
bằng hơn. Nhờ có QHT lại, thì ở khổ một mà ta biết chặng đường đầu khi đi lên
Cao Bằng đều là lên đèo và QHT rồi trong khổ thơ thứ hai mà chúng ta biết được
sau chặng lên dốc thì chặng tiếp theo địa hình bằng phẳng hơn. Và rất nhiều bài
nữa…
Ví dụ trong môn Toán:
- Khi dạy So sánh phân số ở lớp 4 hoặc lớp 5 chúng ta cũng phải dạy cho học
sinh cách sử dụng quan hệ từ “vì”, “nên” thì học sinh trình bày bài làm trở nên
chính xác, chặt chẽ và khoa học hơn.
So sánh 2 phân số sau:



Bước2:



- Khi nhân một số thập phân với 0,1 ; 0,01 ; 0,001 ;… ta làm như thế nào?
( Ta chỉ cần chuyển dấu phẩy của số đó sang trái một, hai, ba,…chữ số.)
- Khi chia một số cho 0,125 ta làm thế nào?( khi chia một số với 0,125 ta chỉ cần
nhân số đó với 8)
- Khi 2 tam giác có cùng diện tích nếu cạnh đáy của tam giác này gấp đôi
tam giác kia thì đường cao của tam giác này sẽ bằng bao nhiêu phần đường cao
của tam giác kia?
Có thể nói việc sử dụng quan hệ từ trong dạy dọc Toán rất thường xuyên
hầu như bài học nào, tiết học nào của môn Toán đều phải sử dụng quan hệ từ vì thế
chúng ta lồng ghép dạy quan hệ từ vào trong dạy Toán.
Ví dụ trong môn Khoa Học:
Khi hướng dẫn HS làm thí nghiệm:
- Trộn dầu ăn với nước em có nhận xét gì?
22


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm n¨m häc 2013-2014
- Nếu trộn lẫn một ít nước với xi măng thì xi măng lúc này sẽ có đặc điểm
gì? Điều đó chứng tỏ đây là biến đổi Lý học hay biến đổi Hoá học?
Ví dụ trong môn Địa Lý:
Khi hướng dẫn HS tìm hiểu khí hậu, đặc điểm tự nhiên của châu Phi:
- Do địa hình của châu Phi như một cao nguyên khổng lồ giữa có các bồn
địa, không có biển ăn sâu vào đất liền, có đường xích đạo đi ngang qua giữa châu
lục nên đặc điểm tự nhiên, khí hậu ở châu lục này như thế nào? ( Nóng và khô bậc
nhất thế giới.)

dụng kỹ thuật dạy học tích cực vào để chơi trò chơi sau. HS dựa vào vốn hiểu biết
thực tế của mình để cùng nhau chơi trò chơi. Kết thúc trò chơi GV không nhận xét
đúng sai mà chỉ tuyên dương động vên khuyến khích các em học tập tốt trong tiết
học để tự trả lời được bạn nào làm đúng bạn nào làm chưa đúng nhóm nào làm tốt
nhóm nào làm chưa tốt đồng thời kết hợp để giới thiệu bài, ghi mục.
1. Trò chơi thi điền các từ thích hợp ở cột B vào chỗ chấm ở các dòng trong
cột A để tạo thành câu:
A

B

Bầu …..bí sống rất hoà thuận bên nhau.

nhưng

Mùa xuân, bưởi ra hoa …. tạo quả.



Anh Ba nghèo …..rất tốt bụng.

Rồi

Chiếc áo ….. mẹ tôi đã phai màu.

Như

Trời mưa đường trơn….đổ mỡ.

của

in đậm đó trong câu:

a.Rừng say ngây và ấm nóng.
b.Tiếng hót dìu dặt của Hoạ Mi giục các
loài chim dạo lên khúc nhạc tưng bừng ca
ngợi núi sông đang đổi mới.
c. Hoa mai trổ từng chùm thưa thớt, không
đơm đặc như hoa đào. Nhưng cành mai
uyển chuyển hơn cành đào.
Nếu rừng cây cứ bị chặt phá xơ xác thì
mặt đất sẽ ngày càng vắng bóng chim.
Tuy mảnh vườn ngoài ban công của nhà
Thu thật nhỏ bé nhưng bầy chim vẫn
thường rủ nhau về tụ hội.
Dự kiến kết quả cá nhân HS làm ở phiếu bài tập
Ví dụ

Từ in đậm

Được dùng để (Tác dụng)

a.Rừng say ngây và ấm nóng.



Nối say ngây và ấm nóng

b.Tiếng hót dìu dặt của Hoạ Mi giục của
các loài chim dạo lên khúc nhạc tưng
bừng ca ngợi núi sông đang đổi mới.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status