SỞ GD&ĐT THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT BỈM SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DẠY - HỌC VĂN TẢ CẢNH CHO HỌC SINH LỚP 5
TRƯỜNG TIỂU HỌC BA ĐÌNH - BỈM SƠN
Người thực hiện: Nguyễn Thị Tuyên
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường Tiểu học Ba Đình – Bỉm Sơn
SKKN thuộc lĩnh vực: Tiếng Việt
THANH HÓA NĂM 2017
MỤC LỤC
STT
NỘI DUNG
TRANG
A. MỞ ĐẦU
1
1
6
Thực trạng
4
7
8
6
6
12
Các giải pháp
Giúp học sinh nắm vững những kiến thức cơ bản về văn
miêu tả cảnh.
Rèn cho học sinh một số kĩ năng cơ bản về miêu tả cảnh.
Làm giàu vốn từ cho học sinh và rèn cho các em cách dùng
từ.
Rèn cho học sinh biết viết câu văn giàu hình ảnh và sử
dụng các biện pháp nghệ thuật vào bài văn
Bồi dưỡng vốn sống, vốn kiến thức thực tế cho học sinh.
16
13
Hiệu quả
A. MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Dạy tốt phân môn tập làm văn cho học sinh Tiểu học nói chung và văn tả
cảnh cho học sinh lớp 5 nói riêng, luôn là vấn đề được đông đảo giáo viên Tiểu
học quan tâm.
Tuy đã có rất nhiều những sáng kiến kinh nghiệm và các đề tài khoa học
nghiên cứu về các biện pháp để nhằm nâng cao chất lượng học văn miêu tả cho
học sinh Tiểu học. Thế nhưng việc áp dụng các sáng kiến kinh nghiệm và các đề
tài khoa học đó vào việc giảng dạy có hiệu quả hay không, nó còn phụ thuộc vào
rất nhiều yếu tố như: Trình độ của các đối tượng học sinh trong lớp; điều kiện về
thời gian; cơ sở vật chất; điều kiện về hoàn cảnh, môi trường học sinh đang sống
vv…Chính vì thế mà chưa thể có một đề tài khoa học hay sáng kiến kinh
nghiệm nào có thể đem ra áp dụng hữu hiệu cho tất cả. Bởi vậy, mỗi giáo viên
trong giảng dạy vẫn phải căn cứ vào tình hình thực tế của lớp mình để nghiên
cứu tìm ra những biện pháp dạy học cho phù hợp.
Mặt khác, trong xu thế xã hội hiện nay, tình trạng học sinh học lệch vẫn
đang còn tồn tại. Một số em chỉ thiên về học Toán và các môn học tự nhiên còn
các môn học xã hội trong đó có môn Văn thì bị xem nhẹ. Nhiều em học chỉ là để
đối phó với thầy, cô cho nên mới dẫn đến tình trạng có nhiều học sinh đạt kết
quả tốt về môn Toán nhưng kết quả môn Văn lại chưa đạt yêu cầu.
Thế nhưng trong công cuộc đổi mới hiện nay của đất nước, khi vấn đề hội
nhập quốc tế đã và đang được thực thi mạnh mẽ thì cần phải có những con
người năng động, sáng tạo và phát triển toàn diện. Không thể có tình trạng một
kĩ sư ra trường được nhận vào làm việc mà không biết viết một bản báo cáo
hoặc viết mà còn nhiều thiếu sót về hành văn, về câu từ, về lỗi chính tả vv…
Chính nhu cầu đó của xã hội hiện nay, đã đặt ra cho người dạy - người học một
cách nhìn nhận mới, một hướng đi mới trong công tác dạy và học môn Tiếng
Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng.
Bản thân tôi là một giáo viên Tiểu học với vai trò là người đặt nền móng
đầu tiên cho các em, tôi đã nhận thức rõ được điều này nên khi được nhà trường
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Phương pháp thu thập dữ liệu.
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá.
2
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
So với lớp 4 thì học sinh lớp 5 có nhiều lợi thế hơn khi học về văn miêu tả.
Các em đã lớn khôn hơn cả về thể chất lẫn tinh thần. Hành vi và đời sống nội
tâm của các em đang có những thay đổi rõ rệt. Ở lứa tuổi này, các em rất dễ bị
xúc động mạnh trước cảnh, trước người, trước cây cỏ thiên nhiên, trước những
đồ vật đã từng gắn bó vv... Do đó, các em có nhu cầu được bộc lộ cảm xúc của
mình và rất yêu thích với những hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Vì vậy, đây là
giai đoạn thích hợp để cho các em tiếp cận và làm quen dần với các kiểu bài có
yêu cầu cao hơn của thể loại văn miêu tả, đó là kiểu bài tả cảnh.
Thế nhưng, theo như khái niệm về văn miêu tả (trang 140- SGK Tiếng Viêt
4, tập1) Văn miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của
người, của vật để giúp người nghe, người đọc hình dung được về các đối
tượng ấy. Để vẽ được bằng lời các bức tranh về cảnh, về người với những nét
nổi bật thì ngoài việc nắm bắt được các kiến thức cơ bản về lí thuyết, nó còn đòi
hỏi học sinh của chúng ta phải có được khả năng phong phú về vốn từ, về diễn
đạt, về việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa vv.. .
Ngoài ra để làm được một bài văn miêu tả, nhiều khi học sinh còn phải biết huy
động cả những kiến thức và kĩ năng của các môn học khác cộng với vốn sống,
vốn hiểu biết thực tế của mình thì mới làm được. Bởi vậy, đây là một trong
những thể loại văn khó đối với không ít học sinh Tiểu học nói chung và học sinh
lớp 5 nói riêng.
thừa nhận rằng đây là một phân môn khó. Nó khó không chỉ với người học mà
nó còn khó cả với người dạy. Chẳng hạn như:
* Về phía người dạy:
- Do trong một lớp học, trình độ tiếp thu của học sinh không đồng đều, số
lượng học sinh trong một lớp lại khá đông, thời gian một tiết học lại hạn chế
nên rất khó cho giáo viên trong việc theo sát, kèm cặp từng học sinh trong một
tiết dạy..
- Đối với các học sinh có năng lực tiếp thu chậm, việc trang bị những kiến
thức tổng hợp cho các em để giúp các em học tốt về môn văn là một vấn đề hết
sức khó khăn.
- Một số đề bài đòi hỏi học sinh phải có ít nhiều kiến thức thực tế. Nhưng
học sinh của chúng ta ngày nay (nhất là học sinh ở thành phố, thị xã) hầu hết
được bố mẹ phục vụ, chăm sóc và các em chỉ có mỗi việc đi học, ít có điều kiện
thời gian để quan sát cảnh vật xung quanh và quan tâm đến những vấn đề khác
nên giáo viên cũng khó vẽ làm sao cho các em có thể hình dung được về những
cảnh vật đó chứ nói gì đến việc truyền cảm xúc được cho các em.
- Mặt khác, nói về trình độ và năng lực sư phạm của giáo viên, cũng có thể
ngay chính trong giáo viên của chúng ta cũng thiếu những tri thức khoa học và
những vốn sống thực tế nên việc hướng dẫn học sinh học văn cũng gặp không ít
khó khăn.
* Về phía người học:
Như đã nói ở trên, Tập làm văn được coi là phân môn có tính tổng hợp và
sáng tạo cao. Bởi nó bao hàm tẩt cả những kiến thức, kĩ năng của các phân môn
trong môn Tiếng Việt như: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện .
Ngoài ra để làm được một bài văn, nhiều khi học sinh còn phải biết huy động cả
những kiến thức và kĩ năng của các môn học khác cộng với vốn sống, vốn hiểu
biết thực tế của mình thì mới làm được. Thế nhưng dù sao ở lứa tuổi học sinh
Tiểu học thì vốn ngôn ngữ, vốn kiến thức sách vở cũng như vốn sống của các
em cũng chưa nhiểu. Có những học sinh ở nông thôn chưa hề được ra thành phố,
có em chưa từng được đến công viên, vườn bách thú hay những danh lam thắng
Chưa hoàn thành
SỐ HS
SL
TL
SL
TL
SL
TL
35
2
5,7%
23
65,7%
10
28,6%
*Một số lỗi mà học sinh lớp 5C mắc phải trong bài văn trên là:
- Chữ viết của một số em còn xấu, lỗi chính tả còn nhiều.
- Nhiều bài viết, nội dung còn sơ sài, thiếu các ý cơ bản.
- Nhiều em dùng từ không chính xác, vốn từ còn nghèo, khả năng diễn đạt
còn vụng về, câu văn lủng củng, thiếu sự liên kết.
- Sử dụng dấu câu nhiều chỗ chưa đúng.
- Sắp xếp các ý còn lộn xộn, chưa biết lựa chọn những chi tiết nổi bật để tả.
- Một vài bài viết chưa đúng thể loại (đang tả lại chuyển sang kể), trình bày
bố cục chưa đầy đủ, rõ ràng.
- Đa số các em chưa biết dùng các biện pháp nghệ thuật khi miêu tả.
* Nguyên nhân của những hạn chế trên:
Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên thì có rất nhiều nhưng có thể nêu
ra một số nguyên nhân cơ bản sau:
- Nhiều em chưa nắm vững những kiến thức cơ bản của các kiểu bài đã học.
Chẳng hạn: Một bài văn tả cảnh thì bố cục gồm có mấy phần, mỗi phần thường
thức cơ bản của môn học đó. Vì vậy, khi dạy về thể loại văn miêu tả cho học
sinh lớp 5C, với kiểu bài tả cảnh, yêu cầu đầu tiên của tôi là các em phải nắm
vững khái niệm về văn miêu tả, tiếp sau đó là các em phải nắm được cấu tạo
của một bài văn tả cảnh gồm có mấy phần? đó là những phần nào? Đặc
biệt là phải nắm được dàn ý chung của một bài văn tả cảnh như sau:
* Mở bài:
- Giới thiệu được cảnh định tả (là cảnh gì?)
- Giới thiệu được địa điềm, vị trí của cảnh (ở đâu?) hoặc lí do em yêu thích
cảnh đó.
* Thân bài:
- Tả bao quát cảnh từ xa đến gần.
- Tả một số chi tiết nổi bật của cảnh đồng thời bộc lộ được tình cảm, thái độ
đối với cảnh đó. (Tả theo trình tự không gian hoặc thời gian)
- Kết hợp so sánh cảnh đó với cảnh nơi khác.
- Kết hơp tả cảnh vật xung quanh, hoạt động của người và vật liên quan
đến cảnh đẹp đó (nếu có).
* Kết bài:
- Nêu ý nghĩa, giá trị của cảnh đó đối với quê hương, đất nước.
- Nêu lên cảm nghĩ về cảnh đó.
Thế nhưng qua thực tế giảng dạy chúng ta thấy, những kiến thức cơ bản này
với những đối tượng học sinh có năng lực tiếp thu tốt thì việc ghi nhớ và vận
dụng vào bài văn sẽ rất đơn giản. Nhiều em có thể nhớ bài ngay tại lớp và biết
6
vận dụng linh hoạt các kiến thức đó trong từng đề bài cụ thể. Nhưng đối với
những học sinh có năng lực tiếp thu chậm thì ngay việc ghi nhớ của các em đã
gặp khó khăn chứ chưa nói đến việc các em biết vận dụng nó trong lúc làm bài.
Bởi vậy mới dẫn đến tình trạng nhiều bài viết của các em bị sai về thể loại; bố
cục bài văn không đầy đủ hoặc trình bày bố cục không rõ ràng; các ý trong bài
riêng phụ thuộc rất nhiều vào kĩ năng quan sát. Nhận thức được điều đó nên tôi
đã đưa ra một số biện pháp để hình thành cho học sinh kĩ năng quan sát như
sau:
- Lên kế hoạch quan sát cho học sinh.
- Định hướng cho học sinh quan sát.
- Tập cho học sinh biết quan sát bằng tất cả các giác quan.
- Có thói quen ghi chép trong quan sát.
7
Để lên được kế hoạch cho học sinh quan sát, trước hết tôi phải nắm được
kế hoạch trong tuần, trong tháng sẽ giảng dạy về chủ đề nào, kiểu bài nào và cụ
thể là về cảnh nào. Ví dụ trong tuần 4, trong tiết kiểm tra viết (Trang 44 – SGK
Tiếng Việt 5, tập1) học sinh sẽ được lựa chọn để tả các cảnh sau:
1. Tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong một vườn cây (hay
trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy.)
2. Tả cảnh một cơn mưa.
3. Tả ngôi nhà của em (hoặc căn hộ, phòng ở của gia đình em).
Vậy ngay từ cuối tuần 3, tôi sẽ cho mỗi học sinh được lựa chọn một trong 3
cảnh này và yêu cầu các em về nhà quan sát. Trường hợp các em không có điều
kiện để quan sát trực tiếp, tôi sẽ sử dụng công nghệ thông tin để lấy ra các hình
ảnh đó rồi trình chiếu lên để tất cả các em học sinh trong lớpđều được quan sát.
Sau khi lên được kế hoạch quan sát, tôi tiến hành định hướng cho học
sinh quan sát. Bởi nếu không định hướng, các em sẽ không biết cách quan sát
và cứ thấy gì nói nấy thì bài văn sẽ lan man không đi vào trọng tâm.
Để định hướng quan sát cho học sinh, tôi chỉ cho các em các việc làm sau:
- Cần phải tiến hành lựa chọn những chi tiết để quan sát.
- Xác định trình tự quan sát các chi tiết đó.
Ví dụ để định hướng cho học sinh quan sát cơn mưa, tôi nêu vấn đề:
- Ghi chép được các đặc điểm cơ bản của một số cảnh mà em cho là đặc sắc
để tả chi tiết về cảnh đó.
- Ghi chép những cảm nhận của các giác quan và cảm xúc của em về cảnh
đó vv…
Và dưới đây là một trong các hình ảnh mà tôi đã lưu lại để làm tư liệu khi tôi
hướng dẫn học sinh về một số kĩ năng quan sát.
2.2 Kĩ năng phân tích đề
Chúng ta đã biết khi làm văn, nếu không nắm vững yêu cầu của đề bài thì
bài văn sẽ đi chệch hướng và không đạt yêu cầu. Nhiều học sinh làm văn lạc đề,
xa đề là vì vậy. Bởi thế, khi dạy học sinh học văn nói chung và văn tả cảnh nói
riêng, công việc cần làm là luyện cho học sinh biết phân tích đề để xác định
đúng yêu cầu của đề bài.
Các yêu cầu của đề đều nằm trong toàn bộ “ lời văn” của nó. Vậy giáo viên
làm thế nào để giúp học sinh tìm ra những từ ngữ thể hiện các yêu cầu đó?
Qua các tài liệu hướng dẫn giảng dạy và qua các tiết dự giờ của đồng
nghiệp, tôi thấy có 2 cách làm thông thường mà nhiều giáo viên thường hay áp
dụng, đó là:
* Cách 1: GV đặt câu hỏi, học sinh trả lời. Ví dụ:
- Bài văn thuộc thể loại nào, từ ngữ nào cho biết điều đó? (Câu hỏi để xác
định thể loại)
- Bài văn yêu cầu tả cảnh gì ? (Câu hỏi giúp xác định đối tượng)
- Bài văn yêu cầu tả cảnh vào lúc nào? (Câu hỏi để xác định các điều kiện về
thời gian, không gian vv..)
* Cách 2: GV viết đề bài lên bảng rồi yêu cầu học sinh lên bảng gạch dưới
các từ ngữ quan trọng trong đề để xác định yêu cầu của đề, chẳng hạn:
Hãy tả ngôi trường thân yêu đã gắn bó với em trong nhiều năm qua
( rang 100 – SGK, TV5, tập 1)
Tuy nhiên thực tế cho thấy, với cách làm thứ nhất thì giáo viên đã gợi mở,
định hướng sẵn cho học sinh nên nhiều em sẽ hiểu đề một cách thụ động. Các
em sẽ không có được khả năng tự suy nghĩ, tìm tòi nên đến khi gặp một đề bài
Học sinh B có thể đặt câu hỏi để tìm đối tượng:
+ Đề bài yêu cầu chúng ta tả cảnh gì?
+ Đối tượng tả của bài văn hôm nay là gì?
+ Từ ngữ nào cho biết đối tượng tả của bài văn hôm nay?
Học sinh C đặt câu hỏi để nắm các điều kiện của đề:
+ Cảnh trong bài phải được tả vào thời gian nào?
+ Từ ngữ nào trong đề bài cho biết về thời gian miêu tả cảnh đó?
Cách làm này, tôi thấy nó thật sự rất hiệu quả. Bởi nó đã giúp cho tất cả học
sinh trong lớp 5C của tôi (từ những em có năng lực tiếp thu nhanh đến những
em có năng lực tiếp thu chậm) đều có được thói quen và kĩ năng phân tích đề rất
tốt. Gặp bất cứ đề bài nào, các em cũng chủ động trong việc phân tích đề mà
không cần đến sự dẫn dắt, gợi ý của giáo viên. Đặc biệt cách làm này còn giúp
các em hiểu đề đến nơi đến chốn, tránh được tình trạng nhiều em đọc đề qua loa,
hấp tấp không phát hiện được những điều kiện nhỏ của đề bài để rồi dẫn đến bài
viết bị chệch hướng. Ví dụ với 2 đề bài :
Đề 1: Tả quang cảnh ngôi trường thân yêu của em.
Để 2: Tả quang cảnh ngôi trường thân yêu của em trước buổi học.
Nếu không có kỹ năng phân tích đề tốt thì nhiều em sẽ đánh đồng cách viết 2
đề này là một. Nhưng nhờ có kĩ năng phân tích đề tốt nên với những trường hợp
như trên, học sinh lớp tôi sẽ nhanh chóng nhận ra sự khác nhau trong khi viết và
hầu như các em không bị lạc đề, xa đề trong các trường hợp tương tự như thế
này.
2.3 Kĩ năng tìm ý và lập dàn ý
Trên cơ sở học sinh đã có kĩ năng phân tích đề, biết xác định đúng yêu cầu
của đề, tôi tiến hành hướng dẫn học sinh tìm ý và lập dàn ý cho bài văn.
10
Trước hết để giúp học sinh tìm ý, tôi hướng dẫn học sinh thực hiện các
trượt thì ướt sũng sương đêm đang mang áo ra hong nắng. vv…
Ý 7: Công viên lúc này đã khá đông người. Các cụ già thì tập thể dục, mấy em
nhỏ thì nô đùa trong nắng sớm.
Ý8: Không khí ở công viên thật trong lành, mát mẻ.
Ý 9: Mỗi lần đến đây em đều rất thích. Em mong lần sau cả nhà em sẽ cùng
đến đây để vui chơi và hít thở không khí trong lành.
Dựa vào các ý vừa tìm được, tôi hướng dẫn học sinh lập dàn ý hoàn chỉnh
theo các bước sau:
Bước 1: Sắp xếp lại các ý theo trình tự của từng phần: Mở bài, thân bài, kết
bài. Tức là học sinh phải lựa chọn để đưa ý nào vào mở bài, ý nào vào thân bài
và ý nào vào kết bài. Phần này các em phải bám vào dàn ý đại cương mà tôi đã
cho các em ghi nhớ ở trên để sắp xếp cho đúng.
Bước 2: HS hoàn chỉnh dàn ý (lập thành một dàn ý chi tiết). Ví dụ:
Mở bài:
- Sáng nay chủ nhật mẹ đã đưa em đến công viên để dạo chơi.
- Nằm ở trung tâm thị xã, công viên Thiếu nhi là điểm vui chơi lí tưởng cho
11
bọn trẻ chúng em.
Thân bài:
- Nhìn từ xa, cứ tưởng đó là một rừng cây giữa phố.
- Công viên lúc này đã khá đông người. Các cụ già thì tập thể dục, mấy em
nhỏ thì nô đùa trong nắng sớm.
- Vào trong, các loài hoa đang đua nhau khoe sắc.
- Mấy chú khỉ bị nhốt trong lồng đang cấu nhau chí chóe.
- Xa chút nữa là mấy bác đu quay đang nằm im chờ đợi còn mấy cậu cầu trượt
thì ướt sũng sương đêm đang mang áo ra hong nắng. vv…
Kết bài:
- Không khí ở công viên thật trong lành, mát mẻ.
12
- Ngoài ra tôi còn khai thác thêm cho học sinh vốn từ ngữ trong đời sống
hàng ngày dưới nhiều hình thức tổ chức khác nhau như: đố vui, trò chơi dân
gian, giải trí, văn nghệ vv…
Bên cạnh việc chú trọng bổ sung làm giàu vốn từ cho học sinh, tôi còn quan
tâm nhiều tới việc rèn cho các em cách dùng từ trong văn miêu tả cảnh. Bằng
cách lưu ý học sinh phải luôn có thói quen lựa chọn từ ngữ cho phù hợp và tìm
từ gợi hình, gợi tả để diễn đạt. Chẳng hạn, muốn làm nổi bật hình ảnh của đối
tượng, cần chú ý nhiều đến hệ thống từ tượng hình (tả màu sắc, hình dáng, trạng
thái…); muốn làm nổi bật không khí của cảnh thì chú ý tới hệ thống từ tượng
thanh.
Ví dụ: Tìm những từ ngữ gợi hình, gợi thanh khi tả sóng biển hay tả cơn
mưa rào,…tôi yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm, trao đổi thảo luận và tìm
các từ khác nhau. Sau đó nêu vấn đề: Các từ ấy được dùng như thế nào? Sau
quá trình trao đổi, nêu ý kiến cùng vốn sống thực tế, học sinh sẽ tự nhận thấy: Tả
cảnh sóng biển có nhiều từ ngữ gợi hình, gợi thanh, như: cuồn cuộn, nhấp nhô,
lăn tăn, rì rầm, rì rào, ì oạp…Nhưng không phải miêu tả sóng lúc nào cũng có
thể dùng được tất cả các từ ấy. Bởi vì, tả sóng biển lúc động thỉ phải dùng từ ì
ầm, cuồn cuộn; tả sóng biển vỗ vào bờ đá thì phải dùng từ ì oạp; tả tiếng sóng
biển vọng lại trong đêm mà nghe từ xa phải dùng từ rì rầm…
Ngay cả âm thanh của tiếng mưa rào cũng có sự phân biệt rõ: mưa giáo đầu
thì lẹt đẹt; mưa trên mái tôn thì rào rào; mưa đập vào phên nứa đồm độp; mưa
đập vào tàu lá chuối thì bùng bùng; mưa từ mái tranh đổ xuống sân thì ồ ồ…
Song song với việc làm trên, tôi còn đưa ra nhiều các dạng bài tập để giúp
học sinh rèn kĩ năng dùng từ. Chẳng hạn:
- Dạng bài điền từ thích hợp vào chỗ trống.
- Dạng bài tìm từ lạc trong nhóm.
Những con sóng hiền từ gối lưng lên nhau… mạn thuyền
Còn với tôi, ngoài việc cho học sinh làm các dạng bài tập ở trên, tôi còn
hay dẫn dắt học sinh tìm những cách diễn đạt có hình ảnh hay hơn cho mỗi câu,
mỗi đoạn trong bài văn.
Và tôi còn nhớ lần đầu tiên thử cách làm này cho các em học sinh lớp 5C,
tôi viết lên bảng câu văn: Dòng sông chảy qua cánh đồng. Sau đó, tôi yêu cầu
các em : Hãy viết lại câu văn này sao cho gợi tả, gợi cảm hơn nữa!
Và thật ngạc nhiên khi nhiều học sinh trong lớp tôi đã thực hiện được yêu
cầu này một cách khá xuất sắc. Nhiều câu văn của các em đã làm tôi cảm thấy
rất thích thú. Ví dụ:
+ Em Gia Ngân viết: Dòng sông yểu điệu, lượn nhẹ nhàng qua cánh đồng
xanh mướt lúa khoai.
+ Em Đức Minh viết: Dòng sông mềm mại như một dải lụa màu xanh nằm
vắt ngang qua cánh đồng lúa đã chín vàng.
+ Em Hùng lại có cách nhìn độc đáo, mạnh mẽ hơn: Dòng sông như một con
trăn khổng lồ đang uốn mình di chuyển trên đồng lúa.
+ Em Diễm Quỳnh vốn rụt rè, nhút nhát, không tự tin khi làm văn, vậy mà
em cũng viết được một câu văn mà tôi cảm thấy rất hài lòng: Dòng sông lặng lẽ
dấu mình giữa cánh đồng lúa xanh.
Nhận thấy, đây là một tín hiệu đáng mừng nên tôi đã tích cực phát huy
cách làm này. Và mỗi khi học sinh viết được câu văn hay, giàu hình ảnh, tôi
thường tuyên dương đề nghị cả lớp khen ngợi bạn bằng một tràng pháo tay.
Bằng cách làm này, chỉ một thời gian ngắn, tôi đã đánh thức, khơi gợi và tạo
được hứng thú học văn cho tất cả các em học sinh trong lớp. Nhiều em trước đây
ngại học văn bao nhiêu thì bây giờ các em lại hào hứng học văn bấy nhiêu. Và
đó là một thành công hơn cả sự mong đợi của bản thân tôi.
4.2 Sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong bài văn.
Nói đến sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong bài văn, ta có cảm giác nó có
gì đó hơi cao siêu và xa vời đối với học sinh Tiểu học. Nhưng không! Cái nghệ
thuật ở đây chỉ đơn giản là việc chọn lọc từ ngữ, hình ảnh và biết sử dụng các
lũy của mình. Và công việc đó, đã góp phần không nhỏ cho các em học sinh lớp
tôi biết đưa các biện pháp nghệ thuật vào bài văn.
5. Bồi dưỡng vốn sống, vốn kiến thức thực tế cho học sinh.
Khi dạy văn cho học sinh, việc dạy cho các em nắm được những kiến thức
cơ bản và các kĩ thuật làm bài là vô cùng quan trọng và cần thiết. Tuy nhiên,
điều đó chưa đủ. Bởi một bài văn tốt, đòi hỏi bài văn đó phải có hồn, có cảm xúc
và những rung động chân thực. Nhưng để đạt được điều này thì biện pháp tốt
nhất là phải cho học sinh được tiếp xúc, được quan sát trực tiếp đối tượng.
Vì vậy với tôi, việc bồi dưỡng vốn sống, vốn kiến thức thực tế cho các em
là một điều hết sức đáng quan tâm và tôi đã tìm những giải pháp để giúp học
sinh bồi dưỡng vốn sống, vốn kiến thức thực tế như sau:
5.1 Phối kết hợp với cha mẹ học sinh để bồi dưỡng vốn sống, vốn kiến
thức thực tế cho các em tại nhà.
Tâm lí chung của tất cả các bậc phụ huynh là thương con. Và ngày nay khi
điều kiện kinh tế ngày càng đầy đủ hơn, mỗi gia đình lại chỉ có một đến hai con
nên vì thương con, các bậc phụ huynh sẵn sàng làm hết mọi việc, không bắt con
nhúng tay vào bất cứ công việc gì. Có nhiều phụ huynh thì lại quá kì vọng vào
con, suốt ngày bắt con đi học. Đến nỗi các em không còn thời gian để vui chơi,
lao động và quan tâm đến thế giới xung quanh. Vì thế có nhiều học sinh của
15
chúng ta ngày nay thiếu vốn sống thực tế. Điều đó cũng ảnh hưởng không ít đến
kết quả học tập của các em nói chung và chất lượng học văn tả cảnh nói riêng.
Nhận thấy vấn đề này nên trong quá trình giảng dạy và kiêm công tác chủ
nhiệm, tôi đã chú trọng tới việc phối hợp với cha mẹ học sinh để bồi dưỡng vốn
sống cho các em ngay từ chính trong gia đình các em.
Chẳng hạn, ở lớp khi tôi dạy các em các bài học: Luộc rau; Nấu ăn; Bày
dọn bữa ăn trong gia đình vv…Sau những buổi học ấy, tôi dặn các em về nhà
thực hành. Đồng thời tôi thông báo tới phụ huynh qua số liên lạc điện tử về kế
gợi tả, gợi cảm một cách linh hoạt. Biết so sánh, nhân hóa làm cho cảnh trong
bài văn sinh động, gần gũi hơn. Lỗi dùng từ trong khi đặt câu cũng giảm hẳn.
Bài văn của các em cũng mạch lạc hơn, những câu văn có hồn hơn, biểu hiện
tinh tế cao, giàu hình ảnh hơn. Đặc biệt có những bài văn của học sinh đã làm
16
cho tôi hết sức ngỡ ngàng. Bởi tôi không thể tưởng tượng được là các em có thể
làm được như thế. Chẳng hạn như bài của em Minh Hoàng dưới đây (Tả
cảnh một buổi sáng trên cánh đồng – Trang 44, SGK Tiếng Việt 5, tập1):
Để kiểm chứng toàn diện hơn tính hiệu quả về những việc làm trên, giữa học
kì II, tôi đã tiến hành khảo sát lại chất lượng học văn miêu tả cảnh của học sinh
lớp 5C. Đề bài khảo sát lần này như sau:
Em hãy tả một cảnh đẹp mà em đã có dịp được biết đến qua các lần em
đi tham quan du lịch hay đi trải nghiệm kĩ năng sống.
Kết quả thu được:
TỔNG
SỐ HS
35
Hoàn thành tốt
SL
TL
15
42,8%
Hoàn thành
SL
TL
20
2. Kiến nghị
- Nhà trường cần phối hợp hơn nữa với hội cha mẹ học sinh và các tổ chức
đoàn thể để tổ chức cho học sinh được tham gia trải nghiệm kĩ năng sống và
học về kĩ năng sống nhiều hơn nữa.
17
- Tạo điều kiện để đội ngũ giáo viên của nhà trường được học hỏi kinh nghiệm
của những giáo viên có kiến thức và trình độ tay nghề cao ở trong và ngoài thị
xã.
XÁC NHẬN CỦA
Bỉm Sơn, ngày 20 tháng 3 năm 2017
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác
Ngưởi viết
Nguyễn Thị Tuyên
XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN THỊ XÃ BỈM SƠN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Sách giáo viên, sách giáo khoa môn Tiếng Việt lớp 5.
- Phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt (Giáo trình dùng trong các trường sư
phạm đào tạo giáo viên Tiểu học – nhà xuất bản Hà Nội năm 1992).
- Sách Tiếng Việt nâng cao 5 – Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam.
18