MÔN HỌC
QUẢN TRỊ HÀNH VI TỔ CHỨC
BÀI KIỂM TRA HẾT MÔN
Chủ đề: TÍNH CÁCH BẢN THÂN CÙNG CÁC HÀNH VI ỨNG XỬ CỦA BẠN
Người thực hiện: Đặng Xuân Quang - Nhóm 4
I. GIỚI THIỆU
Trong bất kỳ hoạt động nào, yếu tố con người luôn là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công
hay thất bại. Chính vì thế, việc tìm hiểu tính cách và năng lực của con người luôn luôn được đặt
lên hàng đầu. Với một vị trí và công việc thích hợp, con người có thể phát huy được tất cả những
ưu điểm của mình và ngược lại. Cá nhân cá thể người với tính cách là sản phẩm của sự phát triển
xã hội, là chủ thể của lao động, của mối quan hệ xã hội và của nhận thức. Cá nhân là một con
người hoàn chỉnh trong sự thống nhất giữa khả năng riêng có của người đó với chức năng xã hội
do người đó thực hiện. Trong mối quan hệ với tập thể, cá nhân như là “bộ phận” của cái toàn thể,
thể hiện bản sắc của mình thông qua tập thể nhưng không hòa tan vào tập thể.
Phương pháp nghiên cứu:
Sưu tầm tài liệu: lựa chọn từ bài giảng môn học, giáo trình môn học “Quản trị hành vi tổ chức” và các
tài liệu liên quan trên mạng internet.
Nghiên cứu, phân tích: bằng phương pháp duy vật biện chứng, phân tích các bản chất của vấn đề (ví dụ
của chủ đề), phát hiện, đánh giá các yếu tố thuộc bản chất của vấn đề.
II. PHÂN TÍCH
1.Nguồn năng lượng định hướng:
Sau khi hoàn thành các bài tập Big 5 và MBTL, tôi có thể tự thấy bản thân là người hướng nội. Có nhiều
ý kiến cho rằng trong môi trường kinh doanh năng động ngày nay, tính cách hướng nội là một nhược
điểm lớn khiến con người không được đánh giá cao. Tuy nhiên, các số liệu thống kê lại chỉ ra rằng có
khoảng 50% dân số thế giới và 40% các nhà lãnh đạo là những người hướng nội, sống nội tâm.
Bên cạnh những nhược điểm như ngại nói trước đám đông hay không giỏi xây dựng các mối quan hệ,
tính cách hướng nội lại có những ưu điểm lớn là khả năng lắng nghe và viết lách. Điểm mấu chốt nằm ở
thái độ và cách nhìn nhận của mỗi cá nhân đối với vấn đề này.
Vậy các nhà lãnh đạo tài ba nhìn nhận và phát huy tính cách hướng nội của họ như thế nào để thành
thiết. Những quãng thời gian nghỉ ngơi như vậy tuy ngắn ngủi nhưng có thể giúp họ lấy lại khả năng tư
duy sáng suốt, óc sáng tạo, từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn. Đặc biệt khi áp lực lên cao, tính cách
hướng nội giúp họ phản ứng một cách tích cực thay vì tiêu cực. Tất cả những điều này giúp các nhà lãnh
đạo nội tâm hoàn thành công việc với hiệu quả cao nhất và đáp ứng được kỳ vọng của mọi người.
Những phân tích trên có thể giúp ích cho các nhà quản lý và những người làm việc trong các lĩnh vực
khoa học, kỹ thuật, tài chính, đặc biệt là phụ nữ làm việc trong những ngành nghề mà đàn ông chiếm ưu
thế. Hãy biết tận dụng tối đa tố chất bẩm sinh của bản thân để tiến xa hơn, khai thác triệt để các mối
quan hệ cũng như gia tăng giá trị cho tổ chức của bạn!
2. Sự phán xét
2
Trang /11
Lý trí thường được dùng khi mang ý nghĩa đối lập với tình cảm, ví dụ: "Anh ta là người sống thiên về lý
trí hơn là tình cảm". Lý trí được đối với niềm tin khi muốn nói về sự đối lập giữa tư duy và cảm xúc.
Còn lý tính được đối với niềm tin khi muốn nói về sự đối lập giữa tri giác chủ động và tri giác thụ động.
Trong văn học, lý trí thường được đối lập với tình cảm, cảm xúc, ước muốn, nhu cầu, hay sự say mê.
Những người khác lại coi lý trí như là một công cụ của những điều trên - công cụ để đạt được cái mà
người ta muốn. Chỉ có trong con người, các lựa chọn đôi khi được thực hiện dựa trên một liên tưởng
nhân tạo của các ý niệm thay cho một liên tưởng chưa bị kiểm soát của các kinh nghiệm thô. Kiểu liên
tưởng này có "cảm giác" khác với khi ta bị chiếm lĩnh bởi một cảm xúc mạnh mẽ được hỗ trợ bởi "tình
cảm" thô. Điều đối lập cũng rất đặc biệt: đôi khi ta cảm thấy một cảm xúc mạnh mẽ đã chiến thắng các
lý luận của chúng ta một cách "phi lý" mặc dầu cảm xúc đó đã không còn luận cứ xác đáng nào; hoặc
khi nó chưa kịp là chủ đề của tranh luận thì hành động đã xảy ra (chẳng hạn trong trường hợp phản xạ).
Phần Lý trí (T) của bộ não chúng ta phân tích thông tin một cách tách bạch, khách quan. Nó hoạt động
dựa trên các nguyên tắc đáng tin cậy, rút ra và hình thành kết luận một cách hệ thống. Nó là bản chất
luận lý của chúng ta. Phần Cảm tính (F) của bộ não chúng ta rút ra kết luận một cách cảm tính và chút
nào đó hành xử mang tính thiếu công minh, dựa vào sự thích/ không thích, ảnh hưởng tới những thứ
khác, và tính nhân bản hay các giá trị thẩm mỹ. Đó là bản chất cảm tính của chúng ta. Trong khi mọi
những quyết định khác như sản xuất và tài chính.
Trực giác của chúng ta được hình thành dựa trên ký ức, hình tượng ngưỡng mộ, kinh nghiệm tích lũy,
suy nghĩ đã định hình trong quá khứ và những định kiến cá nhân lâu dài. Chúng ta nên tin tưởng vào
trực giác đến mức độ nào? Chắc chắn là chúng ta biết đến những thành công của các quyết định dựa vào
trực giác, như bốn trường hợp ví dụ nêu trên. Đó là những câu chuyện vĩ đại và đáng nhớ. Nhưng trong
thực tế, không chuyên gia nào khuyên chúng ta chỉ nên quyết định dựa vào trực giác. Trực giác thường
phụ thuộc nhiều vào thành kiến và xu hướng suy nghĩ của mỗi cá nhân. Eric Bonabeau đề cập: "Bất kỳ
ai nghĩ rằng trực giác là thứ thay thế cho lý do đều đang tự cho phép mình rơi vào ảo tưởng đầy mạo
hiểm. Tách rời khỏi sự phân tích chặt chẽ, trực giác sẽ trở thành một hướng dẫn không đáng tin cậy và
dễ dàng thay đổi - có thể dẫn đến thất bại cũng nhiều như dẫn đến thành công"
4.Xu hướng với thế giới bên ngoài- Tính cách đánh giá
Đối với xu hướng hành xử với bên ngoài tôi chọn xu hướng chính là tính cách đánh giá. Mọi
người đều sử dụng cả hai quá trình đánh giá (suy nghĩ và cảm xúc) và lĩnh hội (ghi nhận và cảm nhận)
để chứa thông tin, tổ chức các ý kiến, ra các quyết định, hành động và thu xếp cuộc sống của mình. Tuy
vật chỉ một trong số chúng (Đánh giá hoặc Lĩnh hội) dường như dẫn dắt mối quan hệ của chúng ta với
thế giới bên ngoài . . . trong khi điều còn lại làm chủ nội tâm. Phong cách Đánh giá (J) tiếp cận thế giới
bên ngoài với một kế hoạch và mục tiêu tổ chức lại những gì xung quanh, chuẩn bị kỹ càng, ra quyết
định và hướng tới sự chỉn chu, hoàn thành. Phong cách Lĩnh hội (P) đón nhận thế giới bên ngoài như nó
vốn có và sau đó đón nhận và hòa hợp, mềm dẻo, kết thúc mở và đón nhận các cơ hội mới và thay đổi kế
hoạch.
III. KỸ NĂNG GIAO TIẾP ỨNG XƯ
Trong cuộc sống, trong giao tiếp hàng ngày con người luôn phải ứng phó với biết bao tình huống,
có lúc dễ dàng xử lý, có lúc thật phức tạp, khó xử. Xã hội càng văn minh thì nhu cầu trong giao tiếp của
con người càng cao. Ứng xử một cách thông minh, khôn khéo, tế nhị, kịp thời, có hiệu quả, đạt tới mức
độ nghệ thuật, ngày nay còn được coi như bí quyết thành công trong cuộc đời.
Quyết định đến hành vi ứng xử của con người đối với các vấn đề, các mối quan hệ, tuân theo một sơ đồ
sau:
4
Trang /11
- Mỗi cá thể có một năng lực, cơ hội ứng xử riêng, cung cách hội nhập riêng tùy theo cách mà nó chọn là
tồn tại hay phát triển, bởi vậy nó sẽ có khuynh hướng bộc lộ hay giấu mình.
Một số quy luật trong hành vi ứng xử
a. Qui luật bù trừ: thông thường về tiến trình, hình thức ( biểu hiện bên ngoài ) thế nào thì nội dung
(phẩm chất bên trong) thế ấy. Nội dung có sẵn hoặc phải tích lũy trong một thời gian lâu dài, để đến một
lúc nào đó đi đến thay đổi hẳn về chất theo chiều hướng mạnh mẽ, bộc lộ. Hình thức là cái khiến cho nội
dung dễ được tồn tại trong môi trường luôn ở trong động thái cạnh tranh và đào thải, với chiều hướng
chính danh và giản dị. Khi nội dung chưa đủ mạnh và hoàn thiện thì hình thức có khuynh hướng ngụy
tạo, giả trang, phân thân (biến hóa) để thích ứng nhanh với các sắc thái nhất thời của môi trường, khả dĩ
bù đắp cái thiếu hụt của nội dung. Ví dụ nghèo hay nói đến nhân nghĩa, dốt hay nói chữ, không hiểu biết
nhiều thì ưa nói to tát, người bé nhỏ hay nói đến những cái cao, hoành tráng, không có quyền lực và sức
mạnh thì hay mượn lời người có địa vị.v.v...
b. Qui luật Bất thường: Khi người ta có điều gì cảm thấy bất ổn do sự khiếm khuyết về nội dung hay
hình thức, trước một hoàn cảnh, một tình huống có đột biến hay không được dự liệu trước, người ta cố
5
Trang /11
che dấu điều ấy trước đối tác. Nhưng càng làm như thế thì càng bộc lộ sự ngụy tạo, giả trang hay phân
thân của hình thức, sự kém cỏi đi của nội dung. Nếu tình trạng đó kéo dài, trong môi trường hỗn tạp
không có chuẩn mực, người ta có thể trở thành kẻ trí trá và cơ hội chuyên nghiệp vì họ phải tập trung
phần lớn tinh lực vào tạo hình thức chứ không phải là củng cố nội dung
c. Qui luật điểm yếu: ở đây là điểm yếu cơ bản của một cá nhân. Trong một xã hội không có tính giao
lưu cao thì người ta khó biết được chính xác và kịp thời điểm yếu, điểm mạnh của mình là gì. Còn trong
một môi trường thiên nhiên xã hội có mối quan hệ qua lại khăng khít của sự giao lưu, cạnh tranh và đào
thải thì mỗi cá nhân trước hết biết rất rõ điểm yếu của mình là gì. Điểm mạnh có khi còn chưa thể bộc lộ
thì đương nhiên điểm yếu phải che dấu thật kĩ, không để đối phương phát hiện ra. Bởi vậy cách bộc lộ
kiểu ễnh ương kêu tiếng bò rống, khỉ học tiếng hổ gầm hay chim sẻ muốn xù lông như đại bàng nhiều
khi lại là nhược điểm lớn của sự ngụy trang. Cách ứng xử tinh vi hơn là nó giành cho mình một vai trò
gì đó trong cộng đồng, điểm yếu đó của cá nhân sẽ có nhiều khả năng được bảo vệ cao bởi cộng đồng
4. Tích lũy kiến thức: Để nâng cao kiến thức hiểu biết trong cuộc sống, tôi phải không ngừng tích luỹ
6
Trang /11
và học hỏi kinh nghiệm. Trước hết, tôi hãy ghi chép tất cả những kiến thức và những sự việc mới mẻ.
Khi rỗi mở ra đọc để ghi nhớ. Với cách làm này, kiến thức của tôi sẽ ngày càng sâu rộng, sẽ dần hệ
thống hoá được những kiến thức toàn diện.
Thứ hai, tôi cũng cần ghi lại những sai lầm và thất bại, tổng kết nguyên nhân thất bại và ghi nhớ bài học
kinh nghiệm để tránh lặp lại.
5. Kiên trì những nguyên tắc trong công việc như tự làm chủ thời gian của mình, cần biết sắp xếp thời
gian sao cho hợp lý để hoàn thành được nhiều công việc cùng một lúc như vừa làm vừa học.
Tôn trọng ý kiến của người khác, đôi khi bạn chịu ảnh hưởng của môi trường công tác, khi có lời
khuyên chân thành, nên tiếp thu và xem xét lại chính mình. Khi đi làm cũng cần tránh những cạm bẫy,
không nên dễ dàng tin những lời quảng cáo. Chú ý quan sát cơ sở vật chất, có biện pháp đảm bảo an
toàn để tránh những trở ngại nảy sinh trong công việc.
V. TÓM LẠI
Đôi khi chúng ta tự hỏi, tại sao thế giới này lại có quá nhiều mối bất đồng, quá nhiều sự lường
gạt và nỗi sợ hãi, sự nghèo đói và nỗi bất hạnh,…? Chúng ta than phiền cuộc sống chỉ đầy rẫy những lo
toan, những thao thức, lại luôn khắc nghiệt với mình đến nỗi chúng ta không thể tìm thấy bất kỳ một
niềm vui nào trong đời.
Đôi khi, chúng ta sống ích kỷ, thờ ơ và vô tình trước nỗi đau của đồng loại. Chúng ta luôn gào lên một
câu hỏi: "Xã hội đã mang đến cho tôi những gì?", mà chưa bao giờ tự hỏi bản thân: "Mình có thể làm gì
có ích cho xã hội?".
Trong cuộc sống, chắc chắn bạn luôn mong muốn được quan tâm, đồng cảm, được chia sẻ và yêu
thương. Vậy, tại sao bạn không làm như vậy với những người khác?
Có một câu danh ngôn rất hay : "Hãy đối xử với người khác theo cách mà bạn muốn họ đối xử với
mình". Những biểu hiện của sự quan tâm, chia sẻ, dù chỉ là rất nhỏ thôi, cũng có thể trở thành những sợi
dây bện chặt tình cảm cộng đồng. Chính những mối ràng buộc qua lại đó sẽ là nền tảng của mối quan hệ
thân ái, cùng nhau sống trong hòa bình, cùng nhau hợp tác và phát triển. Khi đó, mỗi người sẽ dễ dàng
www.Tamlyhoc.net
-
www.vnexpress.net
-
www.dantri.com.vn
BIG 5
Mười điểm ghi nhận tính cách cá nhân
Một số tính cách cá nhân (có thể đúng hoặc không đúng với bạn) được liệt kê trong bảng dưới đây. Hãy đánh dấu
vào các ô tương ứng bên cạnh mỗi câu để thể hiện sự đồng ý hay không đồng ý của bạn với nó. Bạn nên đánh dấu
thể hiện sao cho các mức độ của mỗi tính cách phù hợp nhất với mình ngay cả khi có một tính cách khác phù hợp
hơn nó.
1 = Cực kỳ phản đối
2 = Rất phản đối
3 = Phản đối
4 = Trung lập
5 = Đồng ý
6 = Rất đồng ý
7 = Cực kỳ đồng ý
Tôi tự thấy mình
1. Hướng ngoại, nhiệt huyết
2. Chỉ trích, tranh luận
3. Đáng tin cậy, tự chủ
4. Lo lắng, dễ phiền muộn
5. Sẵn sàng trải nghiệm, một
*
8
Trang /11
MBTI
Tính cách cá nhân – Bản đánh giá học viên bắt đầu ở đây:
Q1. Nguồn năng lượng định hướng tự nhiên nhất của bạn là gì? Mỗi con người đều có hai mặt. Một
mặt hướng ra thế giới bên ngoài của hành động, của sự nhiệt tình, con người, và sự vật. Một mặt khác lại
hướng vào thế giới bên trong của suy nghĩ, mối quan tâm, sáng tạo và sự tưởng tượng.
Đây là hai mặt khác biệt nhưng không thể tách rời của bản chất con người, hầu hết mọi người đều thiên về
nguồn năng lượng của thế giới bên trong hay bên ngoài một cách tự nhiên. Vì vậy một mặt nào đó của họ,
có thể là Hướng ngoại (E) hoặc Hướng nội (I), sẽ dẫn dắt sự phát triển tính cách và đóng vai trò chủ đạo
trong hành vi của họ.
Tính cách hướng ngoại
Tính cách hướng nội
•
Hành động trước, suy nghĩ/ suy xét sau
•
Nghĩ/ suy xét trước, rồi mới hành động
•
Hướng ngoại (E)
Hướng nội (I)
Q2. Cách lĩnh hội hoặc hiểu biết nào “tự động” hoặc tự nhiên?
Phần giácquan (S) của bộ não chúng
ta cảm nhận hình ảnh, âm thanh, mùi vị và tất cả các chi tiết cảm nhận được của HIỆN TẠI. Nó phân loại,
tổ chức, ghi nhận và lưu giữ các chi tiết của thực tại. Nó dựa trên THỰC TẠI, giải quyết việc "là cái gì." Nó
cung cấp những chi tiết cụ thể của trí nhớ & và thu thập lại từ các sự kiện trong QUÁ KHỨ. Phần Trực
giác (N) của bộ não chúng ta tìm kiếm sự hiểu biết, diễn giải và hình thành mô hình TỔNG QUÁT của các
thông tin đã được thu thập, và ghi nhận các mô hình và các mối quan hệ này. Nó suy đoán dựa trên CÁC
KHẢ NĂNG, bao gồm cả việc xem xét và dự đoán TƯƠNG LAI. Nó là quá trình hình tượng hóa và quan
niệm. Trong khi cả hai sự lĩnh hội đều cần thiết và được sử dụng bởi mọi người, mỗi người chúng ta vẫn vô
thức sử dụng một cách nhiều hơn cách kia.
Các đặc điểm giác quan
•
Tinh thần sống với Hiện Tại, chú ý tới các cơ
Các đặc điểm trực giác
•
hội hiện tại
•
Sử dụng các giác quan thông thường và tự
cơ hội tương lai
•
quá khứ
•
Ứng biến giỏi nhất từ các hiểu biết mang tính
Thoải mái với sự không cụ thể, dữ liệu
Thích các thông tin rành mạch và rõ ràng;
không thống nhất và với việc đoán biết ý
không thích phải đoán khi thông tin "mù
nghĩa của nó
mờ"
Chọn điều phù hợp nhất:
Giác quan (S)
Trực giác (N)
Q3. Việc hình thành sự Phán xét và lựa chọn nào là tự nhiên nhất? Phần Lý trí (T) của bộ não chúng ta phân tích
thông tin một cách TÁCH BẠCH, khách quan. Nó hoạt động dựa trên các nguyên tắc đáng tin cậy, rút ra và hình thành
kết luận một cách hệ thống. Nó là bản chất luận lý của chúng ta. Phần Cảm tính (F) của bộ não chúng ta rút ra kết luận
một cách CẢM TÍNH và chút nào đó hành xử mang tính thiếu công minh, dựa vào sự thích/ không thích, ảnh hưởng tới
những thứ khác, và tính nhân bản hay các giá trị thẩm mỹ. Đó là bản chất cảm tính của chúng ta. Trong khi mọi người sử
dụng hai phương tiện này để hình thành nên kết luận, mỗi chúng ta đều có xu hướng thiên lệch về một cách nào đó vậy
•
Tìm kiếm sự đồng thuận và ý kiến tập thể một cách tự nhiên
quan trọng
•
Không thoải mái với mâu thuẫn; có phản ứng tiêu cực với sự
Chấp nhận mâu thuẫn như một phần tự
không hòa hợp.
nhiên và bình thường trong mối quan hệ
của con người
Chọn điều phù hợp nhất:
Lý trí (T)
Cảm tính (F)
10
Trang /11
Q4. "Xu hướng hành xử của bạn" với thế giới bên ngoài thế nào? Mọi người đều sử dụng cả hai quá trình đánh giá
(suy nghĩ và cảm xúc) và lĩnh hội (ghi nhận và cảm nhận) để chứa thông tin, tổ chức các ý kiến, ra các quyết định, hành
động và thu xếp cuộc sống của mình. Tuy vật chỉ một trong số chúng (Đánh giá hoặc Lĩnh hội) dường như dẫn dắt mối
quan hệ của chúng ta với thế giới bên ngoài . . . trong khi điều còn lại làm chủ nội tâm. Phong cách Đánh giá (J) tiếp
•
Thoải mái đón nhận áp lực về thời hạn; làm việc
cuối.
•
Thoải mái tiến hành công việc mà không cần lập kế
tốt nhất khi hạn chót tới gần.
Sử dụng các mục tiêu, thời hạn và chu trình chuẩn để
•
quản lý cuộc sống.
Tránh sự ràng buộc gây ảnh hưởng tới sự mềm
dẻo, tự do và đa dạng.
Chọn điều phù hợp nhất:
Đánh giá (J)
Lĩnh hội (P)
Bốn chữ cái biểu hiện tính cách của bạn
i