i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được bản luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và
tạo điều kiện của các thầy, cô trong Phòng Thực vật, Viện Sinh thái và Tài
nguyên sinh vật; Khoa Sau đại học, Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam,
nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ quí báu đó.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Đỗ Thị Xuyến, người đã dìu
dắt tôi những bước đi đầu tiên trong con đường nghiên cứu khoa học, cảm ơn
sự giúp đỡ của Ban giám đốc Vườn quốc gia Hoàng Liên, lãnh đạo các xã Tả
Van và Bản Hồ, huyện Sapa đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong
quá trình thực hiện đề tài.
Nhân dịp này, cho phép tôi bày tỏ lời cảm ơn tới Ban giám hiệu nhà
trường, Khoa Sau đại học, các phòng ban, các thầy cô trong khoa Lâm học,
trường Đại học Lâm nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ về mặt thời gian để tôi
thực hiện tốt đề tài này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên,
ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng chắc chắn không tránh khỏi những
thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô, các
nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 27 tháng 12 năm 2012
Học viên
Đinh Minh Tín
ii
1.3. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở xã Tả Van và xã Bản Hồ,
huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai. ..................................................................................13
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU .........................................................................................................15
2.1. Mục tiêu của đề tài ........................................................................................15
2.1.1. Tập hợp một cách có hệ thống các loài thực vật được đồng bào dân tộc
H’Mông ở xã Tả Van và xã Bản Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, sử dụng làm
thuốc. ................................................................................................................15
2.1.2. Đánh giá mức độ đa dạng về thành phần các taxon, các bệnh chữa trị,
các bộ phận sử dụng và dạng sống của những loài thực vật được đồng bào dân
tộc H’Mông ở xã Tả Van và xã Bản Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai sử dụng
làm thuốc. .........................................................................................................15
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................15
2.4. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................16
2.4.1. Điều tra thực địa theo tuyến: ..................................................................16
2.4.2. Thu thập số liệu, tài liệu: ........................................................................17
2.4.3. Xử lý số liệu ...........................................................................................17
iv
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ, XÃ HỘI XÃ
TẢ VAN VÀ XÃ BẢN HỒ, HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI ..........................23
3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu ......................................................23
3.1.1. Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích .............................................................23
3.1.2. Địa chất, địa hình ....................................................................................23
3.1.3. Khí hậu, thủy văn ...................................................................................23
3.1.4. Tài nguyên thiên nhiên ...........................................................................24
3.2. Đặc điểm kinh tế, xã hội ...............................................................................25
3.2.1. Dân tộc, dân số và lao động....................................................................25
I. Kết luận .............................................................................................................73
II. Kiến nghị .........................................................................................................74
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
vi
DANH MỤC BẢNG
Tên bảng
TT
Trang
2.1
Bảng danh lục các loài thực vật làm thuốc (mẫu)
18
4.1
Sự phân bố các taxon trong các ngành của các loài cây thuốc được
29
đồng bào dân tộc H’Mông ở xã Tả Van và xã Bản Hồ sử dụng
4.2
hai xã Tả Van và xã Bản Hồ sử dụng
4.7
Thống kê các loài cây thuốc theo môi trường sống
36
4.8
Bảng thống kê các loài cây đang bị đe dọa được đồng bào H’Mông ở
38
xã Tả Van và Bản Hồ sử dụng làm thuốc
4.9
Sự đa dạng trong các bộ phận được sử dụng làm thuốc
45
4.10
Sự đa dạng về các nhóm chữa trị bệnh bằng cây thuốc dân tộc
49
4.11
Tổng hợp các bài thuốc thu thập được trong quá trình nghiên cứu
Trang
27
29
35
4.3
Số lượng của các loài cây thuốc phân bố theo môi trường sống
37
4.1
Sơ đồ phân bố các loài cây thuốc có giá trị cần được bảo vệ
42
4.4
Tỷ trọng sự phân bố số lượng các bộ phận sử dụng làm thuốc
46
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên sinh vật vô cùng phong phú và đa
nguyên này cũng như tới công tác bảo vệ phát triển rừng, bảo tồn thiên nhiên của
Vườn quốc gia Hoàng Liên nói riêng và của hụyện Sa Pa nói chung. Mặt khác, kinh
nghiệm sử dụng các loài cây thuốc của đồng bào dân tộc H’Mông hiện nay chủ yếu
chỉ có ở người lớn tuổi, thường họ chỉ truyền lại cho con cái khi họ sắp qua đời, do
đó những kinh nghiệm dân gian này đang ngày càng bị mai một.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu tài
nguyên cây thuốc được đồng bào dân tộc H’Mông sử dụng tại xã Tả Van và xã
Bản Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” nhằm mục đích làm cơ sở để sử dụng hợp lý
tài nguyên thực vật, góp phần vào công cuộc bảo tồn các loài thực vật và tri thức
bản địa của Việt Nam cũng như trong khu vực.
3
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên thế giới
Trong lịch sử loài người, nói đến việc chữa bệnh bằng cây cỏ, người ta không
thể không nhắc tới Trung Quốc, một trong những quốc gia có nền y học cổ truyền
rất phát triển. Theo truyền thuyết của Vua Thần Nông tức Viêm Đế (3.320 – 3.080
trước Công nguyên) thì Thần Nông đã phân biệt được hàng trăm loại cây cỏ, phân
loại dược tính của chúng và soạn ra cuốn sách “Thần nông thảo bản”. Theo các tài
liệu nghiên cứu về Trung Quốc của các nhà khoa học thì “Thần nông thảo bản”
không soạn trong đời Thần Nông mà được soạn vào đời Đông Hán, vì thời Thần
Nông không có văn tự. Tất cả mọi chuyện đều là truyền thuyết. Trong cuốn “Thần
nông thảo bản” đã thống kê được 365 vị thuốc có giá trị. Trong đó, nhiều bài thuốc
vẫn được sử dụng cho tới ngày nay như cây Gai mèo (Cannabis sp.) để chống nôn,
cây Đại Phong Tử (Hydnocarpus kurzii) làm thuốc chữa bệnh phong…
Vào thời Tam Quốc, danh y Hoa Đà, sử dụng Đàn hương, Tử đinh hương để
chế hương nang để phòng chống và chữa trị bệnh lao phổi và bệnh lỵ. Ông còn
dùng hoa Cúc, Kim ngân phơi khô cho vào chiếc gối (hương chẩm) để điều trị
hiện tượng tự nhiên chứ không phải là một hiện tượng siêu nhiên và ông cho rằng
người ta có thể dùng các vị thuốc mà không cần phải tiến hành các nghi lễ cúng bái
hoặc phù phép.
Ở Châu Âu, vào thời Trung cổ, các kiến thức về cây thuốc chủ yếu được các
thầy tu sưu tầm và nghiên cứu. Họ trồng cây thuốc và dịch các tài liệu về thảo mộc
bằng tiếng Ả rập. Vào năm 1649, Nicolas Culpeper đã viết cuốn sách “A Physical
Directory”, sau đó vài năm, ông lại xuất bản cuốn “The English Physician”. Đây là
cuốn dược điển có giá trị và là một trong những cuốn sách hướng dẫn đầu tiên dành
cho nhiều đối tượng sử dụng, người không chuyên có thể sử dụng để làm cẩm nang
chăm sóc sức khỏe. Cho đến nay, cuốn sách này vẫn được tham khảo và trích dẫn
rộng rãi.
Galen (131-200 SCN), một thầy thuốc của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius,
có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của các vị thuốc bào chế từ thảo mộc. Galen
được Hippocratrs chỉ dẫn và đã đặt các giả thuyết chữa bệnh của mình trên cơ sở
khoa học thuyết bốn thể dịch (gồm bốn chất lỏng chính hay thể dịch tồn tại trong cơ
5
thể con người như: máu, dịch mật, u sầu và đàm). Những ý tưởng của ông có ảnh
hưởng to lớn đến việc chữa bệnh trong 1400 năm sau. Tại Ấn Độ và Trung Quốc,
các phương pháp trị bệnh tinh tế có phần tương tự với học thuyết bốn thể dịch cũng
đã phát triển và tồn tại cho tới ngày nay.
Thầy lang và những bài thuốc cổ truyền từ thực vật đóng vai trò quan trọng đối
với sức khỏe của hàng triệu người. Tỷ lệ người làm nghề thuốc cổ truyền và các bác
sĩ được đào tạo ở các trường Đại học có liên quan tới toàn bộ dân số của các nước
châu Phi. Ước tính số lượng thầy lang ở Tanzanmia có khoảng 30.000 – 40.000
người, trong đó, bác sĩ làm nghề y chỉ có khoảng 600 người. Tương tự ở Malawi có
khoảng gần 20.000 người làm nghề thuốc cổ truyền nhưng số lượng bác sĩ rất ít.
Nền y học cổ truyền ở các quốc gia Châu Phi có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng
đồng. Từ lâu, người Haiiti thường dùng cây Cỏ lào (Eupatorium odoratum) để làm
(1950) đã phân lập được chất Glucosid barbaloid từ cây Lô hội (Aloe vera), chất
này có tác dụng với vi khuẩn lao ở người và vi khuẩn Baccilus subtilis. Lucas và
Lewis (1994) đã chiết xuất một hoạt chất có tác dụng với các loài vi khuẩn gây bệnh
tả, lị, mụn nhọt từ Kim ngân (Lonicera sp.). Từ cây Hoàng Liên (Coptis teeta),
người ta đã chiết xuất được berberin. Trong lá và rễ cây Hẹ (Allium odorum) có các
hợp chất sulfua, sapoin và chất đắng. Năm 1948, Shen-Chi-Shen phân lập được một
hoạt chất Odorin ít độc đối với động vật bậc cao nhưng lại có tác dụng kháng
khuẩn. Hạt của cây Hẹ cũng có chứa chất Alcaloid có tác dụng kháng khuẩn gram+
và gram-, nấm. Reserpin và Serpentin là chất hạ huyết áp được chiết xuất từ cây Ba
gạc (Rauvolfa spp.). Đặc biệt, Vinblastin và Vincristin vừa có tác dụng hạ huyết áp
vừa có tác dụng làm thuốc chống ung thư, được chiết xuất từ cây Dừa cạn. Digitalin
được chiết xuất từ cây Dương địa hoàng (Digitalis spp.), strophatin được chiết xuất
từ cây Sừng dê (Strophanthus spp.) để làm thuốc trợ tim. Từ những thành tựu
nghiên cứu cấu trúc, hoạt tính của các hợp chất tự nhiên, nhiều loại thuốc có tác
dụng chữa bệnh cao đã ra đời bằng tổng hợp hoặc bán tổng hợp.
Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì đến năm 1985, có trên
20.000 loài thực vật bậc cao có mạch và ngành thực vật bậc thấp được sử dụng trực
tiếp làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất tự nhiên để làm thuốc (trong tổng số
250.000 loài đã biết). Trong đó, vùng nhiệt đới Châu Mỹ có hơn 1.900 loài, vùng
nhiệt đới Châu Á có khoảng 6.500 loài thực vật có hoa được dùng làm thuốc. Mức
độ sử dụng thuốc thảo dược ngày càng cao [35].
7
Khoảng 80% dân số ở các quốc gia đang phát triển sử dụng các phương pháp y
học cổ truyền để chăm sóc sức khỏe, trong đó chủ yếu là cây cỏ. Trung Quốc là
nước đông dân nhất thế giới, có nền y học dân tộc phát triển nên trong số cây thuốc
đã biết hiện nay có tới 80% số loài (khoảng trên 4.000 loài) là được sử dụng theo
kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc ở đât nước này. Ở Ghana, Mali, Nigeria và
Zambia, 60% trẻ em có triệu chứng sốt rét ban đầu được điều trị tại chỗ bằng thảo
thương tụ máu; cải soong (Nasturtium officinale) giải nhiệt, chữa lở mồm, chảy máu
chân răng, bướu cổ.
Nguyên nhân gây nên sự suy giảm nghiêm trọng về mặt số lượng của các loài
cây thuốc trước hết là do sự khai thác quá mức nguồn tài nguyên dược liệu và do
môi trường sống của chúng bị hủy diệt bởi các hoạt động của con người. Đặc biệt, ở
các vùng rừng nhiệt đới và Á nhiệt đới là nơi có mức độ đa dạng sinh học cao của
thế giới nhưng lại bị tàn phá nhiều nhất. Theo số liệu của tổ chức Nông Lương
(FAO) của Liên hợp quốc, trong vòng 40 năm (1940 – 1980), diện tích của các loại
rừng kể trên đã bị thu hẹp tới 44%, ước tính khoảng 75.000 hecta rừng bị phá hủy.
Trong thế kỷ 21, với mục đích phục vụ sức khỏe con người, sự phát triển của
xã hội, chống lại các bệnh nan y thì sự cần thiết là phải kết hợp giữa Đông Y với
Tây Y, giữa Y học hiện đại và Y học cổ truyền của các dân tộc. Chính những kinh
nghiệm của các dân tộc chính là chìa khóa giúp chúng ta khám phá ra nhiều loại
thuốc mới cho tương lai. Chính vì điều đó mà việc bảo tồn, khai thác và phát triển
các loài cây thuốc cần được chú ý quan tâm.
1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam.
Cũng như các dân tộc khác, nền y học cổ truyền của Việt Nam đã có từ rất lâu
đời, nhiều phương thuốc bào chế từ cây thuốc được áp dụng chữa bệnh trong dân
gian. Những kinh nghiệm này đã được ghi chép thành những cuốn sách có giá trị và
lưu truyền rộng rãi trong nhân dân. Với lợi thế về khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và
ẩm, Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật phong phú. Ước tính, nước ta có
khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch, 800 loài rêu, 600 loài nấm và hơn
2.000 loài tảo. Có khoảng gần 4.000 loài thực vật bậc cao dùng làm thuốc [46].
Ngoài sự phong phú về thành phần chủng loại, nguồn dược liệu Việt Nam còn
có giá trị to lớn ở chỗ chúng được sử dụng rộng rãi trong cộng đòng để chữa nhiều
chứng bệnh khác nhau. Cây thuốc được sử dụng dưới hình thức độc vị hay phối hợp
với nhau tạo nên các bài thuốc cổ phương, còn tồn tại và thịnh hành đến ngày nay.
9
10
Bộ sách “Danh mục các sản phẩm ở Đông Dương” của C.Crévost và A.Pétélot năm
1935 đã thống kê được 1.340 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc được dùng trong y
học của Đông Dương [54]. Tuy nhiên, cuốn sách này chưa hoàn thiện về mô tả,
phân bố, thành phần hóa học và dược lý của các loại thảo mộc.
Trong thời gian 1962-1965, Đỗ Tất Lợi đã tổng hợp các công trình khoa học
đã công bố và các kết quả nghiên cứu của các nhân để biên soạn bộ sách “Các cây
thuốc và vị thuốc Việt Nam” gốm 6 tập. Năm 1995, tác giả bổ sung và hoàn thiện
công trình nêu trên, trong đó giới thiệu hơn 800 loài động vật và thực vật làm thuốc,
trong đó nhiều loài thực vật đã được mô tả về mặt cấu tạo, phân bố, cách thu hái và
chế biến, thành phần hóa học, công dụng và liều dùng. Đây là bộ sách có giá trị lớn
về mặt khoa học, kết hợp giữa khoa học dân gian với khoa học hiện đại [27,28].
Cùng thời gian này, nhiều nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu về thành phần
loài và công dụng của các cây thuốc ở nước ta. Các công trình nghiên cứu lần lượt
được công bố phục vụ cho việc sử dụng và phát triển cây thuốc như :
+ Vũ Văn Chuyên (1966) cho công bố tập “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc”
(cuốn sách này được tái bản lần thứ hai vào năm 1976) [11].
+ Vũ Văn Kính (1979) xuất bản “Sổ tay y dược học” với 500 bài thuốc gia truyền.
+ Phạm Hoàng Hộ (1991-1993) đã xuất bản bộ sách “Cây cỏ Việt Nam” đã giới
thiệu được công dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật [19].
Thời gian này nhiều đề tài điều tra nghiên cứu cây thuốc được triển khai.
Trong các đợt điều tra sưu tầm được thực hiện từ năm 1961 đến năm 1985, đã thống
kê trên toàn quốc có 1.863 loài và dưới loài thực vật dùng làm thuốc. Theo Viện
Dược liệu, phần lớn các cây thuốc được sử dụng theo kinh nghiệm của dân gian, chỉ
có khoảng 5% các loài là ghi nhận theo tài liệu nước ngoài. Trong đó, 700 loài phân
bố chủ yếu ở các vùng rừng núi, 400 loài phân bố ở vùng đồi và trung du. Theo số
liệu điều tra của Viện Dược liệu (2001), nước ta có 3.800 loài cây thuốc. Dự đoán
số loài cây thuốc của Việt Nam nếu được nghiên cứu đầy đủ sẽ có thể lên tới 6.000
đã giới thiệu 159 loài cây thuốc.
+ Tập thể các tác giả Viện Dược Liệu (1993) cho ra đời cuốn “Tài nguyên Cây
thuốc Việt nam” với khoảng 300 loài cây thuốc đang được khai thác và sử dụng ở
các mức độ khác nhau trong toàn quốc [45]; đến năm 1994 xuất bản cuốn “Dược
điển Việt Nam, 2 tập”; năm 2001 với “Selected medicinal plants in Vietnam”; năm
2004 với “Cây thuốc và động vật là thuốc ở Việt Nam, 2 tập” [3].
12
Trong những năm qua, nhà nước Việt Nam đã có nhiều chính sách đầu tư cho
công tác điều tra, nghiên cứu về cây thuốc và kế thừa nền y học cổ truyền, phục vụ
cho nhu cầu chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Các ngành Y tế, Lâm
nghiệp và Sinh học đã tiến hành nhiều đợt điều tra cơ bản, đặc biệt là chương trình
điều tra nghiên cứu cây thuốc của Viện Dược liệu – Bộ Y tế đã tiến hành trên phạm
vi toàn quốc. Theo điều tra, cho đến năm 2004 ở nước ta có khoảng 3.948 loài cây
thuốc được ghi nhận, thuộc 307 họ của 9 ngành thực vật bậc cao và bậc thấp, bao
gồm cả nấm. Kết quả điều tra còn ghi nhận được các kinh nghiệm sử dụng cây
thuốc của cộng đồng dân tộc ở các địa phương trong cả nước. Bên cạnh đó, các nhà
khoa học thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật trong những năm qua đã có
nhiều công trình nghiên cứu về tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các
dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Đặc biệt là các nghiên cứu về y học cổ truyền của các
dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trong những năm gần đây như các dự án:
+ Bảo vệ nguồn tài nguyên cây có ích ở VQG Tam Đảo (1997-2000) do trung
tâm nghiên cứu và phát triển cây thuốc cổ truyền (CREDEP), tổ chức các Vườn
thực vật Quốc tế (ICBG) và VQG Tam Đảo thực hiện. Đã tiến hành kiểm kê cây
thuốc, xác định mức độ bảo tồn, phân bố và điều kiện sinh thái của cây thuốc ở
VQG Tam Đảo. Kết quả là đã xác định được 361 loài cây thuốc trong đó có 25 loài
ưu tiên bảo tồn. Dự án cũng đã nghiên cứu phương pháp nhân giống bằng hom của
11 loài cây thuốc.
+ Nghiên cứu và ứng dụng thành công tri thức sử dụng cây Ngấy (Rubus
có tác dụng chữa bệnh. Những tri thức và kinh nghiệm sử dụng những loài cây để
chữa bệnh đã được người dân địa phương giữ gìn và lưu truyền lại qua nhiều đời,
nhiều thế hệ sau. Về sau, một phần nhỏ người dân, chủ yếu là các bà mế, ông lang ở
đây đã đưa một số loài cây thuốc về trồng trong vườn nhà. Tuy nhiên đó chỉ là số
lượng nhỏ, một số loài không thể trồng được nên họ vẫn khai thác nguồn tài nguyên
cây thuốc trong rừng để chữa bệnh, trao đổi mua bán.
Đề án "Điề u tra đánh giá dươ ̣c liê ̣u mô ̣t số vùng tro ̣ng điể m của tỉnh Lào
Cai" (Viê ̣n Dươ ̣c liê ̣u 1997, 1998) đã thố ng kê có 706 loài cây thuố c có tiề m năng
làm thuố c ở huyê ̣n Sa Pa, trong đó có xã Tả Van và xã Bản Hồ. Theo điề u tra sơ bô ̣
của Viê ̣n Dược liê ̣u chỉ có 17 loài còn trữ lượng khá, có khả năng khai thác tự nhiên. Phần
lớn là các cây thuốc thông thường. Có 35 loài cây thuố c bi ̣ đe do ̣a ở các mức đô ̣ khác
14
nhau bao gồm 10 loài ở mức đô ̣ E (Endangered - đang nguy cấ p); 8 loài ở mức đô ̣
V (Vulnerable - sẽ nguy cấ p); 10 loài ở mức đô ̣ R (Rare- hiế m); 7 loài ở mức đô ̣ T
(Threatened - bi ̣ đe do ̣a). Có 98 loài cây thuố c đươ ̣c trồ ng ở huyê ̣n Sa Pa. Trong đó
23 loài đươ ̣c trồ ng phổ biế n như: Thảo quả, Ba ̣ch truâ ̣t, Đỗ tro ̣ng, Laõ quan thảo,
Đương quy,... Phầ n lớn các cây là nhâ ̣p nô ̣i, chỉ có mô ̣t số loài là bản điạ [16].
Năm 2003, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, thuộc Viện Khoa học và
Công nghệ Việt Nam đã tiến hành đề tài “Xây dựng luận cứ khoa học để bảo vệ tri
thức bản địa cho việc sử dụng đa dạng sinh học” có triển khai tại một số điểm của
huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, nhưng đây chỉ là một số ghi nhận nhỏ [47].
Năm 2008, Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự công bố “Đa dạng sinh học VQG
Hoàng Liên” trong đó có ghi nhận nằm trong khu vực VQG có 761 loài cây thuốc.
Cũng theo tác giả thì nơi đây là trung tâm của các loài cây thuốc nguy cấp, một số
loài cây thuốc quí hiếm như Ô đầu (Aconitum camichaeli), Bạch chỉ (Angelica
dahurica), Đương quy (Angelica uchiyamae), Dâm dương hoắc (Epimedium
macranthum), Tam thất (Panax stipuleanatus), Hoàng liên (Coptis chinensis),…
Nhưng đây là công trình tổng hợp về đa dạng sinh học nói chung của cả vườn quốc
2.3. Nội dung nghiên cứu
2.3.1. Đa dạng loài:
Thu thập và xử lý mẫu vật, xác định tên, xây dựng danh lục và phân tích đánh
giá đa dạng các loài thực vật được đồng bào dân tộc H’Mông ở xã Tả Van và xã
Bản Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai sử dụng làm thuốc.
2.3.2. Sự phân bố các loài cây thuốc theo môi trường sống.
Xây dựng bản đồ phân bố các loài cây thuốc có giá trị cần được bảo vệ.
2.3.3. Vấn đề sử dụng cây thuốc:
Đa dạng về công dụng chữa trị của các loài cây thuốc, bộ phận của cây được sử
dụng làm thuốc. Một số bài thuốc.
2.3.4. Các giải pháp bảo tồn các loài cây thuốc và nguồn tri thức bản địa cho
cộng đồng dân cư địa phương:
16
Tình hình khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc và các bài thuốc dân
gian. Mối nguy cơ và các biện pháp nhằm bảo tồn tài nguyên cây thuốc và bài thuốc
dân gian.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Điều tra thực địa theo tuyến:
Điều tra khảo sát sơ bộ sau đó ta tiến hành chọn tuyến điều tra. Tuyến được
chọn phải đảm bảo yêu cầu phải chạy qua các sinh cảnh đặc trưng cho khu bảo tồn.
Trên mỗi tuyến cắt ngang chọn các ô tiêu chuẩn là những điểm chốt đặc trưng nhất
để nghiên cứu đa dạng tài nguyên cây thuốc (Theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997).
Trên mỗi tuyến, tiến hành điều tra các loài cây thuốc của đồng bào dân tộc
H’Mông sử dụng trong phạm vi 10 m mỗi bên. Mỗi loài lấy 5-6 tiêu bản.
Sau thời gian gần một năm, được sự giúp đỡ của Ban lâm nghiệp xã Tả Van và
xã Bản Hồ và các trạm kiểm lâm trực thuộc, các ông lang, bà mế, chúng tôi đã tiến
hành 2 chuyến điều tra khảo sát và thu mẫu trong phạm vi khu vực nghiên cứu.
- Các tuyến điều tra thực địa là:
+ Thu thập các loài thực vật làm thuốc được đồng bào dân tộc H’Mông ở xã
Tả Van và xã Bản Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai sử dụng (theo Nguyễn Nghĩa
Thìn, 2004; Nguyễn Thượng Dong và cộng sự, 2006).
2.4.3. Xử lý số liệu
+ Phương pháp chuyên gia: Dựa vào kinh nghiệm của các chuyên gia đặc biệt
là các vấn đề như xác định tên khoa học của các mẫu đã thu hái, các thuật ngữ về
các bệnh được chữa trị.
+ Phương pháp xử lý mẫu vật, chỉnh lý tên khoa học (theo Nguyễn Nghĩa thìn,
1997). Các tiêu bản tươi được thu thập ngoài thực địa tiếp tục xử lý trong phòng thí
nghiệm tại Phòng Thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật. Các mẫu sau khi
sấy khô được ngâm tẩm bằng dung dịch cồn chứa 0,3-0,5% HgCl2 để diệt khuẩn và
chống côn trùng phá hại. Các mẫu tiêu bản được sấy khô, ép khẳng, trình bày và
khâu trên giấy bìa cứng kích thước 28 cm x 42 cm.
+ Xác định tên khoa học, kiểm tra, chỉnh lý tên theo các tài liệu chính là các
tập Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ), Thực vật chí Việt Nam (nhiều tác giả),
Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam (nhiều tác giả) cùng nhiều tài liệu liên quan
khác,….
18
+ Xây dựng danh lục: Điều chỉnh khối lượng họ, chi theo hệ thống của bộ
Sách “Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam” 3 tập [2,42]. Danh lục được xây dựng
theo nguyên tắc sự phát triển của các ngành thực vật từ Lá thông đến thực vật Hạt
kín. Trong mỗi ngành các họ, chi loài được xếp theo vần ABC. Riêng ngành thực
vật Hạt kín do khối lượng lớn nên chia thành 2 lớp là Hai lá mầm và lớp Một lá
mầm, sau đó cũng xếp tương tự như trên. Danh lục ngoài tên khoa học, tên Việt
Nam của các loài còn có các thông tin khác như công dụng, dạng sống, môi trường
sống của các loài thực vật, bộ phận sử dụng và cách thức sử dụng loài đó làm thuốc
như mô hình bảng 2.1.
Bảng 2.1. Bảng danh lục các loài thực vật làm thuốc (mẫu)
Lào Cai. Các loài được xác định quí hiếm có nguy cơ bị tiêu diệt dựa vào tiêu chí
của các công trình sau:
-
Sách đỏ Việt Nam, 2007;
-
Danh lục các loài thực vật quý hiếm của IUCN, 2009;
-
Nghị định số 32 của chính phủ về quản lý các loài động thực vật quý hiếm.
+ Đánh giá tính đa dạng của các loài cây thuốc, về dạng sống của các loài cây
thuốc, môi trường sống của các loài cây thuốc, về tần số sử dụng các bộ phận, về số
lượng các bộ phận sử dụng làm thuốc (theo Nguyễn Thượng Dong và cộng sự, 2006).
+ Sơ đồ phân bố các loài thực vật quý hiếm: Căn cứ vào các điểm đã phát hiện
được cây thuốc ngoài thực địa (đã được xác định vị trí bằng GPS và đánh dấu vào
bản đồ điều tra), đánh dấu điểm phân bố của loài trên bản đồ (theo Nguyễn Nghĩa
Thìn, 2004).