Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm bảo tồn một số loài địa lan kiếm (cymbidium) ở vùng hoàng liên sơn, huyện sa pa, tỉnh lào cai - Pdf 14

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CT : Công thức
VQG : Vương Quốc Gia
CS : Cộng sự
ĐH : Đại học
g/l : gam/lít
MH : Mầm hoa
NL : Nhắc lại
NN : Nông nghiệp
NXB : Nhà xuất bản
TN : Thí nghiệm
% : Phần trăm
H
1
: Lan Kiếm Trần Mộng Xuân
H
2
: Lan Kiếm Hồng Hoàng
H
3
: Lan Kiếm Thu Vàng
N:P:K : Đạm: Lân: Kali
STT : Số thứ tự
TB :Trung bình
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1.4. Giá trị kinh tế và sử dụng hoa lan 7
1.1.4. Giá trị kinh tế và sử dụng hoa lan 7
* Giá thể 9
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

giới đã đạt giá trị 25 tỷ đô la và thế kỷ 21 sẻ đạt giá trị hơn 40 tỷ đô la ( Đồng
Văn Khiêm, 2003) [14].
Hiện nay, nghiên cứu về khoa học ở nước ta chủ yếu tập trung nghiên
cứu nhân nhanh các giống hoa lan nhiệt đới. Kỹ thuật nuôi trồng trên quy mô
công nghiệp hầu như còn ít, chưa có nhiều nghiên cứu về kỹ thuật trồng, chọn
lọc loài lan rừng thích hợp với điều kiện khí hậu Sa Pa nói riêng và miền Bắc
nói chung. Để phát triển lâu dài bền vững thì các chủng loại lan rừng Việt
1
Nam cần được nghiên cứu nhằm bảo tồn nguồn gen để phục vụ cho việc lai
tạo lan trong tương lai, tạo ra những loài lan đặc hữu chỉ có ở Việt Nam. Mặt
khác, cần hoàn thiện nhanh chóng qui trình nuôi trồng lan công nghiệp nhằm
đáp ứng thị trường trong nước cũng như dần hướng tới thị trường xuất khẩu
(Nguyễn Thiện Tịch và cộng sự, 2003) [22].
Trong họ lan, địa lan kiếm (Cymbidium) được mệnh danh là “nữ
hoàng” của các loài lan nhờ chúng có những điểm nổi bật cả về giá trị khoa
học lẫn giá trị mỹ thuật, giá trị tinh thần, vẻ tao nhã, hài hòa của chúng từ lâu
đã hiện diện trong văn học, nghệ thuật và gắn liền với đời sống văn hóa của
người Á Đông. Địa lan là một loài lan quý có giá trị thương mại cao, có khả
năng thích ứng tốt với khí hậu miền Bắc - Việt Nam. Vì vậy, việc nghiên cứu
một số biện pháp kỹ thuật nhằm bảo tồn một số loài địa lan kiếm là việc làm
cần thiết và cấp bách.
Xuất phát từ thực tế trên chúng ta phải có biện pháp như lưu giữ, bảo tồn
nguồn gen hoa địa lan kiếm từ đó có kế hoạch khai thác và sử dụng một cách
hiệu quả nhất. Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một số biện
pháp kỹ thuật nhằm bảo tồn một số loài địa lan kiếm (cymbidium) ở vùng
Hoàng Liên Sơn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai”.
2
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Sơ lược về cây hoa lan

sớm, từ thế kỷ thứ 5 trước công nguyên đã có các tranh vẽ về phong lan còn
lưu lại từ thời Hán Tông. Ở châu Âu bắt đầu để ý đến phong lan từ thế kỷ thứ
18, sau Trung Quốc đến hàng chục thế kỷ và cũng nhờ các thuỷ thủ thời bấy
giờ mà phong lan đã đến khắp các miền của địa cầu. Lan chính thức gia nhập
vào ngành hoa cây cảnh trên thế giới khoảng hơn 400 năm nay Trần Hợp
(1990) [10].
Theo Phạm Hoàng Hộ (1972) [8], đã mô tả kèm hình vẽ 289 loài lan
gặp ở Nam Việt Nam trong bộ “Cây cỏ Việt Nam” (quyển II ). Sau năm 1975
các nhà khảo cứu Việt Nam, Liên Xô, Tiệp Khắc bắt đầu tìm kiếm và nghiên
cứu về những giống lan tại Việt Nam.
Năm 1992, Gunnar Seidenfaden người Đan Mạch đã phát hành cuốn
“Hoa Lan tại Đông Dương” gồm 200 giống và 2000 loài, trong đó có khoảng
136 giống và 720 loài của Việt Nam. Đến năm 1993 (Phạm Hoàng Hộ, 1993)
[9] cho rằng, ở Việt Nam có tới 755 loài lan. Và gần đây nhất Leonid V.
Averyanov & Anna L. Averyanova (2003) [26], đã lần lượt công bố trên tờ
nguyệt san Orchids của Hội hoa lan Hoa Kỳ những khám phá mới lạ đã phát
hiện thấy 4 loài lan ở Việt Nam chưa được biết đến đó là Paphio pledilum
helenae, Renamthera citrina, Paphiopedilum hiepii và Vanda bidupensis.
1.1.2. Vị trí phân bố
Họ phong lan phân bố từ 68
0
vĩ Bắc đến 56
0
vĩ Nam, nghĩa là từ gần
cực Bắc như Thủy Điển, Aleska và xuống tận cuối cùng ở cực Nam của
Australia. Tuy nhiên tập trung phân bố của họ này là ở trên các vĩ độ nhiệt
4
đới, đặc biệt châu Mỹ và Đông Nam Á. Ngay ở các vùng nhiệt đới họ phong
lan cũng phân bố rộng khắp từ vùng đầm lầy sát Biển Hồ qua các đồi núi thấp
lên các vùng núi cao. Mặc dù đa số các loài lan chỉ mọc ở độ cao dưới 2000 m

miền Bắc và miền Nam. Một số loài chủ yếu: Habenaria, Phaius,
Flickingeria, Dendrobium
- Khu Trường Sơn Nam: Do địa hình chia cắt nhiều nên các loài lan
phân bố ở đây rất phức tạp, có những loài nhiệt Đới và Á nhiệt Đới, đặc biệt
có loài chịu khô, nóng kéo dài như: Eria, Cleisostoma, Liparis , loài chịu ẩm
như Bromheadia, Calanthe
- Khu đồng bằng Miền Nam: Khí hậu ở đây nhiệt Đới với 2 mùa mưa
và khô rõ rệt. Số lượng loài phong phú, tập trung chủ yếu các loài:
Bulbophyllum, Acampe, Dendrobium, Eria
- Khu đảo: Các loài chủ yếu như Bulbophylium, Apostasia, Liparis, Eria
1.1.3. Phân loại họ phong lan
Năm 1753, Linnê đã dùng luôn danh từ Orchid để chỉ các loài lan. Đến
năm 1836, John Lindley (1779 - 1865) dùng danh từ Orchid để chỉ chung cho
các loài lan và từ đó các loài lan được xếp thành một họ trong hệ thống phân
loại gọi là Orchidaceae. Ông công bố, sắp xếp các tông thuộc họ lan và tên
của họ lan được dùng cho đến ngày nay (Trần Văn Bảo, 2001) [1].
Theo Taktajan (1980), sự phân chia họ phong lan khá phức tạp, theo
truyền thống cổ điển, các nhà khoa học trước đây chia họ phong lan thành 3
họ phụ khá minh bạch. Tuy nhiên gần đây do việc phân tích hoa đầy đủ hơn
và đi sâu vào nghiên cứu đặc tính di truyền, các nhà khoa học đã chia phong
lan làm 6 họ phụ (trong Trần Hợp, 2001) [11].
- Apostasicideae - Orchidadeae
- Cypridicideae - Epidendroideae
- Neottioideae - Vandoideae
6
Chi lan Kiếm thuộc họ phụ Orchidioideae cả 6 họ phụ này đều được
phân bố rộng rãi trên trái đất. Họ phong lan của Việt Nam cũng khá phong
phú, theo thống kê sơ bộ, có 120 chi, trên 800 loài. Như vậy họ phong lan đã
trở thành đối tượng cực kỳ phong phú và đặc sắc của hệ thực vật Việt Nam.
Theo Leonid & Anna (2003) [26], Việt Nam hiện nay người ta đã biết

Philippines đến Phigi. Đa số các loài trong chi đều gồm các cây sống phụ trên
cây mục khác hoặc hốc đá có mùn [37].
1.3. Đặc điểm thực vật học chi lan kiếm
Các nhà khoa hoa học đã mô tả tóm tắt đặc điểm thực vật học chi lan Kiếm
như sau:
Rễ lan : Chi lan kiếm có bộ rễ lớn, dày, nạc, xốp. Chúng sống ở đất hoặc
sống phụ, sống hoại trong các hốc đá. Hệ rễ chia thành rễ chính, rễ phụ, rễ
nhánh, rễ to mập, thường có màu trắng xám (Trần Hợp, 2001) [11].
Thân lan: Thân củ hình trụ, chứa nhiều chất dinh dưỡng và nước. Thân
chính nếu sống trong môi trường thuận lợi hàng năm mọc ra nhiều nhánh mới.
Chi lan kiếm (Cymbidium) thuộc nhóm lan đa thân (Sympodial) cây trong
nhóm này thường không tăng trưởng liên tục mà có thời gian nghỉ sau những
mùa tăng trưởng. Thông thường, phần nhìn thấy của hoa lan chỉ có lá, hoa và
cuống. Chúng được mọc nên từ một đoạn phình to, giống như củ hành nên
người ta gọi là giả hành (Trần Duy Quý, 2005) [18].
Lá lan: Một hoa lan trưởng thành có rất nhiều lá. Lá tự dưỡng, do đó nó
phát triển đầy đủ hệ thống lá. Lá thuộc loại lá song đính, lá lớn, lá trải rộng và
xếp xít trên thân, đôi khi rủ xuống, xếp cách đều đặn trên thân. Lá thường có màu
xanh bóng, đậm và nhẵn, cũng có những loài lá có điểm những vệt vàng hay
xanh nhạt (Nguyễn Tiến Bân, 1997) [2].
8
Hoa lan: Cụm hoa to, dạng chùm, màu sắc sặc sỡ, đẹp. Cánh đài lưng
thường ngắn, nhưng 2 cánh đài bên kéo dài với nhau ở cằm. Cánh tràng 2,
thường có
dạng giống cánh đài. Cánh môi dính hay chia 2 - 3 thuỳ, cột nhụy
dài chứa
phấn khối.
Quả lan: Quả lan thuộc dạng quả nang, khi quả chín sẽ nứt dọc theo 3 -
6 khe. Quả có dạng từ dạng quả cải dài đến dạng hình trụ ngắn, phình to ở
giữa. Khi chín, quả mở ra các hạt bị gió cuốn đi còn lại mảnh vỏ đính lại với

dừa, rêu biển, than bùn, than củi, mùn cưa, bã mía, trấu hun, vỏ cây.
So với các giá thể trồng hoa lan kiếm thì ở giá thể vô cơ có ưu điểm là
có thể ổn định một vài năm, đối với giá thể này việc quan trọng nhất là sử
dụng phân bón hợp lý. Còn giá thể hữu cơ thì chúng phân hủy theo thời gian
gây ra sự thối rể ở đáy bầu do sự đóng kết và tích lũy nước. Do vậy, cần
thường xuyên bổ sung thêm giá thể mới để kích thích thêm giá thể mới để
kích thích, trẻ hóa bộ rể cây.
Sử dụng các giá thể để trồng hoa lan kiếm còn phải chú ý tới điều kiện
nhiệt độ, khí hậu cụ thể của từng vùng. Ở vùng có nhiệt độ thấp 65
0
F
(18,33
0
C) ban ngày và 45
0
F (7,22
0
C) ban đêm với độ ẩm trung bình có thể
thêm vỏ cây Linh Sam và đá bọt biển (Peclit thô) vào hỗn hợp trên. Hỗn hợp
này có nhiều tác dụng nhất cho vùng có khí hậu lạnh vào mùa đông và ấm
nóng vào mùa hè vì có vỏ cây giúp giữ lại lượng ẩm đáng kể trong hỗn hợp.
Ở điều kiện khí hậu khô có thể tăng thêm rêu và rong biển chũng sẽ làm sự
thoát ẩm diễn ra chậm lại. Nhưng cần sử dụng cẩn thận khi thêm rong (rêu) vì
tưới nước thường xuyên sẻ dẫn đến thừa ẩm, làm úng dẫn đến bộ rể bị thối
rữa cây dễ bị bệnh và chết [37].
* Độ ẩm và chế độ tưới
Độ ẩm cũng là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển của
các loài hoa lan kiếm.
10
Sự hài hòa của ẩm độ vùng, ẩm độ vườn, kích thước của chậu lan giúp

các nhóm sau:
11
Nhóm 1: Bao gồm các nguyên tố cacbon (C), hydro (H), oxy (O).
Những nguyên tố này thường có sẵn trong không khí và nước giúp cho cây
sử dụng trong quá trình quang hợp.
Nhóm 2: bao gồm các nguyên tố đa lượng như nitơ, phốt pho, kali.
Trong đó Nitơ (N) là một trong 3 nguyên tố giữ vai trò hết sức cần
thiết với hoa lan, là nguyên tố giúp cho sự tăng trưởng ở lá, làm cho cây xanh
tốt. Mặt khác nitơ còn giúp cho quá trình điều hoà phốt pho. Nếu thiếu N, lá
nhỏ, hơi vàng, mầm yếu, dễ thối mầm và ít ra hoa. Còn phốt pho (P) là
nguyên tố quan trọng thứ hai sau N, dùng kết hợp với N giúp cho cây nảy
mầm mạnh, ra hoa nhanh, ra rễ nhiều. P còn giúp cho quá trình thụ phấn dễ
dàng hơn, đậu quả nhiều, quả mập, hạt khoẻ , tỷ lề nảy mầm cao. Nếu tỷ lệ P
quá lớn kích thích cho sự ra hoa sớm, lá ngắn, cứng. Cũng như P, K giúp
cho cây hấp thụ N một cách dễ dàng, giúp cho sự phát triển của chồi mới, K
còn giúp cho sự vận chuyển nước và chất dinh dưỡng trong cây. K giúp cho
cây cứng, thúc đẩy sự ra hoa, hoa có màu sắc tươi hơn, cây đề kháng với
bệnh tốt hơn. Nếu thiếu K cây cằn cổi khác thường, khô đầu lá rồi chết , đậu
quả ít, hạt lép, tỷ lệ nảy mầm thấp
Nhóm 3: Gồm các nguyên tố như canxi (Ca), magiê (Mg), lưu huỳnh
(S). Trong đó canxi (Ca) là nguyên tố cần thiết nhất để tạo lập vách tế bào,
giúp cho tế bào hoạt động một cách điều hoà trong việc tạo lập protein, giúp
cây hấp thụ nhiều đạm, bộ rễ phát triển khoẻ. Còn magiê (Mg) là một trong
những nguyên tố tạo nên diệp lục, giúp cây phát triển cân đối, hài hoà ở các
bộ phận. Một nguyên tố không kém phần quan trọng so với Ca và Mg đó là
lưu huỳnh (S). S là thành phần của nguyên sinh chất nằm trong tế bào sinh
trưởng của hoa lan. Nếu thiếu S cây cằn cỗi, lá vàng, mép lá đen, kích thước
lá nhỏ.
Các nguyên tố vi lượng: Bao gồm sắt (Fe), đồng (Cu), kẽm (Zn).
mangan (Mn), bo (B), molipđen (Mo) Hoa lan rất cần các nguyên tố vi

ra. Đặc điểm vết bênh thường có hình thoi và hình tròn nhỏ, đường kính trung
bình 1mm, màu xám nâu, xuất hiện ở mặt dưới lá. Bệnh nặng làm lá vàng,
chóng rụng, cây cằn cỗi, sinh trưởng kém.
* Bệnh thán thư: Nguyên nhân dẫn đến gây bệnh là Do nấm
Colletotrichumsp gây ra. Triệu chứng biểu hiện vết bệnh thường hình tròn,
nhỏ, màu nâu vàng, xuất hiện từ mép lá, chót lá hoặc giữa phiến lá, kích thước
trung bình 3 – 6 mm. Giữa vết bệnh hơi lõm, màu xám trắng, xung quanh có
gờ nhỏ màu nâu đỏ, trên mô bệnh có nhiều chấm nhỏ màu đen.
* Bệnh thối hạch: Nguyên nhân gây bệnh là do nấm Sclerotium
rolfsum gây ra. Bệnh xuất hiện trên gốc thân vết bệnh màu vàng nhạt sau
chuyển sang màu vàng nâu, thân cây teo tóp, lá vàng và do gốc rễ bị tổn
thương nên lá thường bị răn rúm, cây sinh trưởng kém, bệnh nặng cây bị chết.
Bệnh hại trên nhiều loài lan nhất là loài Oncidium và Cattleya.
* Bệnh thối mềm vi khuẩn: Nguyên nhân gây bệnh là do vi khuẩn
Pseudomonas gladioli gây ra. Triệu chứng thường có hình dạng bất định, ủng
nước, màu trắng đục, thường lan rộng theo chiều rộng của lá. Gặp thời tiết ẩm ướt
mô bệnh bị thối ủng, thời tiết khô hanh mô bệnh khô tóp, có màu trắng xám.
Ngoài các bệnh nêu trên thì hoa lan Kiếm còn bị một số loại côn trùng
phá hại như Bọ trĩ, nhện, ruồi vằn, rệp các loại. Ngoài ra còn các loại khác
như Châu chấu, gián, chuột, ốc sên [37].
1.6. Các nghiên cứu về hoa lan trên thế giới và ở Việt Nam
1.6.1. Trên thế giới
1.6.1.1. Tình hình nghiên cứu và sản xuất hoa lan trên thế giới
Trong những thập kỷ gần đây cùng với phương tiện giao thông phát triển
mạnh mẽ, các thành tựu khoa học kỹ thuật và sự phát triển về công nghệ sinh
học được ứng dụng rộng rãi. Do vậy, việc xuất nhập khẩu hoa lan ngày càng
tăng, với quy mô rất lớn. Nhiều nước đã trở thành cường quốc xuất khẩu hoa
lan
như Thái Lan, đài Loan. Hoa lan đã và đang là nguồn lợi lớn của các
nước

xuất khẩu hoa lan Hồ điệp của đài Loan chiếm 1/4 giá trị sản lượng hoa lan Hồ
điệp của thế giới. Kim ngạch xuất khẩu lan Hồ điệp tăng nhanh trong những năm
gần đây. Thị trường chính là các nước Châu Âu, Nhật và Mỹ [38].
Thái Lan là nước láng giềng của Việt Nam, Thái Lan có lịch sử nghiên
cứu và lai tạo phong lan cách đây khoảng 130 năm (Parinda - Sriyaphai, 2002)
15
[29]. H
iện nay, Thái Lan đã nghiên cứu và làm chủ công nghệ sản xuất cây
giống bằng nuôi cấy mô tế bào và công nghệ sản xuất, điều khiển ra hoa đồng
loạt một số loài phong lan, đặc biệt là các loài lan Hoàng Thảo
(Dendrobium) chiếm 80%. Đặc biệt khí hậu ở Thái Lan lại rất phù hợp cho sự
sinh trưởng và phát triển của lan Hoàng Thảo. Chính vì vậy, Thái Lan là nước
đứng đầu về xuất khẩu hoa phong lan trên thế giới kể cả cây giống và hoa lan
cắt cành (Hoàng Ngọc Thuận, 2003) [20].
Như vậy, trình độ khoa học công nghệ trong nghiên cứu và sản xuất
hoa lan trên thế giới đã đạt ở mức cao. Sản xuất hoa lan như một ngành công
nghiệp mang tính công nghệ cao, đã nhân giống theo kiểu công nghiệp, điều
khiển được một số loài hoa phong lan nở hoa theo ý muốn và đem lại giá trị kinh
tế lớn cho đất nước.
1.6.1.2. Một số kết quả nghiên cứu về hoa lan trên thế giới
* Về đánh giá nguồn gen
Các nhà khoa học Trung Quốc thuộc Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ
Thực vật thành phố Thẩm Quyến, Viện Nghiên cứu Thẩm Quyến, Đại học
Thanh Hoa và Viện Nghiên cứu Gen Hoa Đại tuyên bố đã hoàn thành việc
phác họa khung bản đồ gen hoa lan (Trung Quốc phác hoạ khung bản đồ gen
hoa lan, 2009) [31].
Các nhà khoa học đã tiến hành phân tích so sánh gen của 11 loài hoa
lan khác nhau và tạo ra được hệ thống tiến hóa tương đối hoàn chỉnh. Sau khi
hoàn thành việc phác họa khung bản đồ gen hoa lan, các nhà khoa học sẽ tiếp
tục hoàn thiện bản đồ gen chi tiết.

tối. Năm 1922, Lewis Krudso một nhà khoa học người Mĩ lại thành công
trong việc gieo hạt ở môi trường thạch và ông nhận thấy rằng sự nảy mầm của
hạt còn phụ thuộc vào thời gian thu hái quả (Ajchara - Boonrote, 1987) [25].
Về biện pháp kỹ thuật bón phân cho lan thì theo công thức của Le
Comfle (1981) để kích thích cây ra rễ dùng phân có hàm lượng lân cao
(10:10:20). Khi cây ra hoa dùng loại phân có hàm lượng các chất là (6:30:30)
để hoa mập và tươi hơn (Trần Văn Bảo, 2001) [1].
17
Theo Le Coufle (1981) cho rằng: nước mưa, nước suối, nước giếng rất
tốt cho sự phát triển của lan rừng và độ pH thích hợp từ 5 - 6. Tuy nhiên cũng
có sự thay đổi tuỳ từng giống, với lan Hồ Điệp pH = 5,2; lan Hài pH = 6,5 -
7,0 (Nguyễn Công Nghiệp, 2005) [17].
1.6.2. Ở Việt Nam
1.6.2.1. Tình hình nghiên cứu và sản xuất hoa lan ở Việt Nam
Ở Việt Nam dấu vết những nghiên cứu về lan ở buổi đầu không rõ rệt.
Chỉ
sau khi người Pháp đến Việt Nam thì mới có những công trình nghiên
cứu
được công bố đáng kể là Gagnepain và Ginillaumin mô tả 70 chi gồm 101
loài cho cả 3 nước đông Dương trong bộ “Thực vật đông Dương Chí”. Ở nước
ta đã biết được 897 loài thuộc 152 chi của họ hoa lan (Nguyễn Thiện Tịch,
Đoàn Thị Hoa, Trần Sỹ Dũng, Huỳnh Thị Ngọc Nhân, 1987)
[22]. Nguồn gen
hoa phong lan của Việt Nam rất phong phú trong đó lan
Hoàng Thảo chiếm
khoảng 30 - 40% trong tổng số các loài lan của Việt Nam (Võ Văn Chi, Lê Khả
Kế, 1969) [3].
Như vậy, họ phong lan đã trở thành đối tượng cực kỳ phong phú và đặc sắc
của hệ thực vật Việt Nam, nó chẳng những là một trong những họ thực vật lớn
nhất mà còn đóng góp nhiều về mặt giá trị sử dụng cho nền kinh tế nước nhà

được các đặc điểm hình thái và động thái ra hoa của 31 loài lan Hồ Điệp
thuộc chi Phalaenopsis ở Việt Nam và các loài nhập nội làm cơ sở cho việc
phân loại những loài này.
Khi nghiên cứu thu thập, đánh giá và tuyển chọn một số loài Phong lan
Hoàng Thảo (Dendrobium) nhập nội tại miền Bắc Việt Nam, Phạm Thị Liên
và cộng sự (2009) [15] đã thu thập được 6 loài lan Hoàng Thảo, trong đó có 3
loài có nguồn gốc tại Băng Cốc - Thái Lan, 2 loài tại Chiềng Mai và 1 loài tại
Chiềng Rai. Các loài đều có năng suất cao, hoa đẹp, hiện nay thị trường trong
và ngoài nước rất ưa chuộng.
19
Phương pháp mô tả đặc điểm hình thái và đánh giá đa hình di truyền ở
mức độ ADN có thể bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau để công việc phân loại dưới
loài trở nên chính xác hơn, phục vụ cho công tác bảo tồn, khai thác và sử
dụng một cách có hiệu quả các nguồn gen Lan Hài bản địa của Việt Nam.
Theo Dương Hoa Xô (Hoa lan Việt Nam, 2006) [37], Trung tâm Công
nghệ Sinh học TP. HCM đã thực hiện dự án “Sưu tập, nhập nội, khảo nghiệm
và nhân giống các loài hoa lan”, từ năm 2005, đến nay đã sưu tập được hơn
285 loài hoa lan thuộc 12 nhóm loài khác nhau (Mokara, Dendrobium,
Phalaenopsis, Oncidium …), để phục vụ cho công tác bảo quản nguồn gen và
lai tạo giống. Trong đó, đặc biệt có hơn 80 loài lan rừng quý hiếm, có thể
phục vụ công tác lai tạo giống lan sau này. Bên cạnh đó, trung tâm đã tiến
hành nhập nội 14 loài lan Mokara, 13 loài Dendrobium, 5 loài Catlleya để
khảo nghiệm và nhân nhanh giống phục vụ sản xuất.
1.6.2.3. Kết quả nghiên cứu nhân giống, chăm sóc, điều khiển sinh trưởng
Các nghiên cứu về nhân giống hoa lan đã được thực hiện ở nhiều cơ
quan khoa học và đã đạt được những thành công nhất định.
Phạm Thị Kim Hạnh và cộng sự (2008) [7] đã nghiên cứu nhân nhanh
in vitro loài lan Tai Trâu (Rhynchostylis gigantean) trong bioreactor và cho
kết quả về tỉ lệ nảy mầm cũng như tốc độ sinh trưởng của cây con invitro tốt
hơn so với môi trường đặc. Môi trường nuôi cấy là WV bổ sung vitamin, axit

phong lan Đuôi Chồn (Rhynchotylis retunsa [L] Blume) bằng phương pháp
nuôi cấy mô tế bào. Các tác giả đã nghiên cứu môi trường gieo hạt và nhân
chồi cho kết quả: bổ sung BAP 0,3 mg/lít và kinetin 0,1 mg/lít cho tỷ lệ hạt
nảy mầm cao nhất đạt 86,67%, bổ sung phối hợp kinetin và BAP cho hiệu quả
cao nhất ở nồng độ 0,5 mg kinetin/lít + 0,3 mg BAP/lít hệ số nhân chồi đạt 5 -
6 cụm chồi và 5,7 chồi/cụm.
1.7. Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.7.1. Điều kiện tự nhiên
1.7.1.1. Ranh giới, hành chính
Vùng núi Hoàng Liên Sơn, huyện Sa Pa có ranh giới hành chính thuộc
Vườn Quốc Gia Hoàng Liên Sơn thành lập ngày 12 tháng 7 năm 2002 theo
Quyết định số 90/2002/ QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Vùng núi Hoàng Liên Sơn, huyện Sa Pa nằm trong khu vực Tây Bắc
Việt Nam, có vị trí địa lý từ 22
o
09' - 23
o
30' độ vĩ Bắc và 103
o
00- 103
o
59' độ
kinh Đông. Về địa giới hành chính nó nằm trên địa bàn 6 xã: San Sả Hồ, Lao
21
Chải, Tả Van, Bản Hồ, Mường Khoa và Thân Thuộc thuộc huyện Sa Pa của tỉnh
Lào Cai và huyện Than Uyên của tỉnh Lai Châu, có ranh giới tiếp giáp với:
- Phía Đông Giáp Xã Thanh Kim, Nậm sài, Nậm Cang, Huyện Sa Pa và
xã Tả Phời, Thành Phố Lào Cai tỉnh Lào Cai.
- Phía Tây giáp xã Bản Bo, Bình Lư, Hồ Thầu huyện Tam Đường tỉnh
Lai Châu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status