Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật cải tạo rừng luồng (dendrocalamus barbatus hsueh et d z li) thoái hóa tại huyện đoan hùng, tỉnh phú thọ - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN VIỄN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CẢI TẠO RỪNG
LUỒNG (Dendrocalamus barbatus Hsueh et D. Z. Li) THOÁI HÓA
TẠI HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội - 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN VIỄN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CẢI TẠO RỪNG
LUỒNG (Dendrocalamus barbatus Hsueh et D. Z. Li) THOÁI HÓA
TẠI HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Kỹ thuật Lâm sinh
Mã số: 60.62.60

Quang, Yên Bái, Quảng Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Quảng Trị và Đông
Nam Bộ.... và là một loài cây thế mạnh trong việc trồng rừng của khu vư ̣c,
góp phần nâng cao độ che phủ, cải thiện môi trường và tăng thu nhâ ̣p cho
người dân trong vùng.
Luồng thuộc họ Hoà thảo (Poaceae) có hệ rễ chùm ăn nông giống các
loài lúa, ngô. Là cây ưa sáng sinh trưởng nhanh, ưa ẩm. Đồng thời Luồng có
thời gian kinh doanh dài, nhu cầu cây Luồng phục vụ chế biến, xuất khẩu
ngày càng lớn. Tuy nhiên,các biện pháp kỹ thuật thâm canh chăm sóc, kỹ
thuật và cường độ khai thác chưa thực sự chú ý quan tâm nên rừng Luồng 10
đến 15 năm thường năng suất rừng sẽ bị giảm mạnh, cây nhỏ, hiệu quả kinh tế


2

thấp. Nhiều diện tích rừng Luồng ở Đoan Hùng hiện nay đã và đang bị thoái
hóa ở các mức đô ̣ khác nhau chiếm tới 70% diện tích Luồng hiện có, năng suất
và chất lượng rừng Luồng suy giảm nghiêm tro ̣ng. Theo thống kê của hạt
kiểm lâm huyện Đoan Hùng hàng năm diện tích rừng Luồng tăng không đáng
kể trong khi đó chất lượng rừng Luồng đã giảm đi rõ rệt, nhiều nơi rừng chỉ
còn 1 - 2 thế hệ, bình quân chỉ có 3 - 4 cây/bụi, mật độ chỉ còn 80 - 150 bụi/ha.
Hơn nữa, rừng Luồng thuần loài còn phải đối mặt với các loài bệnh như chổi
xuể, sọc tím và dịch châu chấu ăn lá, sâu vòi voi hại măng. Do đó, rất nhiều
diện tích rừng trồng Luồng ở khu vực đã bị thoái hóa, không đạt được hiệu
quả mong muốn, sản lượng măng và chấ t lươ ̣ng thân Luồng thấp.
Trước thực tế trên, thách thức rất lớn đặt ra hiện nay là làm thế nào để
tạo ra các khu rừng trồng có năng suất, hiệu quả, ổn định và bền vững từ các
khu rừng Luồng thoái hóa, kém hiệu quả. Vì vậy, việc triển khai đề tài
“Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật cải tạo rừng Luồng (Dendrocalamus
barbatus Hsueh et D. Z. Li) thoái hóa tại huyê ̣n Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ”
là cần thiết nhằm xác định được một số biện pháp kỹ thuật cải tạo rừng

Theo Trần Đình Lý (1995) [20], phục hồi rừng là một quá trình sinh địa
phức tạp gồm nhiều thời gian và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm thực vật


4

cây gỗ (hoặc tre nứa) bắt đầu khép tán. Nói một cách khác, phục hồi rừng là
quá trình tái tạo lại một hệ sinh thái, một quần xã sinh vật mà trong đó cây gỗ
là yếu tố cấu thành chủ yếu, nó chi phối các quá trình biến đổi tiếp theo.
Phu ̣c hồ i (Rehabilitation) là tái lâ ̣p la ̣i năng suấ t và mô ̣t số loài đô ̣ng vâ ̣t,
thực vâ ̣t nhưng không nhấ t thiế t là tất cả các loài mà trước kia từng có mă ̣t ta ̣i
nơi đó. Vì những lý do kinh tế và sinh thái rừng mới có thể bao gồ m cả những
loài mà trước đây không có mă ̣t ở vùng đó. Chức năng bảo vê ̣ và nhiề u vai trò
sinh thái khác của rừng nguyên thủy có thể đươ ̣c tái lập. (Nguyễn Văn Sản và
Don Gilmour, 1999) [25].
Phu ̣c hồ i rừng là thực hiê ̣n các hoa ̣t đô ̣ng hướng tới tái sinh tự nhiên
hoặc tái sinh nhân ta ̣o trên các diện tích trảng cỏ, đấ t hoang hóa, trảng cây bu ̣i
hoă ̣c các vùng đất thoái hóa nhằ m làm tăng năng suấ t của rừng, tăng khả năng
sinh tồ n và các lơ ̣i ích dịch vu ̣ môi trường. (Wil de Jong, Do Dinh Sam, Trieu
Van Hung, 2006) [46].
Phục hồi rừng là gạch nối giữa cải tạo và khôi phục, đây cũng là một
lĩnh vực được nhiều nhà khoa học và các tổ chức lâm nghiệp quan tâm. Quan
điểm hiện nay về phục hồi rừng có thể chia thành 3 nhóm (dẫn theo Vũ Tiến
Hinh, 2003) [11] như sau:
Một là, quá trình phục hồi rừng là đưa rừng đến trạng thái hoàn chỉnh,
tiếp cận trạng thái trước khi bị tác động. Cairns (1995), Jordan (1995) và
Egan (1996) là những điển hình của quan điểm này.
Hai là, nhấn mạnh hệ sinh thái rừng phải được phục hồi tới mức độ bền
vững nào đó bằng con đường tự nhiên hoặc nhân tạo mà không nhất thiết
giống như hệ sinh thái ban đầu. Đây cũng là quan điểm nhận được nhiều sự

1.2.1. Một số nghiên cứu về cây Luồng và dinh dưỡng đất dưới rừng Tre, Luồng
Loài cây Luồng chủ yếu được nhân giống bằng phương pháp sinh
dưỡng, có thể theo hai con đường là nuôi cấy mô (Verma and Arya, 1998)
[44] và nhân giống sinh dưỡng (Bernard Kingomo, 2007) [39]. Cả hai phương


6

pháp này khi tiến hành đều mang lại thành công lớn. Tại Kenya đã thành công
nhân giống các loài Yushania alpina và Oxytenanthera abyssinica bằng
phương pháp nuôi cấy mô (Bernard Kingomo, 2007) [39]. Bên cạnh đó, ở một
số nơi người ta còn tiến hành nhân giống từ hạt cho một số loài như:
Dendrocalamus brandisii (Munro) Kurz (Thái Lan, Ấn Độ), Dendrocalamus
membranaceus Munro (Thái Lan), Dendrocalamus strictus (Roxb.) Nees
(Thái Lan, Ấn Độ) ... và Dendrocalamus latiflorus Munro (Dai Qihui, 1998)
[40], (Bernard Kingomo, 2007) [39].
Năm 1998, Dai Qihui đã tiến hành nghiên cứu đối với trồng Tre, Luồng
lấy măng và cho rằng kích thước măng thu hoạch có thể cao 1,3 - 1,5 m khi
thu hoạch để chế biến măng khô lên men. Để chế biến các sản phẩm khác thì
thu hoạch măng non có chiều cao 30 cm [40].
Đồng thời Dai Qihui cũng nghiên cứu đối với trồng Tre, Luồng lấy thân
Măng mọc đầu và giữa mùa chiếm trên 85 % tổng số măng của mùa. Nên giữ
lại măng này cho thành cây vì trong thời gian này măng thường khoẻ. Nên thu
hoạch tất cả măng mọc cuối mùa [40].
Năm 1995, Shanmughavel and Francis đã nghiên cứu về chu trình dinh
dưỡng trong rừng Bambusa bambos (L.) Voss. Lượng dinh dưỡng trong cây
đứng gia tăng theo tuổi của cây, vì vậy lượng dinh dưỡng trả lại cho đất
không đủ so với lượng dinh dưỡng mà cây lấy đi. Việc bổ sung phân bón cho
rừng là cần thiết nhằm tránh việc đất bị thoái hóa, đặc biệt khi khai thác Tre,
Luồng ở cường độ cao sẽ thì lượng dinh dưỡng hoàn trả cho đất càng bị giảm

1.2.2. Một số nghiên cứu về trồng cải tạo rừng bằng cây bản địa
Các công trình nghiên cứu thí nghiệm trồng cây dưới tán, trồng theo rạch
trên thế giới ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là ở vùng Đông Nam Á hầu hết dựa vào
năng lực tái sinh tự nhiên để tạo nên những quần thể rừng hỗn loài nhiều tầng.
Tại Indonesia Trạm nghiên cứu Wanariset ở tỉnh Kalimantan với sự trợ
giúp (về khoa học kỹ thuật và tài chính) của chính phủ Vương quốc Hà Lan đã
nghiên cứu đầy đủ và đồng bộ việc gây trồng các loài cây họ Dầu


8

(Dipterocarpaceae). Các nghiên cứu về giống bao gồm tuyển chọn cây mẹ siêu
việt (Supermother). Đầu tiên người ta dựa vào kích thước hình dạng sinh lực
chọn cây mẹ làm giống trong rừng tự nhiên. Tiếp theo chặt bỏ các cây cùng
loài ở xung quanh để cây mẹ được tuyển chọn không thể thụ phấn từ những cây
mẹ khác và phát quang xung quanh gốc tạo điều kiện thuận lợi cho việc gieo
giống. Sau đó thu thập cây tái sinh tự nhiên về trồng xây dựng vườn vật liệu
giống vì chu kỳ sai quả của các loài họ dầu dài (thường từ 3 - 14 năm) nên việc
sản xuất cây giống theo phương pháp giâm hom (Cutting) được áp dụng rộng
rãi. Sau khi đã xác định được các dòng ưu thế của các loài. Người ta đã đem
trồng làm giàu rừng thứ sinh nghèo và trồng trên đất thoái hoá đã được cải tạo
bằng loài cây Keo trắng. Cây trồng trên hai loại lập địa trên đều sinh trưởng tốt.
Sau 10 năm chưa thấy sự khác biệt giữa hai phương thức gây trồng. Qua kết
quả trên đã rút ra kết luận việc sử dụng các cây lá rộng bản địa cây họ Dầu để
làm giàu rừng, trồng rừng hoàn toàn có thể thực hiện được [23].
Ở Philipinnes trong Dự án Akecop đã sử dụng cây Dái ngựa trồng dưới
tán rừng Dừa (Coconut) già cỗi (trên 50 tuổi) thu được kết quả rất khả quan.
Người ta còn trồng hồ tiêu dưới tán rừng Dừa kết hợp với việc chăn nuôi gà thu
được hiệu quả kinh tế cao. Các mô hình nông - lâm kết hợp như trồng cây rừng
xen với cây Dứa, cây Ngô, lúa cạn đến khi cây nông nghiệp năng suất giảm thì

Luồng có tâm phân bố chính là ven sông Mã và chủ yếu ở tỉnh Thanh
Hóa, Hòa Bình. Hiện nay, Luồng đã được trồng ở nhiều nơi như Phú Thọ, Yên
Bái, Đồng Nai, Lâm Đồng... Trong quá trình di thực, nhiều diện tích Luồng
chưa đem lại hiệu quả do nguyên nhân: chọn sai lập địa, áp dụng biện pháp kỹ
thuật không phù hợp...
 Một số nghiên cứu trồng hỗn giao Luồng với các loài cây khác
Theo Nguyễn Ngọc Bình (1963) [1] việc trồng xen canh giữa Luồng và
cây nông nghiệp như Lúa, Ngô, Khoai, Sắn,… trong giai đoạn đầu vừa mang


10

lại hiệu quả kinh tế cho người dân vừa kết hợp được việc chăm sóc và bảo vệ
rừng Luồng hiệu quả, ngoài ra các sản phẩm phụ sau thu hoạch cây nông
nghiệp sẽ trở thành nguồn phân bón cho rừng Luồng.
Theo Lê Quang Liên và cộng tác viên (1990) [17] việc trồng Luồng hỗn
giao với các loài cây bản địa làm tăng tính bễn vững của rừng, cho năng suất
ổn định và hạn chế được sự giảm sút độ phì của đất. Kết quả nghiên cứu cho
thấy, cây Luồng trồng hỗn giao với các loài cây lá rộng (Sồi phảng, Keo tai
tượng, Lim xẹt, Lim xanh) trên đất trống vùng đồi Phú Thọ có sinh trưởng về
đường kính, chiều cao và phẩm chất đều cao hơn so với trồng thuần loài.
Nghiên cứu của Nguyễn Trường Thành (2002) về trồng rừng hỗn giao
giữa Luồng và cây lá rộng cũng khẳng định đất dưới tán rừng hỗn giao có
hàm lượng chất hữu cơ, N tổng số, P2O5 và K2O cao hơn hẳn so với đất dưới
tán rừng Luồng thuần loài [27].
Theo Đặng Thịnh Triều (2011) thì trồng Luồng hỗn giao với Muồng
đen và Lát hoa tại huyện Lang Chánh, Thanh Hóa cho thấy mô hình trồng hỗn
giao Luồng và Muồng đen đem lại hiệu quả cao hơn so với các mô hình khác
về sản lượng, chất lượng và phòng hộ [34].
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhung (2004) [23] tại Cầu Hai,

0,31% xuống 0,22%). Rừng trồng hỗn loài giữa Luồng và các loài cây gỗ họ
đậu như Lim xanh, Lim xẹt (Luồng trồng mật độ 200 bụi/ha) có tác dụng làm
giảm mức độ thoái hóa của đất sau 5 năm trồng rừng khá rõ rệt (năm đầu:
hàm lượng chất hữu cơ là 5,78%, hàm lượng Nitơ là 0,31% và sau 5 năm hàm
lượng mùn là 5,24%, hàm lượng Nitơ là 0,29%).
Hoàng Văn Thắng (2008) [29] nghiên cứu về tính chất đất dưới tán
rừng Luồng thuần loài và hỗn giao ở Ngọc Lặc – Thanh Hóa và Cao Phong –
Hòa Bình cho thấy độ pH của rừng trồng Luồng thuần loài ở Ngọc Lặc và
Cao Phong đều thấp hơn ở rừng hỗn giao với cây bản địa. Các tính chất khác


12

về hàm lượng chất hữu cơ, N tổng số, P2O5 và K2O có sự khác nhau giữa các
đối tượng rừng trồng nhưng chưa thể hiện rõ quy luật.
 Phân cấp mức độ thoái hóa rừng Luồng
Phân cấp mức độ thoái hóa rừng Luồng ở Việt Nam hiện mới chỉ có
Đặng Thịnh Triều (năm 2011) [35] đã nghiên cứu tại Thanh Hóa, tác giả xác
định được nguyên nhân gây thoái hóa và đặc điểm của rừng Luồng thoái hóa,
từ đó đề xuất dược tiêu chí và xây dựng bảng phân loại thoái hóa rừng Luồng
bằng cách cho điểm các tiêu chí tương ứng.
Các nghiên cứu về phục tráng rừng Luồng
Nghiên cứu về phục tráng rừng luồng thoái hóa đã được một số tác giả
đề cập đến trong thời gian qua:
Đặng Thịnh Triều (2011) [35] nghiên cứu giải pháp chống thoái hóa,
phục hồi và phát triển bền vững rừng Luồng tại Thanh Hóa đã kết luận, rừng
Luồng cũ phá đi để trồng lại rừng Luồng mới thì tỷ lệ sống rất thấp (
Trần Nguyên Giảng và Nguyễn Đình Hưởng (1972 - 1977) đã tiến hành
nghiên cứu kỹ thuật tái sinh rừng nghèo kiệt bằng cây Xoan đào và cây Kháo
vàng. Kết quả nghiên cứu thí nghiệm cho thấy Xoan đào thích hợp với độ tàn
che 0,5 - 0,6 hơn độ che 0,3 – 0,4. Đến tuổi 5 cây đòi hỏi độ chiếu sáng cao
hơn, nhất thiết phải hạ độ tàn che xuống dưới 0,3. Đến tuổi 7 cây Xoan đào
trồng đạt kích thước Hvn : 9 – 10 m, D1.3 : 9 – 10 cm. Có thể kết luận Xoan
đào là loài cây bản địa sinh trưởng khá nhanh [8].
Trần Nguyên Giảng (1990) trồng rừng hỗn loài trên đất trống trọc bằng
cách tạo một lớp che phủ bằng cây Keo lá chàm và Keo tai tượng với cùng
mật độ 3300 cây/ha. Sau khi trồng Keo 2 năm bắt đầu đưa cây lá rộng bản địa


14

vào trồng. Ông sử dụng 10 loài cây chia làm 2 nhóm sinh thái. nhóm cây chịu
bóng lúc nhỏ gồm : Lim xanh, Re hương, Giổi xanh, Kim giao, Gội trắng.
Các loài ưa sáng gồm: Lát hoa, Trám trắng, Nhội, Sấu.
Để nuôi dưỡng cây trồng tác giả sử dụng phương pháp tỉa thưa định kỳ.
Sau 4 năm nghiên cứu thí nghiệm đã đưa ra kết luận : Đối với cây che phủ
ban đầu thì Keo lá chàm thích hợp hơn. Việc tỉa thưa định kỳ cây che phủ
thích hợp với các loài chịu bóng mọc chậm nhưng lại cản trở sinh trưởng của
các loài cây ưa sáng [8].
Tại Cầu Hai khi thực hiện dự án “Xây dựng sinh thái vùng đồi phía nam
huyện Đoan Hùng”, Nguyễn Trường Thành và các cộng sự đã sử dụng một số
loài cây bản địa như : Lim xanh, Sồi phảng… Trồng rừng hỗn giao với cây
Luồng. Hai năm đầu do rừng Luồng chưa khép tán, các loài cây trồng hỗn
giao sinh trưởng bình thường thậm chí là tốt. Từ năm thứ 3, khi rừng Luồng
khép tán thì các cây gỗ sinh trưởng chậm dần. Năm 1999, Trung tâm xây
dựng mô hình rừng hỗn giao cây Luồng Thanh hoá với cây Keo tai tượng.
Đến nay đã khai thác Keo tai tượng và rừng Luồng vẫn sinh trưởng phát triển

vào vấn đề kỹ thuật xây dựng và kinh doanh rừng Luồng như: chọn tạo giống,
kỹ thuật trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại, khai thác, chế biến… Một
số ít công trình đã đề cập đến các biện pháp kỹ thuật phục tráng rừng, nhưng
những nghiên cứu này được thực hiện chủ yếu tại Thanh Hóa.
Các công trình nghiên cứu về phương thức trồng đã khẳng định, việc
trồng Luồng hỗn giao với các loài cây nông nghiệp, cây bản địa, cây lá
rộng,… đã đem lại hiệu quả về mặt kinh tế và môi trường cao hơn so với
trồng rừng Luồng thuần loài.
Các công trình nghiên cứu về đất cũng khẳng định, đất dưới tán rừng
Luồng thoái hóa bị suy giảm độ phì và tính chất đất nghiêm trọng. Các tác giả
cũng bước đầu nhận định, việc khắc phục có thể được tiến hành nếu như có sự
góp mặt của các loài cây bản địa, cây lá rộng.


16

Các nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào các vấn đề chính như: tạo
giống, gây trồng, chăm sóc, phục tráng mà chưa có công trình nghiên cứu nào
thực hiện theo hướng cải tạo rừng Luồng thoái hóa thành rừng cây bản địa lá
rộng và rừng cây lá rộng mọc nhanh. Để góp phần xây dựng cơ sở lý luận,
thực tiễn khoa học cho việc phát triển sản xuất lâm nghiệp trên nền là đối
tượng rừng Luồng thoái hóa hoặc áp dụng mở rộng cho trường hợp thay đổi
mục đích kinh doanh, đa dạng hóa sản phẩm cây trồng,... thì việc nghiên cứu
biện pháp kỹ thuật cải tạo rừng Luồng thoái hóa thành rừng cây bản địa lá
rộng và rừng mọc nhanh là thực sự cần thiết.


17

Chương 2

Về nội dung
- Đề tài chỉ nghiên cứu đánh giá sinh trưởng của các loài cây bản địa và cây
mọc nhanh đã được trồng dưới tán hoặc trên đất rừng Luồng thoái hóa đã chặt
trắng. Từ đó, đề xuất ra một số giải pháp kỹ thuật cải tạo rừng Luồng thoái hóa.
Về địa điểm
- Đề tài thực hiện tại các xã Vân Đồn, Tiêu Sơn, Chân Mô ̣ng của huyê ̣n
Đoan Hùng tỉnh Phú Tho ̣
2.3. Nội dung nghiên cứu
2.3.1. Điều tra và đánh giá thực trạng của rừng Luồng thoái hóa tại huyê ̣n
Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ
2.3.1.1. Điều tra và đánh giá thực trạng rừng Luồng thoái hóa.
2.3.1.2. Điều tra đánh giá khả năng tái sinh các loài cây bản địa dưới tán
rừng Luồng thoái hóa
2.3.2. Đánh giá sinh trưởng và phát triển các loài cây trong các mô hình thí
nghiệm
2.3.2.1. Đánh giá sinh trưởng và phát triển của các loài cây bản địa trong các
mô hình thí nghiệm các độ tàn che khác nhau (0,00; 0,25; 0,50)
- Tỷ lệ sống.
- Sinh trưởng về Do, Hvn.
- Chất lượng cây trồng theo 3 cấp: Tốt, Trung bình, Xấu.
2.3.2.2. Đánh giá sinh trưởng và phát triển của các loài cây bản địa trong các
mô hình thí nghiệm bón phân NPK(5:10:3) (không bón; 100g; 200g, 300g)
- Tỷ lệ sống.
- Sinh trưởng về Do, Hvn.
- Chất lượng cây trồng theo 3 cấp: Tốt, Trung bình, Xấu.
2.3.2.3. Đánh giá sinh trưởng và phát triển của một số loài cây mọc nhanh
cải tạo rừng Luồng


19


Đề xuấ t kỹ thuâ ̣t cải ta ̣o rừng Luồ ng

Hình 2.1. Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài


20

2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu
2.4.2.1. Phương pháp kế thừa
- Luận văn kế thừa các mô hình đã được xây dựng năm 2007 của đề tài
“Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật cải tạo rừng Luồng (Dendrocalamus
membranaceus Munro) thoái hóa thành rừng cây bản địa lá rộng và rừng
cây lá rộng mọc nhanh”.
- Kế thừa tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại khu vực
nghiên cứu.
- Bản đồ thiết kế trồng rừng tại khu vực nghiên cứu.
- Kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng Luồng, cây bản địa lá rộng và cây
mọc nhanh (Keo tai tượng và Bạch đàn U6)
2.4.2.2. Phương pháp điều tra rừng trồng:
- Sử dụng phương pháp PRA, RRA: phỏng vấn các cán bộ quản lý, cán
bộ kỹ thuật và người dân về đối tượng nghiên cứu, kỹ thuật đã áp dụng, ....
- Phương pháp thực địa
Để đảm bảo độ tin cậy của kết quả nghiên cứu, sử dụng phương pháp
chọn mẫu điển hình.
+ Đối với rừng Luồng tiến hành thiết lập các OTC với diện tích 1000m2
(25 m x 40 m)
+ Đối với rừng cây bản địa được trồng dưới tán Luồng thoái hóa với
các công thức thí nghiệm sau: theo độ tàn che: chia làm 3 cấp: 0,0; 0,25; 0,5;
bón phân: NPK (5:10:3), không bón, 100g, 200g, 300g.

- Điều tra cây tái sinh tự nhiên dưới tán rừng Luồng
Trong mỗi OTC lập 5 ô dạng bản với diện tích mỗi ô là 25 m2 (5m x 5m).
Các ô dạng bản được bố trí ở 4 góc và 1 ô ở giữa OTC. Trong ODB xác định
tên loài, sinh trưởng, nguồn gốc và phẩm chất các cây theo 3 cấp A, B, C.
+ Cấp A (cây tốt): là cây thân thẳng, không cong queo, sinh trưởng tốt,
tán lá màu xanh đậm, có triển vọng sinh trưởng trong các năm sau.


22

+ Cấp B (cây trung bình): thân thẳng hoặc hơi cong nhưng vẫn cho sản
phẩm có giá trị, không sâu bệnh, tán lá xanh và xanh vừa, sum xuê kém loại A.
+ Cấp C (cây xấu): cây cong queo, sâu bệnh, tán lá thưa, lệch, không
cân đối, sinh trưởng kém.
Kết quả được ghi vào mẫu biểu (phụ biểu 2.4)
- Điều tra cây bản địa
+ Điều tra tỷ lệ sống bằng phương pháp đếm số cây sống trong OTC.
+ Điều tra các chỉ tiêu sinh trưởng:
Đo đường kính gốc Do bằng thước kẹp palme với độ chính xác đến mm
theo 2 chiều Đông – Tây, Nam – Bắc sau đó lấy giá trị trung bình.
Đo chiều cao vút ngọn Hvn bàng sào có khắc vạch đến cm.
Đo đường kính tán bằng thước sào theo 2 chiều Đông – Tây, Nam –
Bắc sau đó lấy giá trị trung bình
+ Điều tra chất lượng cây
Điều tra theo phương pháp mục trắc và đánh giá theo 3 mức:
Cây tốt (T): là những cây sinh trưởng mạnh, thân thẳng, tán cây cân đối
tròn đều và không bị sâu bệnh
Cây xấu (X): là những cây cong queo, sâu bệnh, nhiều u bướu, tán lệch
Cây trung bình (TB): là những cây trung gian giữa cây tốt và cây xấu.
Kết quả điều tra được ghi vào mẫu biểu (phụ biểu 2.5)

(2.4)

Trong đó:
S: Sai tiêu chuẩn
X: Trị số trung bình mẫu
- Tỷ lệ cây tốt, xấu, trung bình (X%):
X% =

x 100

(2.5)

Trong đó :
n là số cây tốt, xấu, trung bình
N là tổng số cây quan sát
- Sử dụng các phương pháp thống kê để xác định ảnh hưởng của các
nhân tố thí nghiệm đến sinh trưởng của cây bản địa trồng dưới tán.
Việc phân tích phương sai 1 nhân tố được thực hiện bằng phần mềm
thống kê SPSS 15.0 với các nhân tố cụ thể như sau:
Nhân tố A là các công thức thí nghiệm (độ tàn che, bón phân...).
Sử dụng tiêu chuẩn Bonferroni và tiêu chuẩn Duncan để so sánh cặp đôi
các công thức trong trường hợp các phương sai là bằng nhau trong tổng thể.
Sử dụng tiêu chuẩn Dunnett’ T3 để so sánh cặp đôi giữa các công thức
trong trường hợp các phương sai không bằng nhau trong tổng thể.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status