Nghiên cứu một số cơ sở khoa học cho việc thâm canh rừng Luồng Dendrocalamuss barbatus Hsueh et D.Z.Li tại Thanh Hóa - Pdf 26


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP BÙI THỊ HUYỀN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CƠ SỞ KHOA HỌC CHO VIỆC THÂM CANH
RỪNG LUỒNG Dendrocalamus barbatus Hsueh et D.Z.Li
TẠI THANH HÓA

LUẬN ÁN TIẾN SỸ LÂM NGHIỆP
LUẬN ÁN TIẾN SỸ LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. PHẠM VĂN ĐIỂN
Hà Nội, 2015 i
LỜI CẢM ƠN

Luận án này được hoàn thành tại Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam,
theo Chương trình đào tạo nghiên cứu sinh khóa 19, năm 2009 -2014.
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận án, tác giả đã nhận được sự
quan tâm, giúp đỡ tận tình của Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa Lâm học,
Phòng Đào tạo Sau đại học, Bộ môn Lâm sinh và các phòng, ban chức năng của
Trường Đại học Lâm nghiệp; Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa Nông lâm ngư
nghiệp - Trường Đại học Hồng Đức. Đồng thời tác giả cũng nhận được sự giúp đỡ
tận tình của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa, Chi cục Kiểm lâm
Thanh Hóa, Chi cục Lâm nghiệp Thanh Hóa, Chính quyền và nhân dân các xã, thị
trấn trên địa bàn huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã cung cấp những thông tin cần
thiết, tạo điều kiện thuận lợi để tác giả triển khai thu thập số liệu ngoài hiện trường.

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu và từ viết tắt vi
Danh các mục bảng vii
Danh các mục hình viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1. Đặc điểm của cây Luồng 5
1.2. Những nghiên cứu ở ngoài nước 6
1.2.1. Về thâm canh rừng 6
1.2.2. Về thâm canh tre trúc 9
1.2.3. Về chi Luồng (Dendrocalamus) 11
1.3. Những nghiên cứu ở trong nước 17
1.3.1. Về thâm canh rừng 17
1.3.2. Về thâm canh rừng tre trúc 21
1.3.3. Thâm canh rừng Luồng 26
1.4. Thảo luận 37
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1. Nội dung nghiên cứu 40
2.1.1. Đánh giá hiện trạng phát triển rừng Luồng ở huyện Quan Hóa 40
2.1.2. Nghiên cứu cơ sở khoa học chọn điều kiện lập địa trồng Luồng 40
2.1.3. Nghiên cứu bổ sung cơ sở khoa học chọn giống và nhân giống Luồng 40
2.1.4. Cơ sở khoa học cho một số kỹ thuật tác động vào rừng Luồng 40
iv

2.1.5. Đề xuất một số kỹ thuật trong thâm canh rừng Luồng 40

4.3.1. Chọn lọc cây Luồng tốt để làm giống 91
4.3.2. Lựa chọn khóm Luồng tốt làm giống 93
4.3.3. Nghiên cứu bổ sung cơ sở khoa học cho nhân giống Luồng 96
4.4. Nghiên cứu cơ sở khoa học cho một số biện pháp kỹ thuật tác động vào
rừng Luồng 100
4.4.1. Cơ sở xác định biện pháp kỹ thuật tác động sinh măng 100
4.4.2. Đặc điểm sinh trưởng của măng Luồng 103
4.4.3. Mô hình rừng Luồng mong muốn 106
4.5. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong thâm canh rừng Luồng. 117
4.5.1. Về điều kiện lập địa trồng Luồng 117
4.5.2. Chọn cây lấy giống và sử dụng chất kích thích ra rễ nhân giống Luồng
bằng hom 118
4.5.3. Kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng rừng Luồng trên 5 năm 119
KẾT LUẬN , TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 120
1. Kết luận 120
2. Tồn tại 122
3. Khuyến nghị 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

vi

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu Viết đầy đủ
C Khóm
CT Công thức
CTTN Công thức thí nghiệm
D
1,3m
, DBH Đường kính ở vị trí 1,3m (cm)

DANH CÁC MỤC BẢNG
STT

Tên bảng Trang

1.1
Cách hiểu về mô hình cấu trúc rừng mong muốn theo mục đích
kinh doanh rừng
20
2.1 Phân bố ô tiêu chuẩn theo 9 xã của huyện Quan Hóa 43
2.2 Các công thức thí nghiệm nhân giống Luồng 47
4.1
Diện tích, phân bố và độ che phủ của rừng Luồng tại huyện
Quan Hóa
62
4.2 Mật độ của rừng Luồng ở Quan Hóa 64
4.3 Một số đại lượng sinh trưởng và trữ lượng của rừng Luồng 65
4.4 Hiện trạng tuổi cây trong rừng Luồng tại Quan Hóa 67
4.5 Chất lượng rừng Luồng theo tiêu chuẩn thương phẩm 69
4.6 Chất lượng thương phẩm của cây Luồng theo tuổi 70
4.7 Các biện pháp kỹ thuật trồng Luồng đã áp dụng ở Quan Hóa 72
4.8 Một số nhân tố khí hậu khu vực nghiên cứu trong 3 năm 2010 - 2012 81
4.9 Đặc điểm địa hình rừng Luồng Quan Hóa 82
4.10 Đặc điểm đất trồng rừng Luồng ở Quan Hóa 83
4.11
Tiêu chuẩn phân chia điều kiện lập địa theo mức độ thích hợp
cho rừng Luồng
89
4.12 Xác định mức độ thích hợp cho các lô rừng Luồng 90
4.13 Sinh trưởng rừng Luồng trên các dạng lập địa 91


4.4 Biểu đồ tán xạ các nhân tố cấu trúc và sinh trưởng của rừng Luồng 85
4.5
Biểu đồ tán xạ phản ánh mối liên hệ của DBH, H với các nhân
tố địa hình và thổ nhưỡng
87
4.6 Khóm Luồng tốt ở Huyện Quan Hóa 95
4.7 Hom Luồng trước khi xử lý Hooc mon 97
4.8 Hom Luồng giống sau 30 ngày giâm 97
4.9 Hiện tượng nâng gốc khi sinh măng của cây Luồng 101
4.10 Sinh trưởng đường kính của măng Luồng trên các dạng lập địa 105
4.11 Sinh trưởng chiều cao của măng Luồng trên các dạng lập địa 105
4.12 Sơ đồ nhánh rừng Luồng với 10 nhân tố cấu trúc và sinh trưởng

109
4.13 Sơ đồ nhánh rừng Luồng với 3 nhân tố cấu trúc 111
4.14
Biểu đồ tán xạ các nhân tố cấu trúc và sinh trưởng rừng Luồng
ở Quan Hóa
112
4.15
Biểu đồ tán xạ các cặp nhân tố cấu trúc và sinh trưởng của rừng
Luồng
114

1
MỞ ĐẦU

kinh doanh rừng Luồng ngày càng thấp, nhiều diện tích rừng Luồng đã bị suy
thoái. Thực tiễn kinh doanh rừng Luồng ở Thanh Hóa còn một số tồn tại như:
- Việc chọn và nhân giống Luồng chưa được hoàn thiện.
- Chưa phân chia được điều kiện lập địa thích hợp cho trồng Luồng.
- Chưa xác định được mô hình rừng Luồng mong muốn cũng như
những giải pháp kỹ thuật phù hợp cho khai thác rừng lâu dài và liên tục.
Vì vậy, việc nghiên cứu xác định hệ thống các biện pháp kỹ thuật về
chọn giống, nhân giống, trồng, chăm sóc và khai thác rừng Luồng theo hướng
thâm canh để nâng cao năng suất, chất lượng của rừng Luồng trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa là rất cần thiết.
Để góp phần giải quyết những vấn đề nêu trên và thúc đẩy các hoạt
động phát triển rừng Luồng ở Thanh Hóa, đề tài “Nghiên cứu một số cơ sở
khoa học cho việc thâm canh rừng Luồng tại Thanh Hóa” đã được thực hiện.
Phương hướng của đề tài là tập trung nghiên cứu một số cơ sở khoa học chủ
yếu làm cơ sở đề xuất kỹ thuật thâm canh rừng Luồng. Vì hạn chế về thời
gian và kinh phí, đề tài chỉ thực hiện trên địa bàn 9 xã thuộc huyện Quan Hóa,
nơi diện tích rừng Luồng trồng khá tập trung, cây Luồng là loài cây truyền
thống có đóng góp quan trọng cho đời sống và thu nhập của người dân địa
phương.
2. Mục tiêu của đề tài luận án
2.1. Về lý luận
Góp phần bổ sung một số cơ sở khoa học cho kỹ thuật thâm canh rừng
Luồng tại huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hoá.
3

2.2. Về thực tiễn
Đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật áp dụng cho thâm canh rừng
Luồng tại huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
3. Điểm mới của luận án
- Đã phân loại lập địa rừng trồng Luồng dựa vào mối quan hệ giữa sinh

trấn Hồi Xuân, xã Xuân Phú, xã Hồi Xuân, xã Phú Nghiêm, xã Nam Xuân, xã
Phú Xuân, xã Nam Động, xã Nam Tiến và xã Thanh Xuân.
5

Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Đặc điểm của cây Luồng
Cây Luồng có tên khoa học là Dendrocalamus barbatus Hsueh et
D.Z.Li, thuộc chi Luồng Dendrocalamus; Họ Hòa thảo Poaceae, Bộ hòa thảo
Graminales.
Luồng phân bố tự nhiên ở vùng Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa và các vùng
khác như Nghệ An (với tên địa phương là Mét) và Sơn La (Mạy sang mú).
Luồng là loại tre đã được trồng ở nhiều tỉnh như Hoà Bình, Sơn La, Phú Thọ,
Tuyên Quang, Thái Nguyên… và một số tỉnh Nam Trung bộ, đồng bằng sông
Cửu Long với giống Luồng chủ yếu được lấy từ Thanh Hóa (Ngô Quang Đê và
cs,1994) [21], (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [55], (Lê Nguyên và cs, 1971) [56].
Luồng là loài tre mọc cụm, thân thẳng, tròn, đường kính cây đạt tới 10 –
12cm, cây cao 15 – 20m, vách thân dày 2cm trở lên. Phía trên và phía dưới
vòng đốt có lớp phấn trắng. Mỗi đốt có một cành chính to, dài và 2 - 5 cành
nhỏ hơn, gốc cành chính phình to (gọi là đùi gà) là nơi có khả năng sinh mầm
và rễ trong nhân giống hom và chiết cành. Rễ Luồng là loại rễ chùm, mọc ra từ
thân ngầm và các đốt sát gốc. Rễ Luồng ăn rộng xung quanh gốc tới 10 m, tập
trung chủ yếu ở độ sâu 10 – 30cm. Thân Luồng chia làm nhiều lóng, mỗi lóng
dài từ 15 – 40cm. Các lóng ở gốc ngắn, các lóng ở giữa thân dài hơn. Thân có
màu xanh từ nhạt đến thẫm tùy theo mỗi tuổi của cây. Hoa Luồng mọc từ đốt
cành, mỗi hoa có nhiều chùy, các bông chét tập hợp thành cụm hình cầu ở các
đốt trục hoa. Khi cây Luồng ra hoa thì thân mềm, nhiều nước nên dễ đổ gẫy,
giá trị kinh tế thấp. Thường những cây trong một bụi ra hoa cùng nhau, sau đó
chết đồng loạt (Ngô Quang Đê và cs,1994) [21], (Nguyễn Thế Nhã, 2003)


Giai đoạn (1945 - 1965), trồng rừng thâm canh bắt đầu được quan tâm,
việc sử dụng giống cây ngoại lai trồng ở các nước nhiệt đới đã được đề xuất
(Hội nghị lâm nghiệp thế giới, 1954) trong các chương trình trồng rừng thương
mại ở FiJi, Papua New Guinea. Đến giai đoạn 1966 - 1980 các diện tích trồng
thâm canh được mở rộng nhanh chóng để phục vụ cho công nghiệp chế biến
và các nhu cầu khác, các kỹ thuật lâm sinh đã được áp dụng vào sản xuất
được quan tâm, như ở Brazil có nơi đã chuyển đổi hơn 400.000 ha rừng kém
chất lượng thành rừng trồng các loài cây Thông Caribeae (Pinus caribaea) và
Bạch đàn (E. saligna) (dẫn theo Julian Evans 1992) [100].
Từ sau năm 1980, diện tích rừng trồng công nghiệp ngày càng được mở
rộng, hơn 14 triệu ha rừng đã được trồng trong 15 năm, Sedio (1978) đã ước
lượng diện tích rừng trồng ở châu Mỹ La tinh giai đoạn 1980 - 1990 tăng gấp 3
lần, sản lượng gỗ công nghiệp tăng gấp 4 lần từ trồng rừng và có thể thỏa mãn
50% tổng yêu cầu gỗ của khu vực; Touzet (1985) khẳng định rằng “rừng trồng
cần được phát triển và sẽ là nguồn gỗ chủ yếu cho tất cả các ngành công nghiệp
sử dụng gỗ”. Tầm quan trọng đặc biệt và là bước đột phá trồng rừng trong giai
đoạn này là việc nghiên cứu thử nghiệm thành công kỹ thuật nhân giống bằng
con đường nuôi cấy mô và giâm hom (dẫn theo Julian Evans, 1992) [100].
Như vậy, lịch sử phát triển rừng theo hướng trồng thâm canh đã
được quan tâm từ lâu, đặc biệt trong vài thập kỷ trở lại đây. Nhiều quốc
gia đã tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu cải thiện giống và nhân giống
cây rừng, vì vậy năng suất rừng trồng một số loài cây mọc nhanh như
Keo, Bạch đàn và một số cây trồng khác ở Trung Quốc và Công Gô đã đạt
năng suất từ 40 - 50m
3
/ha/năm; Cộng hoà Nam Phi cũng đã tuyển chọn
được dòng E. grandis năng suất đạt trên 40m
3
/ha/năm; Bồ Đào Nha, Tây

3
/ha/năm. Kết quả này lại một lần nữa khẳng định điều kiện lập
địa khác nhau thì năng suất rừng trồng cũng khác nhau.
Kết hợp với công tác cải thiện giống và chọn điều kiện lập địa, nhiều nước
đã có các công trình nghiên cứu đồng bộ, áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm
sinh hiện đại trong trồng rừng thâm canh như chọn lập địa, làm đất, bón phân và
chăm sóc rừng…. Vì vậy, năng suất của rừng cũng được tăng lên rõ rệt. Những
kết quả nghiên cứu này cũng làm nổi bật quan điểm về thâm canh, không chỉ
là bón phân hay tưới nước, mà là liên hoàn các biện pháp kỹ thuật ở tất cả các
khâu trong kinh doanh rừng.
9

1.2.2. Về thâm canh tre trúc
Tre trúc bao gồm những loài thuộc phân họ Tre (Bambusoideae),
họ Cỏ (Poaceae), trên thế giới có khoảng 500 loài (Dai Qihui, 1998) [94]. Tre
trúc là một nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm một vị trí quan trọng trong tài nguyên
rừng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước vùng phía Nam và Đông
Nam Á. Ở các nước này người dân đã biết sử dụng tre trúc từ lâu đời để tạo ra
hàng trăm sản phẩm phục vụ thiết thực cho đời sống hàng ngày. Nhiều loài tre
trúc là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ, công nghiệp
chế biến nông lâm sản, công nghiệp giấy sợi, công nghiệp chế biến ván nhân tạo.
Tre trúc cũng là vật liệu trong xây dựng, kiến trúc, giao thông vận tải, Một số
loài tre trúc cho măng ăn ngon, đã trở thành đối tượng cung cấp nguồn thực
phẩm có giá trị. Các sản phẩm từ tre trúc không còn bó hẹp trong biên giới của
một số quốc gia mà đã có mặt ngày càng nhiều trên thị trường quốc tế và được
nhiều nước châu Âu, châu Mỹ ưa chuộng.
Chính vì vị trí quan trọng của nguồn tài nguyên này, tre trúc, đã được
nghiên cứu từ lâu đời về nhiều mặt như: chọn giống, trồng, khai thác, sử
dụng. Gần đây có nhiều nghiên cứu nhằm phát triển gây trồng một số loài tre
trúc theo mô hình rừng công nghiệp thâm canh với năng suất, chất lượng cao,

Tre trúc được gây trồng ở nhiều nước với 3 mục đích kinh doanh:
chuyên cung cấp măng, chuyên khai thác thân khí sinh hoặc kết hợp cả lấy
măng và chuyên khai thác thân ký sinh. Các biện pháp thâm canh tăng năng
suất chất lượng được nghiên cứu và thực nghiệm chủ yếu là: Bón phân, điều
chỉnh mật độ khóm trên hecta, điều chỉnh số lượng thân khí sinh để lại cho mỗi
khóm và mỗi thế hệ, phòng trừ sâu bệnh cho từng loài cụ thể. Ngoài ra, các
điều kiện khí hậu như lượng mưa, nhiệt độ, độ cao, điều kiện thổ nhưỡng cũng
11
là những nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sinh trưởng, phát triển
của rừng tre trúc và được chọn làm tiêu chí khi tuyển chọn loài và biện pháp
thâm canh. Kết quả nghiên cứu của nước ngoài là nguồn tài liệu tham khảo rất
có giá trị, đặc biệt đối với những loài có quan hệ thân thuộc cây Luồng của Việt
Nam được chọn làm đối tượng nghiên cứu của đề tài.
1.2.3. Về chi Luồng (Dendrocalamus)
Chi Luồng (Dendrocalamus) có khoảng 35 loài trên thế giới, riêng
Trung Quốc có 30 loài (ở Vân Nam có 24 loài) (Yang et al., 1999) [110];
Trung Quốc cũng đã ghi nhận tới 410 loài, chủng và giống (Pei et al., 1999); Ấn
Độ có 20 loài (Seethalakshmi và Kumar, 1998) [103].
Những nghiên cứu về thâm canh các loài cây thuộc chi Dendrocalamus
được quan tâm ở nhiều góc độ khác nhau, trong đó chủ yếu là các công trình
nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong kinh doanh rừng. Có thể
tóm tắt theo các vấn đề sau:
- Về chọn giống, nhân giống
Chi Dendrocalamus có thể thực hiện nhân giống bằng phương pháp hữu tính
hoặc sinh dưỡng nhưng chủ yếu là bằng phương pháp nhân giống sinh dưỡng.
Tại Kenya, Bernard Kingomo (2007) [92] đã đề cập đến nhân giống
bằng cách dùng thân và gốc để tạo cây con. Nếu dùng hom thân nên lấy thân
cây có độ tuổi từ 2 - 3 năm, cắt một đoạn có 2 đến 3 mắt để làm vật liệu, đục
lỗ cách các mắt từ 5 – 7 cm, sau đó vùi sâu 6 – 10 cm theo hướng nằm ngang
vào đất trộn cát, sau đó dùng axít 1-Naphthalene acetic (NAA) đổ vào lỗ đã

có ý nghĩa quan trọng trong việc chọn lập địa phù hợp để kinh doanh rừng
Luồng theo hướng bền vững.
Tại Indonesia, Sutiyono (2004) [105] đã tiến hành nghiên cứu dinh
dưỡng đất của rừng Dendrocalamus asper Back. Kết quả nghiên cứu dinh
13
dưỡng của đất ở các tầng từ 0 – 20cm và 20 – 40cm dưới tán rừng, tác giả chỉ
ra độ chua, hàm lượng mùn, ni tơ, kali, các ion K
+
, Na
+
, Ca
+
, Mg
+
và các
cation trao đổi đều rất thấp ở cả 2 tầng đất. Nhìn chung hàm lượng các chất
dinh dưỡng đều rất thấp, riêng phốt pho tổng số là cao ở cả 2 tầng. Về thành
phần cơ giới của đất, ở tầng từ 0 – 20cm thành phần cơ giới là sét với hơn
45% là sét và 34% là cát. Silicate (Si) ở tầng 0 - 20cm cao hơn so với tầng từ
20 – 40cm. Nguyên nhân là do quá trình phân huỷ lá ở tầng đất mặt nhanh
hơn so với tầng đất sâu.
- Về biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng
+ Về xử lý đất và thực bì, Bernard (2007) [92] trước khi làm đất trồng
rừng Dendrocalamus nên xử lý thực bì bằng cách phát dọn cỏ, cây khóm.
Kích thước và cự ly hố tùy thuộc vào phương pháp và loài cây trồng. Đối với
các loài cây có kích thước to thì hố đào thường có kích thước là 60cm x 60cm
x 60cm. Nơi có lượng mưa trung bình thấp, nên đào hố to hơn so với nơi có
lượng mưa cao. Hố sau khi đào được lấp gần đầy, thấp hơn miệng hố khoảng
10 cm, có thể trộn 2kg phân lân hoặc phân chuồng cho mỗi hố. Đất được lấp
trước khi trồng 1 tháng. Theo Dai Qihui (1998) [94] có 3 phương pháp làm

dược liệu hoặc xung quanh ao cá, đồng ruộng v.v… Như vậy, có thể trồng
hỗn loài Dendrocalamus với các loài cây khác sẽ có tác dụng hạn chế sự suy
thoái của rừng và tăng giá trị kinh tế của rừng.
+ Về kỹ thuật trồng, Dai Qihui (1998) [94] cho biết dù cây con
Dendrocalamus được tạo hạt hay từ nhân giống sinh dưỡng, trước khi trồng
nên cắt ngọn chỉ để lại 2-3 đốt. Đối với cây con được tạo từ hạt thì đặt cây con
ở tư thế thẳng đứng, lấp đất và phủ lên gốc cây 3 - 4cm. Với cây đem trồng
bằng gốc, đặt cây ở tư thế thẳng đứng, lấp đất và phủ đất cách cổ rễ 10cm.
15
+ Về kỹ thuật bón phân, Dai Qihui (1998) [94] cho biết: đối với cây
Dendrocalamus trồng lấy măng, để sản xuất 100kg măng tươi, cây cần 500 –
700g Nitơ, 100 – 150g Phốt pho và 200 – 250g Kali từ đất. Như vậy, nếu
muốn thu hoạch 15.000kg măng tươi trên ha mỗi năm cần bổ sung từ 75 –
100kg Nitơ, 15 - 22,5kg Phốt pho và 37,5kg Kali. Nếu không dùng các loại
phân hóa học nêu trên, bón 37.500kg phân chuồng cho 1ha hàng năm cũng có
thể bổ sung lượng dinh dưỡng cần thiết trên. Việc bón phân chia làm nhiều
lần trong năm. Đối với tre Luồng trồng lấy thân, để sản xuất 1.000 kg thân tre
Luồng cần 2,5 - 3,5kg Nitơ, 0,3 - 0,4kg Phốt pho và 3 – 4 kg Kali từ đất. Theo
Fu Maoyi, XiaoJianghua (1996) [96] đã xác định những nhân tố ảnh hưởng
đến quá trình phát sinh măng, sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh là:
độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh.
Đây là những nhân tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp
thâm canh tăng năng xuất măng và thân khí sinh. Victor Cusack (1997) [107]
cho rằng biện pháp bón phân làm cho nhiều loài tre trúc phát triển tốt, măng
to, nhưng phải bón một cách hợp lý tuỳ thuộc vào loài nhất định. Nghiên cứu
về chu trình dinh dưỡng trong rừng Bambusa bambos các tác giả
Shanmughavel và Fracis (1997) [104] cho biết lượng dinh dưỡng trong cây
đứng gia tăng theo tuổi của cây, vì vậy lượng dinh dưỡng trả lại cho đất
không đủ so với lượng dinh dưỡng mà cây đã lấy đi. Nghiên cứu của Jha và
Lalnunmawia (2004) [99] về trồng xen giữa các loài cây Dendrocalamus


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status