1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đại hội XI của Đảng khẳng định cần ưu tiên xây dựng một số lực lượng
vũ trang tiến thẳng lên hiện đại, trong đó có lực lượng Hải quân. Để hiện đại
hóa, Quân chủng Hải quân ưu tiên trang bị các phương tiện quân sự chiến
lược thế hệ mới như tàu Gepard và tàu ngầm kilo.
Quyết định số 03/2006/QĐ-BLĐTBXH về việc ban hành tạm thời
Danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng
nhọc, độc hại trong Quân đội quy định rõ “Sĩ quan, thuyền viên làm việc trên
tàu quân sự ở biển xa và khảo sát đo đạc trên biển” được xếp điều kiện lao
động mức VI. Đây là mức lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cao nhất
[3]. Thủy thủ trên các tàu Hải quân mặt nước phải làm việc trong điều kiện
khắc nghiệt của biển và điều kiện bất lợi trên tàu như tiếng ồn, rung lắc,
không gian làm việc chật hẹp, thiếu vệ sinh, điều kiện dinh dưỡng và chăm
sóc sức khỏe có hạn, ảnh hưởng của sóng điện trường và hơi khí độc [2].
Ngoài những yếu tố kể trên, trong các tàu thế hệ mới còn có thể xuất
hiện các yếu tố khác có thể ảnh hưởng xấu tới sức khỏe thủy thủ như hiện
tượng tĩnh điện do sử dụng vật liệu phi kim loại, trường điện từ và thuỷ âm có
dải tần mới… [56]. Tất cả những yếu tố bất lợi của môi trường lao động trên
tàu có thể gây suy giảm sức khoẻ, tăng gánh nặng tâm lý, giảm khả năng lao
động và tăng tỷ lệ thải loại của thủy thủ [33], [34]… Hàng năm có khoảng 5%
thủy thủ phải rời tàu do điều kiện sức khỏe không cho phép.
Trong các bệnh lý hay gặp ở thủy thủ, giảm thính lực là bệnh chiếm tỷ
lệ lớn. Một số kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước thấy, tỷ
lệ giảm thính lực của thủy thủ 30,0% - 76,0% [21], [93], [99]. Trong công tác
dự phòng bệnh điếc nghề nghiệp, khám phát hiện sớm các trường hợp bị giảm
thính lực do tiếng ồn để xử trí kịp thời là rất quan trọng. Hiện nay, khám thính
lực bằng phương pháp đo thính lực 11 tần số là phương pháp thường được sử
phương tiện kỹ thuật quân sự khác để tác chiến và phục vụ tác chiến ở các
vùng nước (biển, sông, hồ…) [4].
- Phân loại tàu chiến đấu mặt nước
Theo công dụng: tàu tuần dương, tàu khu trục, tàu hộ vệ, tàu quét mìn,
tàu sân bay, tàu đổ bộ, tàu săn ngầm…
Theo trang bị vũ khí chính: tàu pháo, tàu tên lửa, tàu phóng lôi…
Theo môi trường hoạt động: tàu mặt nước, tàu ngầm.
Theo dạng năng lượng của động cơ: tàu nguyên tử (hạt nhân), tàu chạy
nhiên liệu thường (diezen, tuabin khí), tàu chạy bằng hơi nước.
Theo kết cấu dẫn động: tàu chân vịt, tàu chạy bằng bơm thủy lực (phản
lực)…
Ngoài ra, tàu chiến còn được phân loại theo đặc điểm chiến thuật: tàu
chủ lực, tàu phụ (của hạm đội), tàu dùng cho mục đích chiến lược (mang vũ
khí và tạo các đòn đánh chiến lược) và tàu dùng cho mục đích chiến thuật
(mang vũ khí và thực hiện nhiệm vũ chiến thuật)… Các tàu chiến (cả tàu mặt
nước và tàu ngầm) được chế tạo theo cùng một thiết kế, gọi là lớp (kiểu).
- Tàu hộ tống: tàu chiến mặt nước có nhiệm vụ trinh sát, hộ tống, bảo
vệ các tàu chiến (hoặc đoàn tàu chiến) khác trong tác chiến, hành quân, ra vào
căn cứ. Có thể dùng để bảo vệ cảng, bảo vệ căn cứ và tuần tiễu ven biển, trên
sông. Được chia ra: tàu hộ vệ hạng nặng và tàu hộ vệ hạng nhẹ. Tàu hộ vệ
3
hạng nặng có lượng giãn nước từ 600-3.000 tấn (đặc biệt có tàu trên 3.000
tấn), tốc độ tới 35 hải lý/giờ (65 km/h). Tàu hộ vệ hạng nhẹ có lượng choán
nước dưới 150 tấn, tốc độc tới 40 hải lý/giờ, trang bị pháo 40 mm, súng máy
phòng không… Trên tàu hộ vệ có thiết bị thủy âm và thiết bị vô tuyến [4].
Tàu Gepard thuộc lớp tàu hộ tống. Tàu có 10 khoang kích nước với 3
tầng. Tàu dài 102m và rộng 13,7m. Tàu có 3 máy chính, 2 tuabin, 1 động cơ
diesel. Động cơ Tuabin có công suất 19.500 mã lực, động cơ
chống ngầm, hệ thống điều khiền hoả lực, hệ thống dẫn động điều khiển thiết
bị phóng. Huấn luyện chuẩn bị chiến đấu, chiến đấu, kiểm tra, bảo quản, bảo
dưỡng kỹ thuật, sửa chữa vũ khí, khí tài thuộc ngành [2].
Thủy lôi - Chống thủy lôi: khai thác, vận hành thuỷ lôi, khí tài dò tìm,
thiết bị rà quét thuỷ lôi và các hệ thống điều khiển từ xa thiết bị ngầm. Huấn
luyện chuẩn bị chiến đấu, chiến đấu, tính toán sử dụng có hiệu quả vũ khí
thủy lôi, chống thuỷ lôi trong chiến đấu, kiểm tra, bảo quản, bảo dưỡng kỹ
thuật và sửa chữa vũ khí, khí tài trên tàu [2].
+ Ngành 4-6-7: Thông tin, Rada, Sona
Rada, Sona Hải quân: khai thác, vận hành Rada, Sona, thiết bị tác chiến
điện tử. Thực hiện các chế độ, quy trình kiểm tra, bảo quản, bảo dưỡng kỹ
thuật và sửa chữa trang bị, khí tài thuộc ngành [2].
Thông tin Hải quân: khai thác, vận hành thiết bị thu phát vô tuyến điện,
hữu tuyến điện và thông tin vi ba, thông thoại nội bộ trên tàu. Thực hiện kiểm
tra, bảo quản, bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chữa trang bị, khí tài trên tàu [2].
+ Ngành 5: Cơ điện, Thợ máy
Cơ điện: khai thác và vận hành hệ thống điện tàu, máy phụ và các hệ
thống trên tàu, hệ trục chân vịt và trạm điện tàu. Thực hiện quy trình kiểm tra,
bảo quản, bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chữa máy móc, trang thiết bị thuộc
ngành [2].
Ngành Máy tàu: khai thác, vận hành máy chính, máy phụ và các hệ
thống trên tàu, hệ trục chân vịt. Thực hiện các chế độ kiểm tra, bảo quản, bảo
dưỡng và sửa chữa máy móc, trang thiết bị thuộc ngành [2].
+ Ngành tổng hợp: Quân y, Hậu cần.
5
Quân y tàu: đảm bảo cơ số thuốc; tổ chức các hoạt động vệ sinh phòng
dịch trên tàu; theo dõi, giám sát sức khỏe cho thủy thủ; thực hiện các biện
áp thấp nhiệt đới hoạt động ở biển Đông [7].
* Ảnh hưởng của sóng biển
Khi lao động trên biển, sóng biển gây chòng chành tàu và dẫn đến say
sóng. Say sóng là do sự kích thích của các dao động trên tàu dưới ảnh hưởng
của sóng biển mà sinh ra, biểu hiện chủ yếu là buồn nôn và nôn. Đối với Hải
quân, say sóng là một hiện tượng rất phổ biến, ảnh hưởng không ít tới sức
khỏe và sức chiến đấu của thủy thủ, nhất là trong điều kiện thời tiết xấu, điều
kiện sinh hoạt khó khăn, chật hẹp [44].
Các hình thức dao động của tàu trên mặt biển:
Dao động trước sau lấy trục hoành của tàu làm tâm.
Dao động toàn thân tàu theo hướng lên xuống.
Dao động toàn thân tàu lắc lư theo hướng phải – trái.
Dao động của tàu quay xung quanh tâm điểm.
Các dao động chủ yếu là hình thức dao động 1 và 2. Các hình thức dao
động không đơn độc, riêng biệt mà phối hợp nhau. Những hình thức dao động
đó ảnh hưởng rất nhiều đến cơ thể và đưa đến say sóng [44]. Nguyễn Anh
Tuấn và cs (2015) đã nghiên cứu và xác định được chỉ số gây say sóng trong
chuyển động tàu để đánh giá sự thoải mái của hành khách trên tàu. Tác giả đã
sử dụng chương trình tính toán MSI dựa trên các phổ năng lượng sóng, ước
lượng tốc độ phù hợp để điều khiển tàu giúp hạn chế say sóng [120].
Sóng biển trong dông bão có thể đe dọa an toàn sinh mạng của thủy thủ
và là nguyên nhân tạo ra các stress về tâm sinh lý của thủy thủ [63].
Trần Quỳnh Chi (2003) nghiên cứu phản ứng của cơ thể với nghiệm
pháp gia tốc liên tục Coriolis cho thấy: nhóm thủy thủ chịu sóng tốt chịu được
nghiệm pháp >2 phút, các biểu hiện lâm sàng gần như hoàn toàn bình thường
(chỉ có 20% có chóng mặt nhẹ), chỉ số thần kinh thực vật tăng biểu hiện xu
7
hướng cường chức năng thần kinh giao cảm. Nhóm chịu sóng kém (không
cũng sẽ tăng thêm [2].
1.1.3.2. Môi trường hạm tàu
Trong suốt thời gian hoạt động trên biển, tàu vừa là nơi lao động, vừa là
nơi ở, sinh hoạt 24/24 giờ của thủy thủ. Ngay cả khi tàu neo đậu tại cảng, hầu
hết hoạt động của thuỷ thủ vẫn phải diễn ra trên tàu. Vì vậy, thủy thủ phải
chịu đồng thời nhiều tác động của môi trường trên tàu đến sức khoẻ, không
những trong lúc lao động mà ngay cả khi nghỉ ngơi, thậm chí cả trong giấc
ngủ.
* Đặc điểm môi trường vi khí hậu trên tàu
Vi khí hậu gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió và bức xạ nhiệt.
Những yếu tố này có ảnh hưởng lớn và thường xuyên đến sức khoẻ thủy thủ.
Người ta thường sử dụng chỉ số Yaglow hay nhiệt độ tam cầu (WBGT) để
phản ánh tổng hợp các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió và đưa ra giới hạn
thời gian lao động theo cường độ lao động trong môi trường nóng [35]. Nhiệt
độ tổng hợp thích hợp đo bằng chỉ số Yaglow. Giới hạn nghỉ tập của bộ binh
là 31,10C [35].
- Nhiệt độ
Mặc dù hiện nay các tàu Hải quân đã được đầu tư cải tạo rất nhiều, các
phòng sinh hoạt, phòng ở đã được thông gió và lắp đặt hệ thống điều hòa,
nhưng vẫn có những khu vực rất nóng như khu vực hầm máy và khoang kỹ
thuật. Trong các tàu không có hệ thống điều hoà không khí, nhiệt độ trong
khoang tàu luôn cao hơn ở ngoài boong, nhất là vào mùa hè [53]. Sự chênh
lệch nhiệt độ khá cao giữa buồng máy với các vị trí khác trên tàu, giữa trong
và ngoài tàu [53]. Trong hầm máy có nhiều loại máy móc được lắp đặt như
máy diezen tua bin, ống dẫn hơi, máy phụ, máy phát điện một chiều…Các
loại máy này khi vận hành phát ra một khối lượng nhiệt lớn và năng lượng
9
bức xạ. Bề mặt máy móc có thể nóng đến 70-100 0C hoặc cao hơn nữa [2].
toan và các chỉ số về điện sinh lý [62].
* Ảnh hưởng của các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học
- Tiếng ồn
Tiếng ồn là loại tiếng động không mong muốn. Cảm giác về độ ồn tăng
chậm so với tăng áp lực âm thanh: áp lực âm thanh tăng 10 lần thì cảm giác
ồn tăng 1 lần [36]. Tiêu chuẩn vệ sinh lao động của tiếng ồn theo Quyết định
số 3733/2002/QĐ-BYT là mức âm liên tục không quá 85 dBA trong 8 giờ làm
việc liên tục và không quá 90 dBA trong 4 giờ làm việc liên tục [8].
Lao động trên tàu biển, thủy thủ phải thường xuyên phơi nhiễm với
tiếng ồn. Đây là vấn đề nan giải nhất, không thể khắc phục được mà những
người lao động biển chỉ còn cách phải chung sống. Trong các tàu Hải quân,
nơi có tiếng ồn lớn nhất là khoang động cơ của tàu. Cường độ tiếng ồn phụ
thuộc vào tốc độ động cơ và vị trí trong tàu [125].
Rapisarda V. và cs (2004) thấy, mức áp âm trong các phòng động cơ tàu
đánh cá luôn vượt quá 90 dBA trên tất cả các tàu thuyền khi vận tốc của tàu là
3 - 4 hải lý trong giai đoạn khai thác và khoảng 10 hải lý/giờ trong thời gian
di chuyển qua các ngư trường [113]. Các tác giả cho rằng cần phải đề xuất các
biện pháp nhằm làm giảm ảnh hưởng của tiếng ồn đến sức khỏe của ngư dân.
Theo Nguyễn Trường Sơn (1994) [64], Nguyễn Thị Yến (2007) [79] và nhiều
nghiên cứu khác, tiếng ồn trong khu vực buồng máy luôn vượt tiêu chuẩn cho
phép.
Tiếng ồn tần số cao sẽ gây giảm sức nghe, điếc nghề nghiệp. Tiếng ồn
tần số thấp, tuy không gây điếc nghề nghiệp nhưng cũng gây giảm sức nghe
và nguy hiểm hơn là gây rối loạn hoạt động chức năng của hệ thần kinh thực
vật, qua đó ảnh hưởng đến chức năng của hàng loạt các cơ quan như tim
11
mạch, tiêu hóa. Tiếng ồn còn làm giảm độ tập trung, hiệu quả công việc, gây
tiếp tục tăng vòng quay lên nữa thì biên độ cao rộng lại giảm xuống. Ở một
tàu Hải quân, khi vòng quay của máy là 105 vòng/phút thì biên độ dao động
của boong lên tới 15 mm, rung, lắc này cũng làm xuất hiện cộng hưởng. Nếu
tàu rung, lắc với biên độ 2,18 mm với gia tốc lớn nhất là 800 mm/s 2 , rung, lắc
này không gây khó chịu. Nếu tàu rung, lắc với biên độ 0,7 mm, gia tốc 625
mm/s2 thì làm cho người khó chịu. Nếu tàu rung, lắc với biên độ 11,5 mm, gia
tốc 600 mm/s2 sẽ gây cảm giác rất khó chịu và chóng mệt. Nếu rung, lắc với
biên độ 0,55 mm, gia tốc 8.300 mm/s2 thì cơ thể không chịu nổi. Ở các tàu
Hải quân hiện đại, trong khoang máy đôi khi rung, lắc có gia tốc lên tới
10.000 mm/s2 hoặc hơn [2].
- Chiếu sáng trên tàu
Ánh sáng là yếu tố vật lý của môi trường tự nhiên hay nhân tạo. Con
người nhận biết thông tin về sự vật, hiện tượng của tự nhiên và xã hội bằng
con đường thị giác chiếm 80% [33]. Trong lao động, ánh sáng là yếu tố ảnh
hưởng nhiều đến năng suất lao động, chất lượng lao động và an toàn lao động.
Ánh sáng không đảm bảo vệ sinh còn gây ra tình trạng nhức mắt, mỏi mắt,
giảm thị lực và nhức đầu. Trong quá trình hoạt động trên tàu, thủy thủ phải
chịu tác động của ánh sáng với nhiều cường độ khác nhau như ánh sáng yếu
trong hầm máy, ánh sáng quá mức trên boong tàu do ánh mặt trời phản xạ bởi
mặt nước biển.
- Hơi, khí độc
Trong quá trình lao động trên biển, thủy thủ còn có thể bị ảnh hưởng
bởi hơi, khí độc. Những hơi khí độc có nguồn gốc từ xăng, dầu và các loại
hóa chất tích trữ ở trên tàu. Những hóa chất này có thể gây ngộ độc hoặc các
bệnh lý khác nhau. Bùi Hải Hà (2002) thấy trên các tàu vận tải xăng dầu, hơi
chì trong buồng thuỷ thủ cao gấp 2 lần, hơi chì trong buồng máy cao gấp 6,8
lần TCCP [25].
13
khác cũng đã chỉ ra sự liên quan chặt chẽ giữa lao động ca kíp và trạng thái
mất ngủ với tỷ lệ cao bị các bệnh tim mạch, các bệnh mạn tính khác như rối
loạn chuyển hóa, các bệnh về đường tiêu hóa [100].
Trong ngành Hàng hải, trong các chuyến hành trình dài ngày, do thay
đổi thời tiết, múi giờ, thủy thủ phải làm việc ca kíp sẽ có nguy cơ ảnh hưởng
tới sức khỏe hơn các ngành nghề khác. Các nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ
làm việc ca kíp của đoàn thủy thủ trên tàu biển với chế độ làm việc ca 4 giờ nghỉ 8 giờ, so với nhóm người làm việc ban ngày từ 9 đến 17 giờ cho thấy:
giấc ngủ của thủy thủ làm việc ca kíp ngắn hơn giấc ngủ của thủy thủ chỉ làm
việc ban ngày [83].
1.2. ĐIỀU KIỆN SINH HOẠT CỦA THỦY TÀU CHIẾN ĐẤU MẶT
NƯỚC
1.2.1. Chế độ dinh dưỡng của thủy thủ tàu chiến đấu mặt nước
Tiêu chuẩn, định mức ăn của lực lượng tàu mặt nước được quy định
theo Thông tư số 41/2009/TT-BQP của Bộ Quốc phòng [5]. Theo Thông tư số
41/2009/TT-BQP, những đối tượng sau được hưởng tiêu chuẩn ăn thường
xuyên [5]:
(1) Cán bộ, chiến sĩ biên chế trên tàu thuộc Quân chủng Hải quân, các
Quân khu, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục II, Bộ tư lệnh Biên phòng, Bộ Tư
lệnh Đặc công và Cục cảnh sát biển.
(2) Cán bộ chỉ huy, trợ lý hàng hải, trợ lý thông tin, trợ lý Rada, trợ lý
vũ khí đạn, trợ lý cơ điện từ cấp hải đội trở xuống.
(3) Các đối tượng khác trong những ngày thực tế làm nhiệm vụ trên
tàu, những ngày đi biển được áp dụng tiêu chuẩn này.
Theo Thông tư số 41/2009/TT-BQP, những đối tượng này được đảm
bảo chế độ ăn 3.650 Kcal/người/ngày khi tàu đỗ tại cảng và 3.750
Kcal/người/ngày khi tàu đi biển.
15
Trong các hải trình dài ngày trên biển, vấn đề cung cấp và bảo quản
- Khó khăn trong việc sử dụng thời gian nhàn rỗi trên tàu.
Sự xa cách với gia đình, bạn bè đã gây cho người lao động trên biển
tâm trạng buồn chán, tù túng không được thỏa mãn về nhu cầu và những đòi
hỏi tình cảm khác giới. Ngoài ra, người lao động biển còn bị tách biệt khỏi
cộng đồng xã hội, chính trị và văn hóa ở trên đất liền, thiếu thông tin. Đây
cũng là yếu tố làm tăng nguy cơ bị stress ở thủy thủ.
Vấn đề tổ chức lao động trong hành trình trên biển cũng có ảnh hưởng
không nhỏ đến sức khỏe của thủy thủ. Hoạt động của thủy thủ đơn điệu và
buồn tẻ, lặp đi lặp lại, gây buồn chán. Kết quả tạo nên tình trạng căng thẳng
về tâm sinh lý, gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe thuỷ thủ. Trong thời
gian dài, thuỷ thủ phải làm việc đơn điệu, lặp lại, ít có sáng tạo. Sau khi làm
ca đêm trong thời gian 2 tuần, con người sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp bị stress,
những người làm ca kíp có nhiều bệnh lý mạn tính hơn tỷ lệ chung trong cộng
đồng: bệnh tim mạch, bệnh dạ dày tá tràng, tai nạn lao động. Theo Nguyễn
Minh Phương (2012), lao động ca kíp làm đảo lộn nhịp sinh học ngày đêm,
gây ra các biến đổi một số quá trình sinh lý khác nhau trong cơ thể và là
nguyên nhân gây ra bệnh lý. Tỷ lệ bộ đội trinh sát kỹ thuật bị căng thẳng cảm
xúc mức độ vừa và cao là 96,8% [58]. Nguyễn Thị Hải Hà (2013) nghiên cứu
về sức khỏe thuyền viên tàu vận tải Viễn dương nhận thấy rằng, điều kiện làm
việc trên biển dài ngày, cô lập với cuộc sống sôi động trên đất liền, với người
thân, cuộc sống trên tàu buồn tẻ, làm việc theo ca kíp làm cho thuyền viên
luôn bị cô đơn và dẫn đến rối loạn hành vi. Tỷ lệ thuyền viên có rối loạn hành
vi trước hải trình là 28,67%, tăng lên 38,33% (p
Ngày 04 tháng 02 năm 2015, Quân chủng Hải quân ban hành hướng
dẫn số 1393/HD-HC về việc tuyển chọn sức khoẻ bộ đội đi làm nhiệm vụ ở
Trường Sa - DK1 và trên tàu hoạt động dài ngày trên biển. Trong đó yêu cầu,
các đối tượng đủ tiêu chuẩn sức khỏe làm nhiệm vụ ở Trường Sa - DK1 và
trên tàu hoạt động dài ngày trên biển phải đảm bảo đủ điều kiện sức khỏe loại
I và loại II. Ngoài ra, một số đối tượng hưởng lương có sức khỏe loại III có
thể tham gia làm nhiệm vụ ở Trường Sa - DK1 và trên tàu hoạt động dài ngày
trên biển khi chỉ mắc một số bệnh sau [61]:
- Sỏi nhỏ ở thận trên siêu âm đường kính ≤ 7 mm, với điều kiện: tiền sử
và hiện tại không có cơn đau quặn thận, không ảnh hưởng chức năng thận,
không ảnh hưởng tới lao động, sinh hoạt của bộ đội.
- Tăng huyết áp độ I, với điều kiện: tiền sử và hiện tại không phải dùng
thuốc hạ huyết áp, kết quả huyết áp phải được đo trong ít nhất 03 ngày, mỗi
ngày đo ít nhất 03 lần theo đúng quy trình đo huyết áp (có ít nhất 01 lần đo
vào buổi sáng ngay sau khi ngủ dậy).
- Các loại ngoại tâm thu được xác định là ngoại tâm thu cơ năng, Block
nhánh phải hoàn toàn và Block AV độ I đã được chẩn đoán xác định tại
chuyên khoa tim mạch bằng điện tim gắng sức và loại trừ có tổn thương thực
thể; tiền sử và hiện tại sức khỏe tốt, sinh hoạt, lao động bình thường.
Hướng dẫn số 1393/HD-HC của Quân chủng Hải quân cũng quy định
những trường hợp không đủ điều kiện sức khỏe làm nhiệm vụ ở Trường Sa –
DK1 và trên tàu hoạt động dài ngày trên biển, gồm:
- Bộ đội có sức khỏe từ loại III trở lên;
- Bộ đội có bệnh thuộc Danh mục theo bảng (phụ lục 1).
19
Đối với lực lượng tàu ngầm, Quân chủng Hải quân đã ban hành thông
tư 26/2011/TT-BQP quy định về tiêu chuẩn sức khỏe, sơ tuyển, khám tuyển,
kiểm tra, giám định sức khỏe lực lượng tàu ngầm. Đối với thủy thủ tàu ngầm,
2
%
32,92
0,83
1
0,42
2
0,83
2005
n
73
1
4
%
31,74
0,43
1,74
2006
2007
n
TT
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
Năm
Loại bệnh
dưỡng, chuyển hóa
Bệnh tâm thần
Bệnh của thần kinh
Bệnh mắt
Tai-xoang chũm
Bệnh của tuần
hoàn
Bệnh của hệ hô
hấp
Bệnh hệ tiêu hóa
Bệnh của da và tổ
chức dưới da
Bệnh của cơ xương
Bệnh của hệ tiết
25
31
1,67
3,33
10,42
12,92
3
10
18
26
1,30
4,35
7,83
11,30
3
7
17
33
1,33
3,11
7,56
14,64
2
7
16,52
46
29,44
44
19,73
60
25,00
64
27,83
51
22,67
55
24,66
13
5,42
5,00
14
6,09
8
3,56
9
4,04
72
4
30,00
1,67
65
3
28,26
1,30
72
6
32,00
* Bệnh của hệ tuần hoàn
Filikowski J. và cs (2003) cho rằng các bệnh tim mạch ảnh hưởng
nghiêm trọng đến sức khỏe của người lao động trên tàu biển. Phơi nhiễm với
yếu tố độc hại, chế độ ăn uống mất cân đối, hạn chế luyện tập là yếu làm tăng
tỷ lệ bệnh tim thiếu máu cục bộ ở thuyền viên. Năm 1998 - 2001, tác giả kiểm
tra sức khỏe cho 715 thuyền viên 82,9% có các yếu tố nguy cơ của bệnh tim
mạch như thừa cân và béo phì, hút thuốc lá, THA, đái tháo đường typ 2, rối
loạn lipid và acid uric máu. Trong đó, tỷ lệ thuỷ thủ có một yếu tố nguy cơ là
30,5%; hai yếu tố là 50,3%; ba yếu tố là 13,2% và từ bốn yếu tố trở lên là 6%.
Tác giả cho rằng, khi khám sức khỏe định kỳ, bác sĩ nên tư vấn cho thuyền
viên về phòng chống bệnh tim mạch và nên thực hiện các nghiệm pháp gắng
sức để đánh giá chức năng tim mạch [91].
Nguyễn Lung (1995) nhận thấy, tình trạng bệnh lý của thủy thủ Việt
Nam gồm 2 đặc trưng của bệnh vùng nhiệt đới và nghề đi biển. Các bệnh lý
chiếm tỷ lệ cao là nhiễm khuẩn răng miệng, bệnh đường hô hấp, đường tiêu
hóa, bệnh tim mạch, tăng huyết áp và bệnh rối loạn thần kinh chức năng [47].
Bùi Thị Hà (2002), Nguyễn Trường Sơn (2003) nhận định các yếu tố
môi trường tự nhiên và môi trường lao động, sinh hoạt trên tàu có ảnh hưởng
xấu đến hệ tim mạch [25], [65]. Các tác giả Dolmierski R., Nitka J. (1988)
còn thấy những căng thẳng về tâm sinh lý quá mức cũng có thể đưa đến tăng
huyết áp và rối loạn nhịp tim [89].
Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ tim mạch của thủy thủ thuộc công ty
vận tải xăng dầu, Bùi Thị Thúy Hải (2004) đã ghi nhận có 31,62% thủy thủ bị
tăng huyết áp, 61,53% thủy thủ có rối loạn điện tâm đồ (sau hải trình tỷ lệ này
tăng lên 66,98%). Các yếu tố nguy cơ tim mạch thường gặp của thủy thủ là
22
căng thẳng tâm sinh lý 100%, thói quen hút thuốc 62,39%, ít tập luyện thể
Do nhiều khó khăn nên các bữa ăn trên tàu có hành trình trên biển kéo
dài thường mất cân đối về dinh dưỡng, nhất là thiếu vitamin. Việc thiếu rau
trong các bữa ăn còn gây nên thiếu chất xơ. Do vậy, sẽ phát sinh các bệnh lý
do thiếu xơ, thiếu vitamin. Thực đơn trên tàu mất cân đối sẽ làm tăng thêm
nguy cơ phát sinh các bệnh về tim mạch, huyết áp.
* Bệnh hệ thống Cơ-Xương-Khớp
Tư thế lao động bắt buộc là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình
trạng rối loạn cơ xương. Những công việc có tần số thao tác cao, động tác lặp
đi lặp lại nhiều, kéo dài liên tục trong nhiều ngày tháng để lại hậu quả xấu cho
cơ thể. Các triệu chứng thường bắt đầu bằng viêm dây thần tiếp đến là viêm
cơ, viêm gân, viêm bao gân, thoái hóa cột sống.
Nghiên cứu của Lê Hồng Minh (2011), trong phỏng vấn các dấu hiệu
cơ năng sau lao động cho thấy các vị trí đau mỏi cơ xương thường gặp là gáy
(63,8%), nửa dưới của lưng (51,7%), bả vai (44,0%), một hoặc hai đầu gối
(32,9%) và cổ tay/bàn tay (24,0%) [49]. Lipscomb H. J. và cs. (2004) điều tra
215 lao động thấy tình trạng rối loạn cơ xương là 38,5%, chủ yếu là ở vùng
thắt lưng (17,7%), tiếp đến là ở cổ tay và vai (7%) [103].
* Bệnh hô hấp
Nghiên cứu của Lê Hồng Minh (2011) cho thấy bệnh hô hấp của thuyền
viên tàu đánh bắt cá xa bờ chiếm tỉ lệ 6,7%, trong đó tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm
nghề lái tàu là 6,5%, nhóm nghề thợ máy 10,4%, các nhóm nghề khác là 6,4%
[49]. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hải Hà (2014) cho thấy tỷ lệ nhiễm
bệnh đường hô hấp của thuyền viên trên tàu Viễn dương chiếm 32,83%.
Trong đó, tỷ lệ mắc bệnh của nhóm boong tàu là 31,16%, nhóm nghề máy tàu
là 34,67% và nhóm nghề phục vụ là 33,33% [28].
24
Có sự khác biệt giữa tỷ lệ bị các nhóm bệnh đường hô hấp của ngư dân