BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------------
TRIỆU VĂN DIỆP
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BIẾN DỊ DI TRUYỀN VỀ SINH TRƯỞNG
VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG CỦA BẠCH ĐÀN URO
(Eucalyptus urophylla S.T. Blake) TẠI VƯỜN GIỐNG THẾ HỆ 2
Chuyên ngành: LÂM HỌC
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Hà Huy Thịnh
HÀ NỘI, 2010
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng việt
1. Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn (2006), Cẩm nang ngành lâm nghiệp,
chương cải thiện giống và quản lý giống cây rừng ở Việt Nam.
2. Nguyễn Ngọc Bình (1996), Đất rừng lâm nghiệp. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
3. Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyền (2000), Giáo trình thực vật rừng, Nxb Nông
nghiệp, Hà Nội.
cây rừng ở nước ta trong những năm gần đây”. Tạp chí lâm nghiệp (số 3)
16. Nguyễn Xuân Liệu (2007), Xây dựng và quản lý rừng giống, Cục lâm nghiệp –
dự án giống lâm nghiệp Việt Nam – DANIDA
17. Nguyễn Luyện (1993), “Tìm hiểu về cây Bạch đàn Eucalyptus urophylla”, Tạp
chí lâm nghiệp (số 11).
18. Hồ Hải Ninh, Phí Hồng Hải, Hà Huy Thịnh (2009), “Biến dị di truyền về sinh
trưởng và chất lượng thân cây của Keo lá tràm trong hai khu khảo nghiệm
dòng vô tính ở Việt Nam”. Tạp chí NN&PTNT (số 12).
19. Nguyễn Hoàng Nghĩa (1993), “Nghịch lý Bạch đàn”, Tạp chí lâm nghiệp (số 11).
20. Nguyễn Hoàng Nghĩa (1997), Kết quả nghiên cứu khoa học về chọn giống cây
rừng. Báo cáo khoa học tập 2, Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, Hà nội.
21. Nghuyễn Hoàng Nghĩa (2000), “Nghịch lý giống cây rừng”. Tạp chí lâm nghiệp (số 3).
22. Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001), Nhân giống vô tính và trồng rừng dòng vô tính,
Nxb Nông nghiêp, Hà Nội.
23. Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001), Phương pháp nghiên cứu trong lâm nghiệp. Nxb
Nông nghiệp, Hà Nội.
24. Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001), Chọn giống bạch đàn Eucalyptus theo sinh
trưởng và kháng bệnh ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 112 p.
25. Lê Trung Ngọc (2003), So sánh hai phương pháp chọn cây trội cho Bạch đàn
Eucalyptus urophylla) tại lâm trường hữu lũng I, Lạng Sơn. Luận văn tốt
nghiệp ĐHLN, Hà Tây.
26. Huỳnh Đức Nhân (1993). “Kết quả khảo nghiệm loài Bạch đàn Eucalyptus
urophylla”. Tạp chí lâm nghiệp (số 10)
27. Cấn Thị Lan (2006), Nghiên cứu biến dị di truyền và đánh giá tăng thu di truyền
của vườn giống Keo lá tràm, Luận văn thạc sỹ trường ĐHLN, Hà Nội.
28. Nguyễn Dương Tài (1994), Nghiên cứu xuất xứ Bạch đàn (Eucalyptus
urophylla) trong vùng nguyên liệu giấy Trung Bắc Bộ Việt Nam. Luận án
PTS Khoa học nông nghiệp, trường ĐHLN, Hà Tây.
pulp production, Doctoral thesis No. 2009:53, Acta universitatis agriculturae
Sueciae.
39. JP Laclau, JP Bouillet, J Ranger (2000). Dynamics of biomass and nutrient
accumulation in a clonal plantation of Eucalyptus in Congo Forest Ecology
and Management, Volue 128, issue 3, 1 April 2000: p181 – 196.
40. Raymond, C.A. & L.R. Schimleck, (2002), Development of near infraed
reflectance analysis calibration for estimating genetic parameters for
cellulose content in Eucalyptus globulus. Can. J. For. Res. 32: 170 -176.
41. Shaowei Huang, Pulin He, BingQuang Chen, Kai Huang, Yuang Chen,
Shanwen Wang, Zhenshao Luo,and Yiling Zhou, (2002). Genetic gains in
growth of Eucalyptus urophylla from seed orchards in west GuangDong.
Guangzhou, China,( 6):p186-191.
42. Wei, X. and Borralho, N.M.G, (1997). Genetic control of wood basic density
and bark thickness and their relationship with growth traits of Eucalyptus
urophylla in South East China. Silvae genetica, (46): p245-249.
43. Wei, X. and Borralho, N.M.G. (1999), Breeding objectives and selection
criteria for pulp production of Eucalyptus urophylla plantations in South
East China. Forest Genetics, (6): p173-192.
44. Williams E. R & Matheson A.C, (1994), Experimental design and analysis for
use in tree improvement. CSIRO, Melbourne and ACIAR, Canberra. p174
45. Zobel, B., E. Capinhos and Y. Ikemori, (1983). Selecting and breeding for
desirable wood. TAPPI J. (66): p70 – 74
PHỤ LỤC
1
2
chọn lọc, lai giống, khảo nghiệm hậu thế, xây dựng vườn giống tiếp theo. Đây cũng
chính là các vườn giống hữu tính thế hệ 1 cho loài này đầu tiên ở Việt Nam.
Giai đoạn 2001- 2005, trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã đánh giá và
chọn lọc được nhiều gia đình và cá thể Bạch đàn urô ưu trội trong các vườn giống
tại Ba vì và Vạn Xuân. Trong quá trình nghiên cứu giai đoạn tiếp theo (2006-2010),
trung tâm đã xây dựng mới hệ thống vườn giống Bạch đàn urô thế hệ hai và hệ
thống các khảo nghiệm dòng vô tính của 80 –100 dòng chọn lọc từ các gia đình và
xuất xứ tốt nhất của Bạch đàn urô theo hướng sinh trưởng, chất lượng thân cây, tỷ
trọng gỗ, hàm lượng cellulose và một số tính chất cơ lý gỗ đã được đánh giá từ
vườn giống thế hệ 1 tại Ba Vì và Vạn Xuân.
Các vườn giống hữu tính thế hệ 2 được xây dựng từ những gia đình, cá thể
tốt nhất của vườn giống thế hệ 1 và một số gia đình được tuyển chọn. Các vườn
giống thế hệ 2 là cơ sở đánh giá khả năng biến dị di truyền của các gia đình, cá thể
chọn lọc trong vườn giống thế hệ 1, cùng với đó các vườn giống thế hệ 2 là cơ sở để
tuyển chọn các gia đình và cá thể Bạch đàn uro chất lượng cao phục vụ cho trồng
rừng ở nước ta, đồng thời là nguồn vật liệu quý phục vụ cho công tác nghiên cứu
cải thiện giống, lai tạo giống, nhân giống… Được xây dựng trên nhiều vùng lập địa
khác nhau Ba Vì (Hà Nội), Đông Hà (Quảng Trị), Nam Đàn (Nghệ An),…các vườn
giống thế hệ hai còn là cơ sở đánh giá tương tác di truyền –hoàn cảnh từ đó đề xuất
biện pháp sử dụng giống Bạch đàn uro hợp lý nhất cho các dạng lập địa trồng rừng.
Hiện nay các vườn giống Bạch đàn uro thế hệ 2 được xây dựng đã có sự
phân hóa giữa các gia đình và các cá thể. Những đánh giá bước đầu về khả năng di
truyền, biến dị của các gia đình trong các vườn giống thế hệ 2 là rất cần thiết. Từ đó
có biện pháp tác động kịp thời tới vườn giống và đề xuất cơ sở sử dụng nguồn giống
Bạch đàn uro có phẩm chất tốt, mức di truyền cao.
Trên cơ sở nối tiếp những nghiên cứu về cải thiện giống cây rừng cho loài
Bạch đàn uro, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm biến dị di truyền về sinh trưởng và một số chỉ tiêu
của một số loài cây chủ yếu, như Keo tai tượng, Keo lá tràm, Keo lá liềm, Keo quả
khía (A. Aulacocarpa) cho vùng thấp; các loài Keo chịu hạn như: A. Difficilis,
A.torulosa, A.tumida...cho vùng khô hạn; Keo đen (A. Mearnsii) cho vùng cao; Một
4
số xuất xứ của Bạch đàn camal, Bạch đàn uro, Bạch đàn têrê cho nhiều vùng trong
cả nước. Một số xuất xứ Thông caribaea cho nhiều vùng; Thông nhựa và Thông ba
lá cho Đà Lạt và miền Bắc. Chúng ta đã chọn cây trội và và xây dựng một số vườn
giống cho Thông nhựa, Thông ba lá, Thông đuôi ngựa...Ngoài ra gần đây chúng ta
đã chọn được một xuất xứ Tràm gỗ (Melaleuca leucadendra) có triển vọng cho
vùng phèn ở đồng bằng sông Cửu Long.[5]
Đáng chú ý đã có một số giống mới được chọn tạo, như dòng lai tự nhiên
BV5, BV10, BV16, BV32 và BV33 giữa loài Keo tai tượng và Keo lá tràm (Trung
tâm nghiên cứu giống cây rừng); Dòng Bạch đàn U6 nhập từ Trung Quốc; Các dòng
Bach đàn uro PN2, PN14 (Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy – Tổng công ty
giấy Việt Nam); Các dòng Phi Lao nhập từ Trung Quốc, như: 601 và 701 (Trung
tâm bảo vệ rừng số 2 – Thanh Hóa). Đây là những giống ưu việt, có năng suất cao
gấp 2-3 lần so với các giống sản xuất đại trà hiện có. [5]
Công tác giống của nước ta tuy chưa phải là dài, lại hoạt động trong thời kỳ
đất nước có chiến tranh cũng như nền kinh tế gắp nhiều khó khăn song cũng đạt
được một số thành tựu đáng ghi nhận đặc biệt trong những năm gần đây. Một mạng
lưới các trạm trại cung cấp giống cho các vùng lâm nghiệp trọng điểm trong cả
nước đã được xây dựng, các trung tâm sản xuất nghiên cứu giống đã cung cấp giống
với nhiều cây quan trọng như Keo, Thông, Bạch đàn, Bồ đề, Tếch, Mỡ...và một số
loài cây bản địa khác. Chúng ta đã chuyển hóa được một số rừng Kinh tế thành rừng
giống cho các loài Keo ở Quảng Bình, Đồng Nai, Thông nhựa, Thông ba lá ở Lâm
Đồng, Quảng Ninh Nghệ An...; Cây Mỡ ở xí nghiệp giống 97 và trung tâm lâm sinh
Cầu Hai. Và gần đây là Thông đuôi ngựa ở xí nghiệp cổ phần giống Đông Bắc. [6]
Trung tâm nghiên cứu Giống cây rừng (Viện khoa học lâm nghiệp Việt
Bạch đàn urô là cây gỗ lớn, nơi nguyên sản Bạch đàn urô có thể cao 25 – 45
m, đôi khi có thể đạt trên 55 m, đường kính có thể đạt 1 – 2 m (Turnbull & Brooker,
1978; Jacobs 1981).
Trong hàng trăm loài bạch đàn đã được khảo nghiệm ở nhiều nước, song chỉ
có ít loài và xuất xứ được chọn để trồng rừng trên diện tích rộng (Davdson, 1998).
Bạch đàn urô có khả năng thích nghi với các lập địa khác nhau và đang được sử
dụng để gây trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới.
6
Hệ số di truyền về tính trạng sinh trưởng: Nói chung tính trạng sinh trưởng
của cây rừng có hệ số di truyền từ thấp tới trung bình (Cornelius, 1994). Hệ số di
truyền theo nghĩa hẹp về sinh trưởng của Bạch đàn uro thấp khoảng 0,2 – 0,49 với
độ tuổi 3 - 5 tuổi (Wei Borralho, 1998) trong khi đó hệ số di truyền về tỷ trọng gỗ
cao hơn h2 = 0.71 với tuổi 6 (Wei Borralho, 1997). [42]
Bên cạnh đó ngoài sinh trưởng và tỷ trọng gỗ thì hệ số di truyền của
Cellulose và hiệu suất bột giấy đã được nghiên cứu và xác định ở một số loài Bạch
đàn như E. globulus và E. nittens. Một số nghiên cứu cho kết quả về hệ số di truyền
của cả hai tính trạng Cellulose và hiệu suất bột giấy là như nhau (Raymond et al.,
2001; Raymond Schimleck, 2002) [40]. Tuy nhiên với nghiên cứu khác đã tìm
thấy hệ số di truyền về Cellulose cao hơn hệ số di truyền về hiệu suất bột giấy, kết
quả nghiên cứu cho thấy hệ số di truyền về Cellulose là 0,63 trong khi hệ số di
truyền về hiệu suất bột giấy là 0,43 (Kube et al., 2001; Raymond et al., 2001;
Raymond Schimleck, 2002; Schimleck et al., 2004; Tibbits Hodge, 1998)
Nghiên cứu về hệ số di truyền và tương tác di truyền hoàn cảnh cho thấy hệ
số di truyền về tỷ trọng gỗ là không đáng kể hay nói các khác là hệ số di truyền về
tỷ trọng gỗ không có tương quan với lập địa (Greaves et al., 1997; Osorio et al.,
2003). [36]
Ở Brazil số liệu nghiên cứu cho thấy trong một số lô thí nghiệm 6 – 8 tuổi,
rừng trồng bạch đàn đã cho tăng trưởng 70 – 90 m3/ha/năm (Eldridge, 1993). Công
Ở Nam Phi từ năm 1983, một đơn vị trồng rừng của Công ty Mondi đã triển
khai một chương trình ứng dụng nhân giống hom bạch đàn vào trồng rừng nhằm
đáp ứng các nhu cầu ngày càng tăng về bột giấy. Các kết quả nghiên cứu đã được sử
dụng để tuyển chọn các dòng vô tính năng suất cao để nhân giống hàng loạt.
Chương trình đã được bắt đầu bằng việc chọn và nhân hom các cây trội được tuyển
chọn tại chỗ và từ các khảo nghiệm hậu thế, khảo nghiệm cây Bạch đàn lai của Viện
Nghiên cứu rừng Nam Phi, sau đó xây dựng các khảo nghiệm dòng vô tính nhằm
chọn được các dòng vô tính có triển vọng nhất. Kết quả đã được Quaile (1989)
thông báo trên cơ sở so sánh các rừng trồng 30 tháng tuổi. Trong khảo nghiệm thực
hiện với 30 dòng vô tính tuyển chọn tại chỗ, tăng trưởng bình quân về thể tích cây
con từ hạt (cây đối chứng) là 19,4 m3/ha/năm, trong khi đó có 14 dòng vô tính vượt
trội đối chứng và tăng trưởng bình quân năm của dòng tốt nhất đạt khoảng 24,4
m3/ha/năm (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001). [24]
8
Trong một khảo nghiệm khác gồm 78 dòng vô tính được chọn lọc từ các
khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 của Viện Nghiên cứu rừng Nam Phi và các dòng vô
tính thế hệ 1 của vùng Mondi, cây con từ hạt (đối chứng) đạt tăng trưởng bình quân
năm là 21,9 m3/ha/năm trong khi đó có 50 dòng trong số 78 dòng vô tính của viện
vượt đối chứng, 9 dòng vô tính đạt trên 30 m3/ha/năm và 3 dòng vô tính tốt nhất đạt
tăng trưởng bình quân năm là 40 m3/ha/năm (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001).
Ở Trung Quốc vào thập niên những năm 1980 bắt đầu khảo nghiệm loài và
xuất bạch đàn urô ( E. urophylla). Dự án hợp tác nghiên cứu giữa trung tâm nghiên
cứu giống Bạch đàn (CERC) của Trung Quốc với Australian, trong 8 năm dự án đã
trồng được 1400 ha rừng trồng nghiên cứu Bạch đàn với 100 loài và trên 200 xuất
xứ trong đó có 10 ha vườn giống Bạch đàn urô ( E. urophylla) (Qi Shuxiong, 2002).
Đồng thời trên 20 loài bạch đàn được trồng nhiều nhất ở Trung Quốc trong đó bạch
đàn urô và bạch đàn lai giữa E. grandis x E. urophylla là thành công nhất ở Trung
Quốc (Zhang Ronggui, 2002).
như Bạch đàn caman, Bạch đàn têrê, Bạch đàn pellita và Bạch đàn grandis tạo ra
những giống lai có ưu thế lai vượt trội. [12]
Công tác chọn giống Bạch đàn urô (E. urophylla) đã được tiến hành từ
những năm 1975 ở Việt Nam những khảo nghiệm chính thức mới được thực hiện ở
Viện Lâm nghiệp (nay là Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam), Trung tâm nghiên
cứu cây có sợi (nay là Viện nghiên cứu nguyên liệu giấy Phù Ninh) và những năm
1980 mới thực hiện ở Miền Nam.
Trong công trình nghiên cứu chọn giống và nhân giống cho một số loài cây
trồng rừng ở Việt Nam (Lê Đình Khả và các cộng tác viên, 2001) đã kết luận rằng
Bạch đàn urô phát triển có triển vọng nhất trong khảo nghiệm tại Đông Hà hơn hẳn
bạch đàn E. cloeziana và E. pellita, Cũng theo các tác giả trên, các xuất xứ triển
vọng của Bạch đàn urô là Lembata Flores cho vùng Đông Hà. [12]
Giai đoạn từ 1980-1995, chủ yếu là khảo nghiệm loài và xuất xứ trên một số
vùng sinh thái trên cả nước. Khảo nghiệm xuất xứ Bạch đàn urô (E. urophylla) của
Nguyễn Dương Tài (1994) được đưa vào trồng thử nghiệm ở Quảng Nạp (Phú Thọ),
qua thử nghiệm chúng đã chứng tỏ sức sống cao và sinh trưởng khá nhanh. Xuất xứ
Ulubahu ở độ cao 150m tại đảo Wetar (gần đào Alor) có sinh trưởng tốt nhất. Sau
đó là xuất xứ ở Alor (có độ cao 800 – 1200m). Ở một số nơi khác không có sự tham
gia của xuất xứ này thì các xuất xứ Lewotobi Flores và Egon Flores là có sinh
10
trưởng lớn nhất [28]. Khảo nghiệm ở Đông Hà Quảng Trị cho thấy xuất xứ Lembata
sinh trưởng tốt nhất trong điều kiện canh tác chưa cao, sau 8,5 tuổi xuất xứ này có
chiều cao 13,2m với đường kính ngang ngực 11,4cm (Nguyễn Dương Tài, 1994; Lê
Đình Khả, 1996).
Giai đoạn từ 1996 – 2000, trong các năm 1996 - 1998 dự án FORTIP về cải
thiện giống cây rừng do Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (Viện KHLN) hợp
tác với Khoa Lâm nghiệp và sản phẩm rừng của CSIRO đã xây dựng được 2 vườn
giống hữu tính thế hệ 1 tại Ba Vì – Hà Nội (3ha với 144 gia đình thuộc 9 xuất xứ)
và chiều cao. Việc chọn cá thể theo các tiêu chuẩn chọn lọc cây trội và đánh giá
sinh trưởng qua khảo nghiệm hậu thế mới thực sự xác định được các cây ưu việt và
có khả năng di truyền cao (Hà Huy Thịnh và các ctv, 2006). Đây cũng là cơ sở để
xây dựng vườn giống thế hệ 2.
- Tỷ trọng gỗ và tương quan giữa sinh trưởng và tỷ trọng gỗ:
Sinh trưởng là chỉ tiêu quan trọng nhất trong chọn giống cây rừng. Các
chương trình chọn giống trên thế giới phần lớn đều lấy sinh trưởng làm chỉ tiêu
chính trong chọn giống. Còn tỷ trọng gỗ (là khối lượng riêng) là một tính trạng
được chú ý trong những năm gần đây. Tỷ trọng gỗ không chỉ liên quan đến khả
năng chịu lực và độ bền của gỗ mà còn có vai trò quan trọng trong việc tăng hiệu
suất bột giấy của các loài cây nguyên liệu giấy.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã thấy rằng trong một lâm
phần đồng tuổi thì sinh trưởng và tỷ trọng gỗ là hai tính trạng độc lập, không có
tương quan với nhau hoặc tương quan rất thấp (Zobel và Jackson, 1995, Lê Đình
Khả, Trần Quốc Minh, 1997, v.v.), trong một số trường hợp thậm chí là tương quan
âm (Lacaze và Polge, 1970, Yachuk và Kis, 1992).
Tỷ trọng gỗ là tính trạng hết sức quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến tiềm
năng bột giấy cũng như tính chất cơ lý gỗ (Raymond, 2001). Theo Zobel (1984) thì
ở Pinus taeda biến dị về tỷ trọng gỗ giữa các lập địa chỉ chiếm 5%, giữa các xuất xứ
là 15% và biến dị trong một cây cũng chỉ là 10%, trong khi đó biến dị về tỷ trọng
giữa các cây trong một quần thể là 70%. Vì vậy, chọn lọc cây trội vừa có sinh
trưởng nhanh và có tỷ trọng gỗ cao sẽ đem lại lợi ích rất lớn.
12
Xác định tỷ trọng gỗ của Bạch đàn uro tại cả hai vườn giống cho thấy mặc
dù vườn giống Vạn Xuân trồng trước vườn giống Ba Vì một năm, song tỷ trọng gỗ
ở cả hai vườn về cơ bàn là như nhau (tỷ trọng gỗ trung bình của vườn giống Vạn
Xuân là 517 kg/m3 thì trung bình của vườn giống Ba Vì là 514 kg/m3). Song biến dị
về tỷ trọng giữa các cây trong từng vườn giống lại rất lớn (từ 390 đến 630 kg/m3).
chọn lọc kết hợp 2 tính trạng này được thực hiện theo phương pháp chọn trước sau,
nghĩa là sau khi có nghiên cứu cơ bản về tỷ trọng gỗ thì chỉ xác định tỷ trọng gỗ cho
những cây giống có sinh tưởng nhanh nhất, từ đó loại bỏ những cây có tỷ trọng quá
thấp và giữ lại những cây có tỷ trọng gỗ từ trung bình trở lên. Những cây có tỷ
trọng gỗ cao mà sinh trưởng trung bình cũng được xem là đối tượng được giữ lại
làm cây giống, vì thế kết quả bao gồm cả những gia đình sinh trưởng nhanh tỷ trọng
gỗ cao hoặc trung bình lẫn những cây có sinh trưởng trung bình mà tỷ trọng gỗ cao
(Hà Huy Thịnh và các ctv, 2006).
Tuỳ yêu cầu chọn giống để làm gỗ xẻ, gỗ làm giấy hay gỗ nguyên liệu mà
xác định tính trạng chính trong chọn giống, song bao giờ sinh trưởng nhanh cũng là
một chỉ tiêu quan trọng.
Việc chọn cây cá thể đáp ứng các yêu cầu chất lượng thân cây cao như
có độ thẳng thân cây cao và cành nhỏ từ những gia đình nói trên là một bước
đi quan trọng trong chọn giống. Đương nhiên đây mới là những cây được
chọn theo các tính trạng kiểu hình (phenotype) nên việc khảo nghiệm và chọn
lọc sẽ cho phép tạo ra những dòng vô tính hết sức có giá trị.
- Hệ số di truyền và tương tác Di truyền - Hoàn cảnh:
Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp được tính toán cho các tính trạng đường kính,
chiều cao, thể tích, tỷ trọng gỗ, độ dày vỏ, độ thẳng thân và độ nhỏ cành trên hai lập
địa tại Ba Vì, Vạn Xuân và chung cho cả hai lập địa.
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy các tính trạng sinh trưởng, độ dày vỏ có hệ
số di truyền đạt mức trung bình đến khá cao (0,22 - 0,38), Các tính trạng chất lượng
thân cây là độ thẳng thân, độ nhỏ cành có hệ số di truyền tương đối thấp (0,13 0,18). Tỷ trọng gỗ có hệ số di truyền cao (0,52 - 0,57), Các kết quả nghiên cứu trên
hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu cho Bạch đàn uro trên thế giới (Mori et
14
al,, 1990; Kurinobu et al,, 1996; Nirsatmanto et al,, 1996; Wei and Borralho, 1998;
Arnold and Cuevas, 2003; Xu et al, 2003), Hệ số di truyền cao của tỷ trọng gỗ cho
dòng bạch đàn lai mới. Qua khảo nghiệm đã chọn lọc được 27 cây trội thuộc 8 tổ
hợp lai (Nguyễn Việt Cường, 2009).
- Tình hình sâu bệnh
Nghiên cứu sâu bệnh về Bạch đàn urô tại nhiều vùng sinh thái khác nhau và
phát hiện rằng bạch đàn urô có hai loại tổn hại là bệnh rụng lá và bệnh tàn lụi chồi
cây và cành non, nguyên nhân chính là do hai loại nấm Cryptosporiopsis eucalypti
và Cylindrocladium, nó xuất hiện ở vùng Đông Nam Bộ, các tỉnh miền Trung khi
mùa mưa kéo dài và độ ẩm cao (Old et al., 2002; Phạm Quang Thu et al., 2000).
16
Chương 2.
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định mức độ biến dị và khả năng di truyền về sinh trưởng, một số chỉ
tiêu chất lượng và tỷ trọng gỗ của Bạch đàn uro tại vườn giống thế hệ 2.
- Tuyển chọn được một số cá thể và gia đình Bạch đàn uro có năng suất và
chất lượng cao.
- Xác định mối quan hệ tương tác di truyền - hoàn cảnh ở Bạch đàn uro làm
cơ sở cho các bước cải thiện giống tiếp theo.
2.2. Nội dung nghiên cứu
2.2.1. Đánh giá mức độ biến dị về sinh trưởng, một số chỉ tiêu chất lượng và
tỷ trọng gỗ của các gia đình Bạch đàn uro thế hệ 2 tại hai vườn giống Ba Vì (Hà
Nội) và Đông Hà (Quảng Trị).
2.2.2. Xác định hệ số di truyền, ước lượng tăng thu di truyền lý thuyết và
tương quan về kiểu gen và kiểu hình của một số chỉ tiêu nghiên cứu.
2.2.3. Đánh giá mối quan hệ tương tác di truyền - hoàn cảnh của các gia đình
Bạch đàn uro tại 2 vườn giống.
2.2.4. Đánh giá giá trị chọn giống của các cây trội Bạch đàn uro chọn lọc
trong vườn giống thế hệ 1.
- Đường kính tại vị trí 1,3m (D1.3): được đo bằng thước kẹp kính tại vị trí
1,3m từ mặt đất (đơn vị cm).
- Chiều cao dưới cành (Hdc): đo bằng thước đo cao (đơn vị m)
(2) Điều tra các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thân cây:
- Độ thẳng thân (Đtt): Được xác định bằng mục trắc và cho điểm theo 5 cấp
từ 1-5 điểm.
+ Thân cây rất cong
1 điểm
18
+ Thân cây cong
2 điểm
+ Thân cây tương đối thẳng
3 điểm
+ Thân cây thẳng
4 điểm
+ Thân cây rất thẳng
5 điểm
- Độ nhỏ cành (Đnc): Được xác định bằng phương pháp mục trắc và cho
điểm theo 5 cấp từ 1-5 điểm.
+ Cây có nhiều ngọn cùng phát triển, tán dạng hình elip phát triển
theo chiều rộng (ngang)
2 điểm
+ Có ngọn chính phát triển, ngọn phát triển lệch, tán lệch hay tán dạng
hình tròn
+ Có ngọn chính phát triển, tán hình tháp tù
3 điểm
4 điểm
+ Có một ngọn chính phát triển mạnh, tán có dạng hình tháp nhọn cân
đối (phát triển chiều cao)
5 điểm