Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và kỹ thuật gây trồng loài cây mạy bói (bambusa burmanica gamble) tại tỉnh sơn la - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------------

ĐINH CÔNG TRÌNH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI VÀ KỸ THUẬT GÂY
TRỒNG LOÀI CÂY MẠY BÓI (Bambusa burmanica Gamble)
TẠI TỈNH SƠN LA

Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. PHẠM ĐỨC TUẤN

Hà Nội, 2010


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ trước tới nay và trong tương lai tài nguyên tre trúc phong phú của
nước ta vẫn đóng một vai trò hết sức quan trong trong việc phát triển kinh tế
xã hội. Tây Bắc là vùng bị chia cắt bởi các dông núi cao và chịu ảnh hưởng
nhiều của khí hậu khắc nhiệt (gió nóng Tây - Nam). Người dân sinh sống

vùng Sơn La thì công tác nhân giống và kỹ thuật gây trồng phải được hướng
dẫn cụ thể cho người dân. Do vậy để làm cơ sở cho việc gây trồng và nhân
rộng cây tre bản địa lấy măng tại địa phương thì đề tài "Nghiên cứu đặc điểm
sinh thái và kỹ thuật gây trồng loài cây Mạy bói (Bambusa burmanica
Gamble) tại Sơn La" trở nên thiết thực đối với Sơn La.


3

Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Nghiên cứu nước ngoài
Tre trúc là nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm vị trí quan trọng trong tài
nguyên rừng của nhiều nước trên thế giới. Các nước có phân bố tre trúc người
dân đã biết sử dụng tre trúc từ lâu đời để tạo ra hàng trăm loại sản phẩm thiết
thực phục vụ cho đời sống hàng ngày. Nhiều loài tre trúc là nguồn nguyên
liệu quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ, công nghiệp chế biến nông lâm
sản, công nghiệp giấy sợi, giao thông vận tải… Một số loài tre trúc cho măng
ăn ngon đã trở thành đối tượng cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị. Tất cả
các sản phẩm tre trúc không còn bó hẹp trong phạm vi biên giới của một quốc
gia mà đã xuất hiện trên thị trường quốc tế và được nhiều nước Châu Âu,
Châu Mỹ ưa chuộng. Chính vì tầm quan trọng của tài nguyên tre trúc nên
nhiều nước trên thế giới (Các nước có tre trúc và các nước sử dụng nhiều tre
trúc) đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về tre trúc.
Nghiên cứu về tre trúc đã bắt đầu rất sớm từ thập niên 60 của thế kỷ 19
điển hình như: Munno (1868) có công trình " Nghiên cứu về tre trúc" được
coi là nghiên cứu về tre trúc đầu tiên, trong đó đã khái quát được một cách
tổng quan về họ phụ tre trúc, Gambe (1896) trong công trình "Các loài tre
trúc" đã đề cập tương đối chi tiết về phân bố, hình thái và một số đặc điểm
sinh thái của 151 loài tre có ở các nước Ấn Độ, Pakistan, Myanmar, Malayxia

Tre trúc là nguồn nguyên vật liệu quan trọng đứng thứ 2 sau gỗ có vị trí
và vai trò to lớn trong đời sống xã hội và là nguồn nguyên vật liệu cho xây
dựng, kiến trúc và là nguồn nguyên liệu cung cấp cho nhiều ngành công
nghiệp: như công nghiệp giấy sợi, công nghiệp sản xuất ván nhân tạo, sản
xuất than… Mặt khác Tre trúc là nguyên liệu tạo ra hàng trăm mặt hàng xuất
khẩu có giá trị. Chính vì vậy ngay từ những năm 60 của thế kỷ 20 tài nguyên
tre trúc của nước ta đã được quan tâm nghiên cứu, cụ thể là các nghiên cứu về
phân loại tre trúc của Ban thực vật chí đã điều tra và phân loại phân họ tre
trong lưu vực sông Lô, sông Gấm, sông Chẩy kết quả phân loại được 33 loài


6

thuộc 6 chi 2 thứ. Trong các năm tiếp theo nhiều tác giả đã nghiên cứu bổ
sung về thành phần loài, đặc điểm sinh thái hình thái. Lê Viết Lâm và cộng sự
(2005) với đề tài "Điều tra bổ sung thành phần loài, phân bố và một số đặc
điểm sinh thái các loài tre chủ yếu ở Việt Nam" kết quả đã liệt kê được thành
phần loài tre trúc ở Việt Nam, giới thiệu 40 loài tre trúc thông dụng gồm:
Phân bố, đặc điểm hình thái, sinh thái và công dụng làm cơ sở tham khảo cho
nghiên cứu và sản xuất. Theo nghiên cứu mới nhất của Nguyễn Hoàng Nghĩa
(2005) trong cuốn "Tre trúc Việt Nam" đã thống kê, phân loại định danh và
mô tả được 216 loài tre trúc tại Việt Nam.
Song song với các nghiên cứu về phân loại, các công trình nghiên cứu về
ảnh hưởng của các tác động kỹ thuật đến năng suất và chất lượng măng cũng
được tiến hành như: Nguyễn Ngọc Bình (1964) với công trình "Bước đầu
nghiên cứu đặc điểm đất trồng Luồng" và (2001) với "Đặc điểm đất trồng
rừng Tre luồng và ảnh hưởng của các phương thức trồng tre luồng đến đất"
cho biết: Luồng sinh trưởng tốt ở nơi đất chua pH (H2O) từ 4,8 - 5,9, pH(KCl)
từ 4,2 - 5,0. Ở tầng đất mặt hàm lượng mùn và N tổng số có tương quan rất
chặt, hàm lượng K2O dễ tiêu trong đất có tương quan tương đối chặt còn hàm

thức cho thấy: Cường độ khai thác 25% và 50% số cây trong lâm phần có ảnh
hưởng lớn đến sinh trưởng chiều cao và đường kính cây măng. Triệu Văn
Hùng, Nguyễn Xuân Quát, Hoàng Chương (2002) trong" Kỹ thuật trồng một
số loài cây đặc sản rừng" đã giới thiệu kỹ thuật trồng loài Trúc sào và Vầu
đắng về điều kiện gây trồng, nguồn giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác
và chế biến. Đỗ Văn Bản và các cộng sự (2005) trong" trồng thử nghiệm thâm
canh các loài tre nhập nội lấy măng" đã tuyển chọn được 3 loài tre nhập nội
lấy măng là: Điềm trúc, Lục trúc và Tạp giao với 13,5 ha mô hình tại Phú Thọ
và Thanh Hoá đề tài đã đưa ra một số biện pháp kỹ thuật trồng thâm canh
như: Mật độ trồng, liều lượng bón phân, điều chỉnh cây mẹ đồng thời đã xây
dựng được bản hướng dẫn kỹ thuật trồng thâm canh, khai thác măng và một


8

số biện pháp sơ chế bảo quản măng. Kết quả đề tài cho thấy: Điềm trúc có
năng suất măng cao nhất, Lục trúc có năng suất măng thấp nhất, nên tập trung
phát triển Điềm trúc vì năng suất và chất lượng măng cao. Nhìn chung những
số liệu về nghiên cứu trồng tre ở nước ta còn ít, tản mạn mới chỉ tập trung ở
một số ít loài có thể gây trồng ở vùng trung tâm. Những loài có giá trị cao
như: Mạy lay, Mạy bói, Mạy hốc… có phân bố tại vùng cao Tây Bắc (Sơn
La) lại chưa được nghiên cứu. Mặc dù vậy các nghiên cứu đã đưa ra một số
nguyên lý cơ bản cho gây trồng và phát triển rừng tre trúc trong đó có các yếu
tố về đất trồng, kỹ thuật nhân giống, kỹ thuật trồng, biện pháp bón phân, điều
chỉnh mật độ, phương thức trồng. Tre trúc nội địa lấy măng ít được nghiên
cứu chỉ tập trung vào một số tre trúc nhập nội được khảo nghiệm tương tối kỹ,
có nhiều mô hình thực nghiệm. Phần nhiều nghiên cứu đã đề cập đến các biện
pháp tăng năng suất: Điều chỉnh mật độ làm đất, bón phân, giữ ẩm, chăm sóc,
khai thác với kỹ thuật tương đối hoàn chỉnh. Những kết quả nghiên cứu trên
sẽ được chọn lọc kế thừa và phát triển để áp dụng cho đối tượng nghiên cứu

2.3.4 Đề xuất hướng dẫn kỹ thuật gây trồng thâm canh đối với loài
Mạy bói tại Sơn La


10

2.4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng quát của đề tài là phương pháp sinh thái thực nghiệm
tuân theo logic trật tự là thông qua điều tra khảo sát phát hiện những vấn đề
cần nghiên cứu từ đó thiết lập các ô thí nghiệm ngoài thực địa, tổng hợp các
kết quả nghiên cứu, xây dựng mô hình thực nghiệm và đề xuất hướng dẫn kỹ
thuật.
Các bước tiến hành được sơ đồ hoá như sau:
Đánh giá thực trạng về phân bố, sinh trưởng, gây trồng và
sử dụng.

Nghiên cứu về nhân giống.
Về nhu cầu ánh sáng,
lượng nước trong giai đoạn
vườn ươm

Xây dựng mô hình khảo
nghiệm ảnh hưởng của một
số biện pháp kỹ thuật tới
sinh trưởng và phát triển
của cây Mạy bói

Tổng kết đánh giá và đề xuất hướng dẫn kỹ thuật trồng thâm
canh cho loài tre Mạy bói lấy măng tại Sơn la.



số cây

số

năm

/khóm măng TT

trồng

Tuổi 1

Thời

Tuổi >2 trở lên

gian
khai

D05
(cm)

Hvn (m) TT

D05

Hvn

(cm) (m)

công cụ:
Phỏng vấn định hướng và bán định hướng.
Trên toàn tỉnh lựa chọn 5 huyện, Quận để điều tra phỏng vấn. Sử dụng 400
phiếu phỏng vấn ( mỗi huyện 80 phiếu) cụ thể:
+ Thị trấn Ít Ong, xã Mường Bú - huyện Mường La.
+ Thị trấn Phù Yên, Thị tứ Gia Phù - huyện Phù Yên.
+ Thị trấn Hát Lót, xã Chiềng Mung, xã Cò Nòi, xã Chiềng Mai, xã
Chiềng Ban - huyện Mai Sơn
+ Thị trấn Mộc Châu, thị trấn Nông trường - huyện Mộc Châu
+ Phường Chiềng sinh, Phường Quyết thắng, xã Hua La, xã Chiềng Ngần
– thành phố Sơn La.
Mẫu biểu phỏng vấn được lập sẵn với nhiều câu hỏi mở.
(Chi tiết xem phần phụ biểu)
2.4.1.4. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái trong giai đoạn vườn
ươm
* Bố trí 5 công thức thí nghiệm với 3 lần lặp để xác định cường độ che
sáng trong vườn ươm.
- Công thức 1: Không che sáng.
- Công thức 2: Che sáng 25%.
- Công thức 3: Che sáng 50%.
- Công thức 4: Che sáng 75%.


13

- Công thức 5: Che sáng 100%.
Thu thập số liêu:
- Số đốt ra nhánh, Số nhánh ra lá, số lá trên nhánh
- Số chồi măng sinh ra từ đùi gà.
- Sinh trưởng: Tốt, Trung bình, Xấu.

2.4.1.5. Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh tre
bản địa bằng phương pháp kế thừa có chọn lọc các quy trình quy phạm
hướng dẫn kỹ thuật trong các tài liệu như: Hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm
sóc khai thác tre Điềm trúc, Lục trúc, Tạp giao lấy măng theo đề tài “ Trồng
thử nghiệm thâm canh các tre nhập nội lấy măng”. Quy phạm các giải pháp
kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa (QP 14- 92 của Bộ
lâm nghiệp). Quy trình tạm thời về khai thác tre nứa (QĐ số 54 – LN/QĐ
ngày 20/01/1967). Quy phạm về trồng và khai thác Luồng số 04 TCN 212000 của Bộ NN&PTNT. Quy phạm kỹ thuật trồng chăm sóc và khai thác
măng tre Điềm trúc (QP 04 TCN 69 -2004 của Bộ NN&PTNT… kết hợp với
kiến thức bản địa và chuyên gia tư vấn.
- Nghiên cứu về nhân giống (Giâm hom)
+ Bố trí 4 công thức thí nghiêm để nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ
thuốc kích thích sinh trưởng IBA tới khả năng ra rễ của cây mạy bói.
- Công thức 1: Nồng độ 0.5 %
- Công thức 2: Nồng độ 1 %
- Công thức 3: Nồng độ 1.5 %
- Công thức 4: Đối chứng không dùng thuốc
+ Bố trí 3 công thức thí nghiêm để nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ
thuốc kích thích sinh trưởng NAA tới khả năng ra rễ của cây mạy bói.
- Công thức 1: Nồng độ 0,5 %
- Công thức 2: Nồng độ 1 %
- Công thức 3: Nồng độ 1,5 %


15

Số liệu thu thập:
- Số hom ra rễ, số rễ /hom, chiều dài trung bình rễ
- Các biện pháp kỹ thuật trong thâm canh.
+ Nghiên cứu về ảnh hưởng của biện pháp làm đất cục bộ (kích thước hố

+ Nng sut mng (s lng mng, trng lng mng)
+ Khong thi gian ra mng hng nm,
2.4.2. Ni nghip
S lý s liu bng thng kờ toỏn hc trong lõm nghip vi s tr giỳp
ca phn mn mỏy tớnh ng dng.
Giỏ tr bỡnh quõn gia quyn.
=
Trong ú:

(1.1)

l giỏ tr bỡnh quõn gia quyn
x1 giỏ tr o th 1.
x2 giỏ tr o th 2.
xn giỏ tr o th n.
n tng s ln o.

Để xem xét ảnh h-ởng của các nhân tố nghiên cứu đến sinh trng v
khả năng sinh măng ca loi tre bn a ti Sn La đề tài sử dụng ph-ơng
pháp phân tích ph-ơng sai một nhân tố để so sánh sự sai khác giữa các công
thức thí nghiệm. Công cụ để xử lý số liệu là phần mềm SPSS chạy trên
Windows. Các kết quả nghiên cứu đ-ợc giải thích nh- sau:


17

Bảng 1 - Phân tích ph-ơng sai 1 nhân tố

Tổng biến


n-1

Sx2

Nguồn biến động

F

Sig

Sa2
S N2

Ng-ời ta giả thiết rằng các đại l-ợng quan sát tuân theo luật chuẩn và
các ph-ơng sai bằng nhau. Để phân tích ph-ơng sai của các thí nghiệm cần
tính toán:
Biến động toàn bộ:
a

ni

VT ( X ij X )2

(1.2)

i 1 j 1

Công thức (4.1) trên có thể viết:
a


ni

a

Vn VT Va X ij2 ni .X i2
i 1 j 1

(1.6)

i 1

Trong đó:
VA: Biến động do nhân tố A gây nên
VN: Biến động ngẫu nhiên
VT: Biến động chung


18

Xij: Đại l-ợng quan sát
n: Dung l-ợng mẫu
Đặt giả thuyết HA là giả thuyết về sự bằng nhau của các trung bình tổng
thể của các nhân tố A. Cũng có nghĩa là các trung bình mẫu X 1, X2,...Xn là
thuần nhất. Nói cách khác HA là giả thuyết nhân tố A có ảnh h-ởng đồng đều
đến kết quả thí nghiệm. Nếu các trị số quan sát tuân theo luật chuẩn với các
ph-ơng sai bằng nhau thì giả thuyết HA đ-ợc kiểm tra bằng tiêu chuẩn F với
k1=a-1 và k2 = n-a bậc tự do.
Trong tr-ờng hợp FA > F05 thì giả thuyết HA bị bác bỏ, nghĩa là nhân tố
A đã tác động khác nhau lên kết quả thí nghiệm, hay các số trung bình mẫu là
không thuần nhất.

tỉnh.


20

3.1.2. Đặc điểm tự nhiên
3.1.2.1. Địa hình địa thế
Địa hình của tỉnh chia cắt phức tạp, núi đá cao xen lẫn đồi, thung lũng.
lòng chảo, bồn địa và cao nguyên. Độ cao tuyệt đối trung bình từ 600 – 1 000
m với 3 hệ thống núi chính chạy song song theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.
Độ dốc bình quân trên 250.
Do đặc điểm kiến tạo địa chất với các đứt gãy điển hình như đứt gãy
sông Đà, Nậm Pìa đã tạo cho Sơn La nhiều dạng địa hình: Vùng núi, có địa
thế hiểm trở, nhiều đỉnh núi cao xen kẽ các hẻm sâu, mức độ chia cắt sâu và
mạnh.
Vùng giữa sông Đà và sông Mã hình thành nên 2 cao nguyên lớn là cao
nguyên Mộc Châu độ cao từ 800 – 1 000m, diện tích khoảng 2 vạn ha và cao
nguyên Sơn La - Nà Sản nằm ở dộ cao 600 - 800m, diện tích khoảng 1,5 vạn
ha. Địa hình tương đối rộng và bằng phẳng, đất đai tốt, có ưu thế để hình
thành vùng sản xuất nguyên liệu lớn, quy mô tập trung theo hướng hàng hoá
với cơ cấu đa dạng gồm phát triển các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn
nuôi và phát triển rừng nguyên liệu.
Nằm xen kẽ giữa các cao nguyên là vùng lòng chảo, thung lũng với
những cánh đồng lúa nước lớn, vừa và nhỏ có quy mô từ 300 - 1000 ha do
phù sa các con sông, suối bồi đắp tạo thành.
3.1.2.2. Khí hậu
Sơn La chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi, hàng
năm có 2 mùa rõ rệt. Mùa đông lạnh và khô, từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau,
mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 9.
- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm là 200C - 220C, tối cao trung

2 800 km2. Sông suối Sơn La có độ dốc lớn, trắc diện hẹp nên tiềm năng thuỷ
điện khá lớn ngoài khả năng phát triển rộng khắp thuỷ điện cực nhỏ, trên địa
bàn tỉnh đã quy hoạch 96 (đang thi công 41 công trình) điểm xây dựng được
thuỷ điện vừa và nhỏ với tổng công suất 3.400Mw, trong đó có 21 công trình


22

có công suất trên 1.000 kw, đặc biệt là công trình thuỷ điện Sơn La đã được
triển khai xây dựng với công suất 2.400 Mw. Ngoài ra Sơn La còn có khoảng
5.000 ha các hồ chứa nước (không kể hồ thuỷ điện Hoà Bình, Sơn La trên
sông Đà), chủ yếu là các công trình thuỷ lợi. Đây là nguồn nước quan trọng
cung cấp cho sản xuất và một phần cho sinh hoạt của dân cư trong mùa khô.
3.1.2.4. Thổ nhưỡng
Kết quả điều tra đánh gía đất lâm nghiệp tỉnh Sơn La cho thấy:
- Các nhóm đất chủ yếu là đất feralit đỏ vàng (F) và đất mùn Feralit trên
núi (H). Các nhóm đất này chiếm 89,7% diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh.
- Đất có độ dốc cao trên 25o chiếm 86%. Tuy nhiên có 2 cao nguyên
tương đối bằng phẳng và rộng lớn là cao nguyên Mộc Châu và Sơn La - Nà
Sản, là nơi phân bố các loại đất có độ phì cao, tầng đất dày như đất đỏ vàng
và đất nâu vàng trên đá vôi rất thích hợp để phát triển một nền nông, lâm
nghiệp hàng hoá có quy mô tập trung.
+ Độ dày tầng đất từ trung bình đến dày, đất có tầng dày trên 100 cm,
chiếm 33,5%, tầng dày 50-70cm, chiếm 36,1% và dưới 50 cm, chiếm 30,4%,
thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng.
+ Độ phì của đất mặc dù bị suy thoái do thảm thực vật bị tàn phá và tập
quán canh tác nương rẫy lạc hậu trước đây nhưng nhìn chung còn đạt mức
trung bình.
3.1.3. Hiện trạng tài nguyên rừng
Diện tích quy hoạch đất lâm nghiệp toàn tỉnh đến 01/01/2007 là


62.978,7 447.067,7

I. Diện tích có rừng

594.435,3

309.093,4

46.678,2 238.663,7

1. Rừng tự nhiên

563.890,3

298.827,8

46.633,2 218.429,3

1.1. Rừng gỗ lá rộng

469.145,9

236.404,7

43.812,2 188.929,0

- Rừng giàu

28.744,8


1.2. Rừng hỗn giao

51.174,8

15.722,4

1.3. Rừng tre nứa

19.172,8

19.172,8

1.4 Rừng núi đá

33.843,0

33.843,0

2. Rừng trồng

30.545,0

10.265,6

8.372,5

3.146,2

- RT chưa có trữ lượng


51.651,7

8.873,9

78.363,9

- Rừng phục hồi

- RT có trữ lượng

- Đất trống cây bụi (Ib)
- Đất trống cây rải rác (Ic)

16.274,6 156.588,6
2.821,0

32.631,4

45,0

20.234,4
5.226,3

45,0

15.008,4

16.300,5 208.404,0


ngành công nghiệp kéo theo sự phát triển của cơ sở hạ tầng và dịch vụ, phát
triển nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội khác.
- Tiềm năng đất đai lớn, đặc biệt đất lâm nghiệp nhìn chung còn màu
mỡ, độ ẩm cao, cơ bản còn giữ được đặc tính của đất rừng, khí hậu đa dạng
phù hợp với nhiều loài cây trồng có khả năng cho giá trị, năng xuất cao. Đặc



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status