ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá có khả năng cải tạo bảo vệ môi trường
sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân. Rừng vừa là đối tượng
lao động vừa là tư liệu sản xuất chủ yếu của nghành lâm nghiệp. Trên phạm vi
toàn thế giới, chỉ tính riêng trong vòng 4 thập niên trở lại đây, 50% diện tích
rừng đã bị biến mất do nhiều nguyên nhân khác nhau. Theo tính toán của các
chuyên gia của Tổ chức Nông - Lương thế giới (FAO) thì hàng năm có tới 11,5
triệu hecta rừng bị chặt phá và bị hoả hoạn thiêu trụi trên toàn cầu, trong khi
diện tích rừng trồng mới chỉ vẻn vẹn 1,5 triệu hecta. Rừng nguyên sinh bị tàn
phá, đất đai bị xói mòn dẫn tới tình trạng sa mạc hoá ngày càng gia tăng. Nhiều
loài động - thực vật, lâm sản quý bị biến mất trong danh mục các loài quý hiếm,
số còn lại đang phải đối mặt với nguy cơ dần dần bị tuyệt chủng. Nghiêm trọng
hơn, diện tích rừng thu hẹp trên quy mô lớn đã làm tổn thương "lá phổi" của tự
nhiên, khiến bầu khí quyển bị ô nhiễm nặng, mất cân bằng, ảnh hưởng xấu đến
sức khoẻ con người và đời sống động, thực vật.
Rừng là một hệ sinh thái mà quần xã cây rừng giữ vai trò chủ đạo trong
mối quan hệ tương tác giữa sinh vật với môi trường. Rừng là hơi thở của sự
sống, là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, nó giữ một vai trò rất quan trọng
trong quá trìnhphát triển và sinh tồn của loài người. Rừng điều hòa khí hậu (tạo
ra oxy, điều hòa nước, ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, …) bảo tồn đa
dạng sinh học, bảo vệ môi trường sống, Rừng còn giữ vai trò đặc biệt quan trọng
đối với việc phát triển kinh tế như: cung cấp nguồn gỗ, tre, nứa, đặc sản rừng,
các loại động, thực vật có giá trị trong nước và xuất khẩu,… ngoài ra nó còn
mang ý nghĩa quan trọng về cảnh quan thiênnhiên, kinh tế, chống lũ lụt, an ninh
quốc phòng…
Để đáp ứng được lượng cây trồng của các chương trình quốc gia, hộ gia
đình,… với số lượng rất nhiều nên chúng ta cần phải tạo ra nhiều nguồn giống
để đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường đại trà, tạo ra nguồn vật liệu sạch, có chất
lượng, nguồn giống được chọn có giá trị kinh tế cao. Bảo tồn, lưu giữ các nguồn
gen, các giống cây trồng quý hiếm, loài có giá trị kinh tế.
Trong số các loài cây đưa vào trồng ở nước ta bên cạnh cây nhập nội thì
hạt và từ hom cành. Hạt Giáng Hương in vitro có tỷ lệ sống cao nhất khi chúng
được xử lý ở nồng độ javel là 10% trong 15 phút. Nồng độ IBA = 2mg/l giúp
cây Giáng Hương in vitro ra rể nhanh và khỏe, rất thích hợp đem cây ra vườn
ươm [1].
Bà Hà Thị Mừng ở Trung Tâm nghiên cứu và sinh thái môi trường rừng,
Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam từ năm 2006 đến 2009. Bà đã tiến hành
nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý, sinh thái cây Giáng Hương, vật liệu nghiên
cứu là các cá thể, quần thể Giáng hương ở vườn quốc gia Yok Don - Đak Lak,
cá thể Giáng hương 1-2 năm tuổi trong vườn ươm tại Hà Nội Và Hòa Bình. Kết
quả cho thấy, Giáng hương phân bố ở những nơi có nhiệt độ trung bình năm
21,9 - 26,90C, nhiệt độ tối cao tuyệt đối 36 – 42,7 0C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối
1,7 – 150C, nhiệt độ tối cao trung bình tháng lớn nhất là 29,7 – 35,3 0C, nhiệt độ
tối thấp trung bình tháng lạnh nhất 10,4 – 20,90C, lượng mưa 1268,3 – 2172,1
mm/năm,trên đất có hàm lượng dinh dưỡng từ nghèo đến khá. Trong các lâm
phần nghiên cứu tại vườn quốc gia Yok Don, giá trị IVI của Giáng hương là 32,
đứng thứ 2 sau Cà chít, các quần thể ở đây có tính đa dạng sinh học cao, sử dụng
có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, và cung cấp đủ cây con cho quá trình
đào thải tự nhiên. Tỷ lệ che bóng thích hợp cho Giáng hương 6 tháng tuổi là
50%, 12 tháng tuổi là 25%, sau đó dỡ giàn che hoàn toàn. Lượng phân bón hợp
lý là 38,17 mgN/kg đất bầu + 76,3 mg P 2O5/kg đất bầu + 22,9 mg K2O/kg đất
bầu cho cây con Giáng hương giai đoạn 1 năm tuổi ở vườn ươm và 57,30
mgN/kg đất bầu + 114,5 mg P2O5/kg đất bầu + 45,8 mg K2O/kg đất bầu cho cây
con giai đoạn 2 năm tuổi ở vườn ươm.[7]
Thạc sĩ Lê Thị Kim Đào ở trung tâm ứng dụng KHKT Bình Định vào năm
2001 đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm nhân giống một số cây rừng bằng
3
phương pháp nuôi cấy mô (Bạch đàn, cây Hông, Cây Giổi xanh và cây Trầm
hương). Kết quả cho thấy trên các cây như sau:
khá cao, sau 3 tháng đạt hơn 79%, sau 5 tháng còn gần 74% và sau 14 tháng có
thể xuất vườn chỉ còn gần 46%. Bằng phương pháp ghép áp với vật liệu ghép là
chồi đầu cành thì sau 14 tháng tuổi cây ghép có tỷ lệ sống gần 46%.[11]
4
Theo thạc sĩ Vũ Thị Lan và phó giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Thêm trường
Đại học nông lâm Tp HCM Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của
độ tàn che và hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa
(kurz) Craib) 6 tháng tuổi trong giai đoạn vườn ươm và thu lại kết quả là: Trong
giai đoạn 6 tháng tuổi ở vườn ươm, Gõ đỏ cần độ tàn che từ 25 đến 50% so với
ánh sáng hoàn toàn. Khi gieo ươm Gõ đỏ trên đất xám phù sa cổ ở Đông Nam
Bộ, thì việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng của ruột bầu bằng cách bón lót phân
tổng hợp NPK (16-16-8) và phân chuồng hoai là cần thiết. Hàm lượng phân tổng
hợp NPK đảm bảo cho Gõ đỏ sống sót và sinh trưởng tốt trong 6 tháng đầu ở
vườn ươm là 5% đến 6%. Nếu bón lót phân chuồng hoai, thì hàm lượng tối ưu
cho sinh trưởng của Gõ đỏ là 42% dao động từ 32 đến 53%.[13]
Vào giai đoạn 2006 đến 2010 các ông Phùng Thế Dũng, Phùng Văn Khen
và Trần Văn Thành ở Phân Viện Nghiên cứu Khoa Học Lâm nghiệp Nam Bộ
Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu trồng một số loài cây bản địa có giá trị kinh
tế vùng khô hạn tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng,
có thể chọn 7 loài gồm Trôm hôi, Cóc hành, Sò đo, Me ngọt, Me keo, Vên vên,
Xoay, Gõ đỏ để trồng qua chọn từ 16 loài nghiên cứu và 10 loài đã trồng 2ha sau
2 năm thử nghiệm. Do hạt cây Trôm hôi và Cóc hành có dầu nên nhanh mất sức
nảy mầm, kết quả nghiên cứu cho thấy có thể bảo quản hạt và nhân giống vô
tính để đảm bảo vật liệu trồng rừng và có điều kiện cải thiện nguồn gen cây
trồng. Đã chọn 2 loại đất cát phổ biến của vùng khô hạn để nghiên cứu về kỹ
thuật trồng. Kết quả cho thấy cày đất và bón lót phân vi sinh và than đã nâng cao
tỷ lệ sống và sinh trưởng tốt của 3 loài là Trôm hôi, Cóc hành và Sò đo.[14]
nhựa đặc màu đỏ tươi chảy ra, cành con mỏng và có lông, cành già nhẵn. Lá kép
lông chim lẻ một lần, dài từ 15 đến 25cm, mang 9 đến 11 lá chét. Lá chét có
hình bầu dục thuôn, góc tròn, đầu có mũi nhọn cứng. Hoa có màu vàng cò có
mùi thơm, làm thành chùm ở nách lá, có cuống dài và nhiều lông màu nâu. Đầu
hình chuông cong ở gốc, có 5 răng ngắn, gần bằng nhau hay không bằng nhau.
Quả hình tròn dẹp, có mũi cong về hướng cuống, màu vàng nâu, giữa quả có 1
đến 2 hạt, xung quanh có cánh mỏng và có lông mịn nhung.[3]
2.1.3. Đặc điểm sinh học, sinh thái và phân bố
Mặc dù lượng quả sinh ra hàng năm lớn, nhưng loài tái sinh kém, do lửa
rừng. Tuy nhiên khả năng tái sinh bằng chồi rất mạnh. Cây con được tạo từ hạt
mang trồng sẽ phát triển nhanh trong giai đoạn rừng non. Cây tăng trưởng về
chiều cao mạnh nhất lúc 16 - 20 năm tuổi, sau đó giảm dần ở giai đoạn trung
niên, tăng trưỏng về đường kính cũng mạnh từ độ tuổi 20.[3]
Mọc ở độ cao dưới 700 - 800m, chủ yếu trong rừng rậm nhiệt đới nửa rụng
lá, ít khi thường xanh mưa mùa hay ở ranh giới với rừng rụng lá cây họ
Dầu (Diperocapaceae). Thường mọc hỗn giao với một số loài cây lá rộng khác
như Gõ đỏ (Afzelia xylocalpa), Muồng đen (Cassia siamea) Bằng
lăng (Lagerstromia sp), Bình linh (Vitex sp), Dầu trai (Dipterocarpus itricatus),
Cà doong (Shoea roxburghii), Chiêu liêu (Terminalia sp.).. Cây ưa đất thoát
6
nước, có thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, phong hóa từ các đá trầm
tích và macma axit, có khi cả trên đất đỏ bazan.[3]
Cây phân bố nhiều ở các tỉnh như: Kontum (Sa Thầy), Gia Lai (Chư Prông,
Mang Yang, An Khê), Đắc Lắc (Đắc Min, Ea Súp ), Phú Yên (Sơn Hòa, Sông
Bé Phước Long, Đức Phong), Đồng Nai (Tân Phú), Tây Ninh (Tân Biên ).[3]
2.1.4. Công dụng, thực trạng và bảo tồn
Gỗ đẹp, có mùi thơm, màu nâu hồng mịn, có vân đẹp do vòng năm khá rõ
ràng, mạch to, tỉ trọng 0,84-0,9.
- Các hoạt động tìm hiểu về tình hình gây trồng được thực hiện trên các địa
điểm có gây trồng loài Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus kurz) của huyện
Tri Tôn tỉnh An Giang.
- Các nghiên cứu về gieo ươm loài Giáng hương (Pterocarpus
macrocarpus kurz) được thực hiện tại hạt Kiểm lâm huyện Tri Tôn tỉnh An
Giang.
3.1.2.2. Giới hạn thời gian
Đề tài thực hiện trong 4 tháng. Từ tháng 10/2013 đến tháng 2/2014.
3.2. Mục tiêu nghiên cứu.
3.2.1. Mục tiêu chung.
Cung cấp các thông số kỹ thuật cho việc gieo ươm và gây trồng loài Giáng
hương (Pterocarpus macrocarpus kurz)
8
3.2.2. Mục tiêu cụ thể.
- Xác định được tình hình gây trồng loài Giáng hương (Pterocarpus
macrocarpus kurz) tại huyện Tri Tôn tỉnh An Giang.
- Xác định được kỹ thuật nhân giống, gieo ươm và chăm sóc cây con loài
Giáng hương ở giai đoạn vườn ươm.
3.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu.
3.3.1. Tìm hiểu tình hình cơ bản khu vực nghiên cứu
- Các đặc điểm về điều kiện tự nhiên: vị trí địa lí, diện tích, địa hình, đất
đai, thực bì, khí hậu, thủy văn.
- Kinh tế, xã hội.
- Hiện trạng trồng rừng tại Huyện Tri Tôn.
3.3.2 Thí nghiệm kỹ thuật tạo cây con Giáng hương bằng hạt.
- Xác định mùa thu hái, nhận biết quả chín, kỹ thuật thu hái, sơ chế, bảo
quản giống.
- Xác định độ thuần hạt giống
- Công thức 6: Ngâm hạt trong nước ấm k0C trong 12 giờ.
- Công thức 7: Ngâm hạt trong nước ấm k0C trong 18 giờ.
- Công thức 8: Ngâm hạt trong nước ấm k0C trong 24 giờ.
Các thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên 3 lần lặp với dung lượng mẫu trong
mỗi lần lặp tối thiểu là 30. Sơ đồ bố trí như sau:
CTTN
Đối
chứng
Công
Công
thức
thức 2
1
Công Công Công Công Công Công
thức 3 thức 4 thức 5 thức 6 thức 7 thức 8
Lần lặp
Lần lặp 1
30
mẫu
30
mẫu
30
mẫu
mẫu
30
mẫu
30
mẫu
30
mẫu
30
mẫu
30
mẫu
Lần lặp 3
30
mẫu
30
mẫu
30
mẫu
30
mẫu
10
+ Đối với hạt gống: đo đếm các chỉ tiêu hạt giống như độ thuần lô hạt, các
trong lượng 1000 hạt, trọng lượng 1 kg hạt…
+ Đối với các thí nghiệm phương pháp thu thập qua các chỉ tiêu tỷ lệ nảy
mầm, sinh trưởng về chiều cao và số lá theo các mốc thời gian. Các số liệu thu
được theo bảng sau:
Công thức
Đối
chứng
Số hạt
nảy mầm
Công Công Công Công Công Công Công Công
thức thức thức thức thức thức thức thức
1
2
3
4
5
6
7
8
Ngày 1
Ngày 2
Ngày 3
trong vùng biến đổi ngày càng xấu đi: thời gian khô hạn kéo dài, nguồn nước
ngầm cạn kiệt, đất đai bị bào mòn, thoái hóa nghiêm trọng (đá lộ đầu chiếm
60%trên tổng diện tích),... điều này đã làm cho đời sống người dân trong vùng
hết sức khó khăn: đất đai sản xuất dần thu hẹp, thiếu nước, thiếu gỗ (củi) trong
sinh hoạt hàng ngày, thiếu lương thực để ăn....
Huyện Tri Tôn có tọa độ địa lý là 10 0 33’ vĩ độ Bắc, 1050 08’ kinh độ
Đông, là một huyện miền núi, biên giới nằm ở phía Tây Nam tỉnh An Giang.
Cách trung tâm tỉnh lỵ 50km.
Phía Bắc giáp huyện Tịnh Biên và Vương quốc Campuchia;
Phía Nam giáp tỉnh Kiên Giang;
Phía Đông giáp huyện Châu Thành và Thoại Sơn;
12
Phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang;
Hình 4.1 Bảng đồ huyện Tri Tôn
Toàn huyện có 13 xã và hai thị trấn với 79 khóm, ấp.
Tổng diện tích tự nhiên là 60.039,74 ha. Trong đó, đất lâm nghiệp là
10.527,07 ha chiếm 18.0% tổng diện tích tự nhiên.
Là huyện vùng núi có đường biên giới dài 19 km giáp nước bạn
Campuchia, vừa có đồng bằng vừa có đồi núi với tổng diện tích tự nhiên là
60.039,74 ha, diện tích đất lâm nghiệp là10.527,07 ha, gồm đất lâm nghiệp đồi
núi 5.376 ha và đất lâm nghiệp đồng bằng là 4.402,09 ha, với tập quán sống
bằng nghề Nông – Lâm nghiệp, đồng bào dân tộc khơ mer khoảng 48.766
người (Chiếm 38,27 % dân số của huyện ) sống tập trung ở các xã có rừng.
b. Địa hình
Địa hình đặc trưng của huyện Tri Tôn là vùng đồng bằng nhưng có xen lẫn
nhiều đồi núi thấp với độ cao địa hình từ 0,4m đến 614m so với mặt nước biển,
mm, lượng mưa thấp nhất 960 mm.
- Độ ẩm không khí.
Độ ẩm không khí thay đổi theo mùa, mùa mưa độ ẩm lớn nhất 89% (vào
tháng 9 ) , độ ẩm bình quân ở mùa mưa 80% , độ ẩm thầp nhất là mùa khô
(tháng 2-tháng 3) khoảng 75% , độ ẩm trung bình mùa khô là 76%.
14
- Lượng nước bốc hơi bình quân: 1.312 mm, gây khô hạn kéo dài. Tháng
có lượng bốc hơi lớn nhất ( tháng 3, tháng 4 ) xấp xỉ hai lần tháng có lượng bốc
hơi nhỏ nhất vào tháng 9.
Lượng bốc hơi mùa mưa và mùa khô không chênh lệch nhiều. Đặc điểm
này đặt ra vấn đề khôi phục và bảo vệ rừng để che phủ đất, có tác dụng điều hòa
độ ẩm giữa 2 mùa.
- Chế độ gió.
Gió mùa Tây Nam từ tháng 4 đến tháng 10 mang nhiều hơi nước là hướng
gió chính của mùa mưa.
Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
Tốc độ gió bình quân 10,64 m/s .
- Thủy văn.
Chế độ thủy văn huyện Tri Tôn cũng mang một số đặc trưng chung của
tỉnh, phụ thuộc vào chế độ bán nhật triều biển Đông và chịu ảnh hưởng của các
yết tố dòng chảy sông Cửu Long, chế độ mưa, đặc điểm địa hình và hình thái
kênh rạch.
Một số kênh chính ở địa bàn huyện Tri Tôn là kênh Tám Ngàn, Vĩnh Tế,
Vĩnh Thành, Mặc Cần Dưng, Tri Tôn, Kênh 10, 11, 12, Tân Vọng, Châu Phú,
T4, T5, T6, kênh 15 mới, kênh Phú Tuyến, kênh Huệ Đức, kênh Cà Na, kênh
Mới, kênh Ninh Phước,….
4.1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội.
Tuyến, Lương An Trà, Tà Đảnh, Vĩnh Phước,Vĩnh Gia… năng suất bình quân
tăng từ 43,5 tạ/ha (năm 2000) lên 50,6 tạ/ha năm 2005, 57,1 tạ/ha năm 2010,
tổng sản lượng tăng từ 238.744 tấn năm 2000 lên 352.241 tấn năm 2005 và
480.450,2 tấn năm 2010 (sản lượng lương thực quy thóc đạt 480.739 tấn năm
2010).
+ Chăn nuôi: Việc phát triển chăn nuôi của huyện đang trong giai đoạn
chuyển dần sang hình thức nuôi trang trại theo hướng tập trung Hiện có 94 trang
trại, tổng vốn 22,8 tỷ đồng, thu hút 388 lao động tham gia.
Nhìn chung tình hình chăn nuôi của huyện trong những năm qua gặp nhiều
khó khăn do: dịch cúm gia cầm tái phát liên tục như lở mồm lông móng, tụ
huyết trùng…ảnh hưởng lớn đến việc phát triển chăn nuôi của huyện, nhưng Tri
Tôn luôn đóng góp cao trong nghành chăn nuôi của toàn tỉnh: gia cầm chiếm
khoảng 10%, heo chiếm 10%, trâu chiếm 8%, bò chiếm 29% cao nhất toàn tỉnh.
Do là huyện vùng núi nên Tri Tôn có rất nhiều thuận lợi để phát triển chăn nuôi.
+ Lâm nghiệp: Tổng diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Tri Tôn
năm 2010 là 7.960,97 ha. Trong đó, diện tích đất rừng sản xuất là 3.926,25 ha
chiếm 49,32%, diện tích rừng phòng hộ 3.834,72 ha chiếm 48,17% và diện tích
đất rừng đặc dụng là 200 ha chiếm 2,51%.
Nhìn chung diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện tăng trưởng ổn
định và sẽ duy trì ổn định trong giai đoạn tới. Chủ yếu là diện tích rừng sản xuất
tăng từ 1.752 ha vào năm 2000 lên 2.771,37 ha vào năm 2005 và đến năm 2010
16
đạt 3.926,25 ha. Diện tích đất rừng phòng hộ trên địa bàn huyễn bình ổn qua các
thời lỳ. Còn diện tích rừng đặc dụng thì đến năm 2010 mới được trồng với diện
tích là 200 ha.
+ Thủy Sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện không lớn và
phát triển cũng không ổn định: năm 2000 (28,85 ha – sản lượng 107,64 tấn),
năm 2005( 34,86 ha – sản lượng 583 tấn). Đến năm 2010 có 24,30 ha với 22
Năm 2010 có 418.968 lượt khách đến huyện Tri Tôn trong đó khách quốc
tế là 8.219 lượt vá khách nội địa là 410.749 lượt, tập trung nhiều ở khu di tích
17
như: Đồi Tức Dụp, nhà mồ Ba Chúc, hồ Soài So, căn cứ cách mạng Ô Tà Sóc,
hang Tuyên huấn…trong đó điểm du lịch Tức Dụp thu hút đông du khách nhất.
ngoài ra các hoạt động truyền thống của người dân tộc cũng góp phần cho việc
phát triển như lễ hội đua bò, tết Dolta, tết cholchnam thmay…
o Nghành dịch vụ vận tải.
Do đặc điểm là đồi núi nên dịch vụ vận tải của huyện phát triển khá yếu
kém cả về vận tải đường bộ và đường sông, với tổng số 546 phương tiện vận tải
bộ có năng lực vận tải 667,10 tấn và 19 phương tiện vận tải thủy, năng lực vận
tải trên 20,49 tấn. Năm 2010 các phương tiện vận tải đã vận chuyển được 687,59
tấn hàng hóa và trên 1.067,81 lượt hành khách.
o Hoạt dộng dịch vụ khác.
Các loại dịch vụ như bưu chính viễn thông, tài chính từng bước phát triển
đáp ứng nhu cầu về thông tin liên lạc, vốn cho nhu cầu phát triển sản xuất các tổ
chức kinh tế.
b. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập.
- Dân số: Năm 2010, dân số toàn huyện Tri Tôn là 132.625 người, mật độ
dân số trung bình 221 người/km2. Dân số thành thị có số lượng ít hơn với 30.955
người chiếm 23,34%, dân số nông thôn là 101.670 người chiếm 76,66%. Tổng
số hộ trên địa bàn huyện là 32.675 hộ, trong đó số hộ dân tộc Khmer là 11.020
hộ, chiếm 33,72%.
Về cơ cấu dân số, tỷ lệ cơ cấu nam – nữ hiện nay là 1:1,06 với nam là
65.787 người (49,60%) và nữ là 66.838 người (50,40%). Trong cộng đồng dân
tộc Khmer cũng có tỷ lệ cơ cấu nam – nữ là 1:1,09.
- Lao dộng việc làm và thu nhập:Theo số liệu báo cáo Quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế - xã hội huyện Tri Tôn đến năm 2010 thì tổng số người trong
Về nguồn lao động: tương đối dồi dào chiếm 53,4% dân số, trong đó tỉ lệ
nữ chiếm 50,77%. Tuy nhiên lực lượng lao động đa số chưa được đào tạo nghề,
trình độ học vấn còn hạn chế, chủ yếu là lao động nông nghiệp chiếm trên 70%.
4.1.1.3. Các nguồn tài nguyên.
a. Tài nguyên đất.
Tài nguyên đất trong huyện phân bố theo 2 khu vực địa hình.
Theo tài liệu chỉnh lý, bổ sung bản đồ đất tỉnh An Giang tỷ lệ 1:100.000,
huyện Tri Tôn có 4 nhóm đất chính với 18 loại đất khác nhau:
- Nhóm đất phù sa: Nhóm đất này được phân làm 2 loại là phù sa cổ đỏ
nâu có tầng rửa trôi và phù sa đang phát triển:
+
Phù sa cổ đỏ nâu có tầng rửa trôi có diện tích 9.299,00 ha, chiếm
15,49% diện tích toàn huyện, được phân bố ở Vĩnh Gia, Lạc Quới, Lương Phi,
Ba Chúc, Lê Trì, Ô Lâm, An Tức, Cô Tô, Núi Tô, Tri Tôn, Châu Lăng.
+
Phù sa đang phát triển có diện tích 8.785,00 ha, chiếm 14,63% diện
tích toàn huyện được phân bố ở Vĩnh Gia, Vĩnh Phước, Lạc Quới, An Tức, Núi
Tô, Lương Phi, Ba Chúc, Lê Trì, Châu Lăng, Tà Đảnh Và Tân Tuyến.
19
- Nhóm đất phèn: Có diện tích 33.455,00 ha, chiếm tỷ lệ 55,72% diện tích
tự nhiên của huyện, phân bố ở Lương An Trà, Vĩnh Phước, Lương Phi, An Tức,
Cô Tô, Tà Đảnh, Tân Tuyến, Núi Tô, Ô Lâm Và Thị Trấn Tri Tôn.
- Nhóm đất cát núi: với diện tích 7.946,00 ha chiếm 13,23% diện tích toàn
huyện, là loại đất có dinh dưỡng kém. Hiện các đồi núi đã được che phủ tương
đối kính với rừng trồng và cây lâu năm, góp phần hạn chế rửa trôi và tái tạo lại
các phần nước suối.
- Nhóm đất than bùn: Chỉ có một loại đất than bùn chứa phèn tiềm tàng
khoáng sản là than bùn ở Núi Tô, Vĩnh Gia, Cô Tô, Ba Chúc với trữ lượng dự
báo trên 15 triệu tấn, đá xây dựng với trữ lượng triển vọng 169 triệu m 3, sét gạch
ngói trên 400 ngàn m3.
- Ngoài ra, trên địa bàn thị trấn Tri Tôn còn có nước khoán có thể khai thác
sản lượng 7903/ngày, là nước khoáng silic thõa mãn 34 chỉ tiêu nước khoáng
thiên nhiên đóng chai có thể khai thác công nghiệp phục vụ tiêu dùng.
- Tài nguyên nhân văn: Tri Tôn là vùng kháng chiến trong thời lỳ chống
Mỹ và là nơi diễn ra chiến tranh biên giới Tay Nam. Tại dây có 2 di tích dược
xếp hạng cấp tỉnh là Tháp An Lợi và Hố Thờ và 4 khi di tích dược công nhận là
khu di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia là khu di tích Đồi Tức Dụp, khu di tích
nhà mồ Ba Chúc( gồm nhà mồ Ba Chúc, chùa Tam Bửu, Chùa Phi Lai), chùa
Xvayton và khu di tích Ô Tà Sóc.
- Về thành phần dân tộc: ở tri Tôn ngoài người kinh chiếm đa số thì người
Khmer chiếm tỷ lệ khá cao (34,02%) còn lại là người hoa và một ít dân tộc
khác.Nơi đây, còn duy trì các lễ hội truyền thống, phong tục tạp quán của người
kinh (Tết Nguyên Đán, Đoan Ngọ…) lẫn người Khmer (lễ Dolta kết hợp lễ đia
bò bảy núi, Chonchnam Thmay…) và người Hoa tạo nên nét sinh hoạt văn hóa
độc đáo của vùng.
c. Hiện trạng trồng rừng tại huyện Tri Tôn.
Chi bộ Kiểm lâm Tri Tôn trực thuộc Đảng bộ Chi cục Kiểm lâm An Giang,
với nhiệm vụ lãnh đạo đảng viên và cán bộ công chức lực lượng Kiểm lâm Tri
Tôn thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng, thực thi pháp luật trong lĩnh vực
quản lý bảo vệ rừng và trồng rừng trên vùng đồi núi thuộc huyện Tri Tôn, với
diện tích quy hoạch lâm nghiệp là 9.778,09 ha, gồm đất lâm nghiệp đồi núi
5.376 ha và đất lâm nghiệp đồng bằng là 4.402,09 ha năm 2011.
Diện tích rừng được sự quản lý của Hạt kiểm lâm Tri Tôn, chủ yếu trực
tiếp là giao khoán rừng và thảm thực vật rừng cho hộ gia đình quản lý bảo vệ:
5.936,87 ha rừng phòng hộ.
Trong tháng 1 đến tháng 2 phải tiến hành điều tra để chọn cây lấy giống.
4.2.1.1 Thời kỳ thu hái.
Kết quả phỏng vấn thu thập thông tin cho thấy Giáng Hương bắt đầu ra hoa
từ tháng 1 đến tháng 4, múa trái từ tháng 4 đến tháng 6. Khi vỏ quả có màu nâu
hoặc cánh quả có màu nâu đỏ, hạt màu xanh lá cây hay vàng nhạt thì bắt đầu thu
hái quả. Mùa thu hái hạt giống thường từ đầu tháng 4 đến giữa tháng 5. Không
được thu hoạch quả chín trong 3 tháng vì sức nảy mầm rất yếu.
Hình 4.2. Hoa Giáng Hương
Hình 4.3. Quả chín và chưa chín
Có thể rung cây cho quả rụng xuống hoặc trèo lên cây dùng cù nèo, móc
giật từng chùm quả chín. Có thể thu nhặt quả rụng quanh gốc cây.
4.2.1.2. Chế biến và bảo quản hạt giống
22
Quả sau khi mang về phải phân loại, loại bỏ những quả nhỏ, sâu bệnh và
xanh. Kết quả cân đo, đong đếm về các chỉ tiêu hạt giống đề tài đã xác định
được như sau:
- Trọng lượng 1 kg hạt có khoảng 2500 hạt
- Trọng lượng1000 quả khô khoảng 620g
- Trọng lượng 1000 hạt vào khoảng 420g.
Bảo quản hạt giống 15-200C hoặc nơi khô thoáng mát. Bảo quản khô lạnh
hoặc khô mát.
Bảo quản hạt giống ở điều kiện thường, thoáng mát, ở nhiệt độ 25 – 30 0C,
phương thức này có thể duy trì tỷ lệ nảy mầm hạt giống 1 đến 2 năm. Ở nhiệt độ
5 – 100C có thể duy trì tỹ lệ nảy mầm 3 đến 4 năm.[6]
ĐC
300C
400C
500C
600C
Công thức
(%)
(%)
(%)
(%)
(%)
Lần lặp 1
6,67
53,33
56,67
40,00
16,67
Lần lặp 2
6,67
66,67
63,33
20,00
30,00
Lần lặp 3
6,67
63,33
30,00
83.33
20,00
Trung bình
24
giờ, ngâm trong 18 giờ , ngâm trong 24 giờ ở mức nhiệt độ xử lý ban đầu là
300C trước khi tiến hành gieo ươm. Kết quả tỷ lệ nảy mầm của hạt giống Giáng
hương thu được được thể hiện như bảng 4.2:
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của thời gian ngâm
hương
ĐC
6h
Công thức
(%)
(%)
Lần lặp 1
6,67
40,00
Lần lặp 2
6,67
30,00
Lần lặp 3
6,67
56,67
Trung bình
6,67
42,22
đến tỷ lệ nảy mầm của hạt Giáng
12h
(%)
60,00
độ xử lý hạt giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy mầm của hạt giống Giáng hương.
Để tìm ra công thức tốt nhất có thể áp dụng xử lý hạt giống đề tài tiến
hành kiểm tra bằng tiêu chuẩn t bằng cách so sánh hai công thức cho kết quả tốt
nhất và tốt thứ hai là công thức xử lý hạt ngâm trong 12giờ và 24 giờ. Kết quả
so sánh tiêu chuẩn t cho thấy Tt = 0,500375094 < T05 = 6,313751514. Điều này
cho thấy không có sự khác nhau giữa hai công thức đem so sánh hay nói cách
khác hai công thức này đều cho kết quả giống nhau. Vậy trong xử lý hạt Giáng
hương có thể chọn mức ngâm hạt trong 12 giờ hoặc 24 giờ đều phù hợp
Nhận xét chung: Từ kết quả nghiên cứu xử lý hạt giống Giáng hương ở
các mức nhiệt độ và thời gian ngâm khác nhau có thể thấy hiệu quả nảy mầm
của hạt giống vẫn chưa cao mới xấp xỉ 50%. Nếu áp dụng phương pháp này để
xử lý hạt giống nên áp dụng mức nhiệt độ từ 30 – 40 độ ngâm hạt trong 12 giờ là
phù hợp.
25