ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN TIẾN
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI VÀ KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG
GÂY TRỒNG CÂY RE GỪNG (Cinnamomum obtusifolium A. Chev)
TẠI PHÚ THỌ VÀ LẠNG SƠN”
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN, 2010
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN TIẾN
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI VÀ KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG
GÂY TRỒNG CÂY RE GỪNG (Cinnamomum obtusifolium A. Chev)
TẠI PHÚ THỌ VÀ LẠNG SƠN”
Chuyên ngành : Lâm học
Mã số
: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Huy Sơn
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn
toàn trung thực, chưa được sử dụng cho bảo vệ một học vị nào. Các thông tin, tài
liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả
Nguyễn Văn Tiến
ii
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ....................................................................................................1
Chương 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu..................................................3
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới................................................................3
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam ................................................................5
1.3. Đánh giá chung...........................................................................................17
Chương 2. Mục tiêu, giới hạn, nội dung và phương pháp nghiên cứu .........19
2.1. Mục tiêu nghiên cứu...................................................................................19
2.2. Giới hạn nghiên cứu ...................................................................................19
2.3. Nội dung nghiên cứu ..................................................................................19
2.4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................21
Chương 3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu........30
3.1. Điều kiện tự nhiên ......................................................................................30
3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ...........................................................................34
3.3. Nhận xét, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã-hội khu vực nghiên cứu .36
Chương 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận .................................................38
4.5.1.3. Chăm sóc..............................................................................................79
4.5.2. Kỹ thuật nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép ..............................80
4.5.3. Kỹ thuật gây trồng và chăm sóc...............................................................81
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ ...............................................83
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................86
PHẦN PHỤ LỤC
iv
BẢNG TÊN KHOA HỌC CÁC LOÀI CÂY NÊU TRONG LUẬN VĂN
STT
Tên Việt Nam
Tên khoa học
1
Bồ đề
Styrax tonkinensis Piere
2
Chẹo
Engelhardtia chrysolepis Hance
3
Gội xanh
Aglaia perviridis Hiern.
9
Keo tai tượng
Acacia mangium Willd
10
Kháo vàng
Cinnadenia paniculata (Hook.f.) Kosterm
11
Lát hoa
Chukrasia tabularis A.Juss
12
Lim xanh
Erythrofloeum fordii Oliv
13
Phay
Duabanga grandiflora (Roxb. ex DC.) Walp.
19
Re gừng
Cinamomum obtusifolium A.Chev
20
Sâng
Pometia pinnata Gagnep
21
Sấu
Dracontomelum duperreanum Pierre
22
Táu
Hopea mollissima
23
4.2. Đặc điểm khí hậu khu vực Re gừng phân bố tại Lạng Sơn và Phú
Thọ.
4.3. Đặc điểm đất đai dưới các quần thể Re gừng tại Lạng Sơn và
Phú Thọ.
4.4. Tổ thành loài tầng cây cao ở trạng thái rừng IIb tại VQG Xuân
Sơn - Phú Thọ.
4.5. Tổ thành loài tầng cây tái sinh ở trạng thái rừng IIb tại VQG
Xuân Sơn - Phú Thọ.
4.6. Mức độ tái sinh tự nhiên của Re gừng tại 1 số khu vực có độ tàn
che khác nhau ở VQG Xuân Sơn - Phú Thọ.
4.7. Các điều kiện khí hậu và vật hậu của Re gừng.
4.8. Quá trình các pha vật hậu loài Re gừng trong năm 2009
4.9. Tỷ lệ sống của Re gừng trong vườn ươm ở các mức độ che sáng.
4.10. Sinh trưởng về đường kính của Re gừng trong vườn ươm ở các
mức độ che sáng.
4.11. Sinh trưởng về chiều cao của Re gừng trong vườn ươm ở các
mức độ che sáng.
3.1.
4.1.
4.12. Tỷ lệ sống của Re gừng trong vườn ươm ở các chế độ bón phân.
4.13. Sinh trưởng về đường kính của Re gừng trong vườn ươm ở các
chế độ bón phân.
4.14. Sinh trưởng về chiều cao của Re gừng trong vườn ươm ở các chế
độ bón phân.
4.15. Tỷ lệ nảy mầm và chiều cao chồi mới của Re gừng ghép ở các
cấp đường kính gốc ghép.
4.16. Sinh trưởng Re gừng và các loài trong một số mô hình trồng
rừng tại xã Mai Sao - huyện Chi Lăng - tỉnh Lạng Sơn.
4.17. Sinh trưởng của một số mô hình rừng trồng Re gừng hỗn loài tại
Trang
Hình 4.1. Biểu đồ so sánh tỷ lệ sống cây Re gừng trong vườn ươm
ở các mức độ che sáng.
60
Hình 4.2. Biểu đồ so sánh sinh trưởng đường kính cây Re gừng trong
vườn ươm ở các mức độ che sáng.
62
Hình 4.3. Biểu đồ so sánh sinh trưởng chiều cao cây Re gừng trong
vườn ươm ở các mức độ che sáng.
65
Hình 4.4. Biểu đồ so sánh tỷ lệ sống cây Re gừng trong vườn ươm ở
các chế độ bón phân.
68
Hình 4.5. Biểu đồ so sánh tăng trưởng đường kính cây Re gừng trong
vườn ươm ở các chế độ bón phân.
70
Hình 4.6. Biểu đồ so sánh tăng trưởng chiều cao cây Re gừng trong
vườn ươm ở các chế độ bón phân.
72
Ảnh 4.4.
Re gừng tái sinh tự nhiên tại VQG Xuân Sơn - Phú Thọ.
53
Ảnh 4.5.
Một số mô hình trồng Re gừng tuổi 3 ở Chi Lăng - Lạng
Sơn
78
vii
BẢNG CHÚ GIẢI CHỮ VIẾT TẮT VÀ CÁC KÝ HIỆU
- BNN&PTNT: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
- D1,3: Đường kính cây tại vị trí 1,3 m;
- Doo: Đường kính gốc cây;
- E: Kinh độ Đông;
- F: Tiêu chuẩn kiểm tra F;
- Hchồi: Chiều cao chồi;
- Hvn: Chiều cao vút ngọn;
- KHCN&CLSP: Khoa học công nghệ và chất lượng sản phẩm
- N: Vĩ độ Bắc;
- OTC: Ô tiêu chuẩn;
- ODB: Ô dạng bản;
- Sig.: Xác suất (mức ý nghĩa) của tiêu chuẩn kiểm tra;
- TB: Trung bình;
đó có rất nhiều loài cây lá rộng bản địa thích hợp với các vùng sinh thái khác
nhau như: Lát hoa, Trám, Dẻ, Giổi xanh, Lim xanh... Nhiều chương trình trồng
rừng như: Dự án trồng rừng 661, Dự án trồng rừng Việt - Đức và nhiều Dự án
khác đã sử dụng các loài cây bản địa để trồng rừng, làm giàu rừng và cải tạo
rừng, nhưng cơ sở khoa học về đặc điểm sinh vật học cũng như kỹ thuật tạo cây
con và kỹ thuật gây trồng còn rất hạn chế, rất ít loài được nghiên cứu.
Re gừng (Cinnamomum obtusifolium A.Chev) là một trong những loài cây
gỗ bản địa đã được quan tâm nghiên cứu để gây trồng. Tuy nhiên, các nghiên
cứu về loài cây này còn chưa nhiều, một số đặc điểm sinh thái cơ bản phục vụ
1
trồng rừng chưa được nghiên cứu sâu và chưa có hệ thống. Hơn nữa, giống là
một trong những nhân tố quan trọng, quyết định đến năng suất và chất lượng
rừng trồng cũng chưa được nghiên cứu.
Để góp phần gây trồng thành công loài cây này, đề tài: “Nghiên cứu đặc
điểm sinh thái và kỹ thuật nhân giống gây trồng cây Re gừng (Cinnamomum
obtusifolium A.Chev) tại Phú Thọ và Lạng Sơn” là rất cần thiết, góp phần bổ
sung thêm một số đặc điểm sinh thái và kỹ thuật nhân giống, nhất là nhân giống
vô tính bằng phương pháp ghép, phục vụ công tác cải thiện giống loài cây này
được tốt hơn.
2
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI
Cinnamomum obtusifolium A.Chev thuộc chi Cinnamomum, họ Long não Lauraceae, bộ Long não - Laurales, lớp Ngọc lan - Magnoliopsida (Lớp hai lá
mầm - Dicotyledoneae), ngành Ngọc lan - Magnoliophyta.
1.1.2. Về hình thái
Trên thế giới, một số tác giả đã nghiên cứu, mô tả hình thái Re gừng. Tuy
nhiên, các nghiên cứu mới chỉ mô tả khái quát về đặc điểm thân, cành, lá, rễ và
các cơ quan sinh sản.
Theo Lecomte (1910) [38] Re gừng là cây gỗ thường xanh, thân thẳng,
cao 20 - 30m, đường kính có thể đạt trên 50cm, vỏ ngoài màu nâu xám hay nâu
sẫm, nhẵn, có mùi thơm của quế, cành nhỏ màu nâu, lúc non có 4 cạnh sau hình
trụ, nhẵn. Lá mọc so le hay gần đối, dạng bầu dục tròn dài hay trái xoan thuôn
dài 9 - 30cm, rộng 3,5 - 9cm, đỉnh có mũi nhọn dài hay tù, gốc hình nêm, mép
nguyên, dai, mặt nhẵn bóng; 3 gân gốc, 2 gân bên kéo dài tới đỉnh, gân nhỏ hình
mạng lưới; cuống lá dài 10 - 20mm. Cụm hoa chùy ở nách lá gồm nhiều xim, dài
20 - 25cm; hoa lưỡng tính có hai dạng, hoa ở giữa lớn và có cuống dài hơn các
hoa ở bên. Bao hoa 6 mảnh, thuôn, có lông ở hai mặt. Nhị sinh sản 9, xếp thành
3 vòng, nhị thoái hóa 3, bầu hình trứng nhẵn, vòi dài bằng bầu, đầu nhụy khá
lớn. Quả mọng hình trứng, dài 1,5cm, gốc có bao hoa tồn tại, có thùy tròn, khi
chín có màu đen.
1.1.3. Đặc điểm phân bố và sinh thái
Lecomte M. H. (1929 - 1930) [39] khi nghiên cứu thực vật ở Đông Dương
đã cho rằng các loài cây thuộc họ Long não thường phân bố ở những vùng nhiệt
đới và cận nhiệt đới, nhất là vùng Đông Nam Á và Brazin thuộc khu vực Nam
Mỹ. Tác giả đã phát hiện Re gừng có phân bố tự nhiên ở Ấn Độ, Nêpan,
4
Mianma, Trung Quốc, Lào và Việt Nam. Cây mọc trong rừng thường xanh nhiệt
đới, ở độ cao dưới 800m. Ưa loại đất thịt pha cát, có tầng đất sâu dày, thoát
nước. Tái sinh bằng hạt tốt dưới tán cây mẹ có nhiều cây con, sinh trưởng tương
đối nhanh.
Về danh pháp quốc tế, Re gừng cũng được nhiều nhà khoa học gọi với các
tên khác nhau. Theo Nguyễn Bá Chất (1994, 2002) [6], [8], Re gừng có các tên
khác nhau như Cinnamomum obtusifolium A.Chev hoặc Cinnamomum
bejolghota (Buch – Hamex Ness) Sweet, sau khi đi sâu phân tích tác giả xác định
đây chính là một loài, quan điểm này cũng được nhiều tác giả ủng hộ (Vụ
KHCN&CLSP - Bộ NN&PTNT, 2000) [33].
Trong nhiều tài liệu hiện nay, vẫn sử dụng cả hai tên khoa học nêu trên để
xác định cho loài Re gừng. Tuy nhiên, thời gian gần đây, tên Cinnamomum
obtusifolium A.Chev, thuộc họ Long Não (Lauraceae) được các tác giả sử dụng
nhiều hơn như Ban quản lý Dự án trồng rừng Việt Đức KFW (2001) [1]; Hoàng
Văn Thắng (2007) [23]; Phạm Quang Thu (2003) [24], đặc biệt là các tài liệu của
Nguyễn Bá Chất đã trình bày ở trên. Đây cũng chính là tên khoa học của loài Re
gừng được sử dụng trong luận văn này.
Ở Việt Nam, họ Long não (Lauraceae) còn được gọi là họ Nguyệt quế, là
một trong 10 họ có số loài lớn nhất (Nguyễn Tiến Bân, 1997) [2]. Chính vì vậy,
họ Long não là đối tượng nghiên cứu khá phức tạp, không những chúng có số
loài lớn mà còn có vùng phân bố rộng, bao gồm các loài cây gỗ nhỏ, gỗ nhỡ và
gỗ lớn. Đặc điểm chính của họ Long não có lá mọc so le, đơn nguyên, gân lá
lông chim, thường có 3 gân gốc lớn; Cụm hoa xim, cờ hay tán giả, hoa đều,
thường lưỡng tính, 3 lá đài, 3 cánh hoa rời nhau; Bộ nhị gồm 9 nhị xếp thành 3
vòng, đôi khi có thêm 1 vòng nhị lép; Bộ nhụy gồm 1 lá noãn, bầu trên, 1 ô đựng
1 noãn; Hoa thức: P3+3 A3+3+3G 3-1; Quả mọng hình cầu đựng trong đài hoa
tồn tại bao quanh như một cái chén; Hạt không nội nhũ. Các kết quả nghiên cứu
về số loài trong họ Long não ở nước ta đều cho thấy đây là họ có nhiều loài
thuộc dạng bậc nhất nước ta. Về phân loại, do là một họ có số lượng loài rất lớn
6
nên các nghiên cứu ở nước ta mới chủ yếu tập trung vào phân loại các phân họ
1cm. Chùm tụ tán dài, có lá; nhánh ngắn. Trái to, bầu dục, dài 15 mm; đầu còn
lại nhỏ, có thuỳ tròn tròn.
Theo Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật (2003) [32], Re gừng là cây gỗ
cao 10 - 30 mét. Mọc rải rác trong rừng thường xanh núi đất hoặc núi đá, ở độ
cao 500 - 800 mét. Ra hoa tháng 3 - 4, có quả tháng 6 - 9.
Nhìn chung, mô tả của các tác giả là khá giống nhau, tuy có khác nhau đôi
chút về kích thước, màu sắc lá, thân... là do các tác giả nghiên cứu mô tả ở các
vùng sinh thái khác nhau và ở những thời điểm khác nhau, nhưng những đặc
điểm đã nêu đều thuộc về đặc điểm hình thái của loài Re gừng.
1.2.3. Đặc điểm phân bố, sinh thái và vật hậu
Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000) [5] đã chỉ ra họ Long não là một họ
lớn phân bố rộng khắp thế giới, chủ yếu trong các khu vực nhiệt đới, đặc biệt là
ở khu vực Đông Nam Á và Brazil thuộc Nam Mỹ. Đối với cây Re gừng, nhiều
tác giả cho biết đây là loài có phân bố tự nhiên ở nhiều nơi trên thế giới như: Ấn
Độ, Nêpan, Mianma, Trung Quốc, Lào. và Việt Nam (Võ Văn Chi, 1999, 2002,
2003) [10], [11], [12]; (Phạm Hoàng Hộ, 2003) [16].
Ở Việt Nam, Re gừng phân bố rộng trên nhiều vùng sinh thái, thường gặp
Re gừng trong các rừng thứ sinh ở các tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ, Hòa
Bình, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh, Gia Lai, Kon
Tum, Đắk Lắk. (Nguyễn Bá Chất, 1994, 2002) [6], [7]. Theo Viện sinh thái và
tài nguyên sinh vật (2003) [32] thì Re gừng có phân bố ở Vị Xuyên - Hà Giang,
Hữu Lũng - Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Thủ Dầu Một - Bình Dương. Vụ
KHCN&CLSP - Bộ NN&PTNT (2000) [32] cũng khẳng định Re gừng có phân
bố tại các vùng Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Đông Nam Bộ ở Việt Nam. Ngoài
ra, một số tác giả còn phát hiện ra Re gừng phân bố ở các tỉnh Nam bộ như Đồng
Nai (Võ Văn Chi, 2003) [12].
8
Về độ cao phân bố, một số tác giả cho rằng Re gừng thường phân bố ở độ
11oC - 16oC, lượng mưa trung bình 1800 - 2900 mm, độ cao từ 50 - 1500m so
với mực nước biển. Khi cây còn nhỏ ưa bóng nhẹ, lớn lên ưa sáng, tốc độ tăng
trưởng đường kính bình quân đạt 1cm/năm và tăng trưởng chiều cao bình quân là
0,8 - 1m/năm. Re gừng sống được trên nhiều loại đất, sinh trưởng tốt trên đất nâu
đỏ bazan, đất nâu vàng trên bazan, đất đỏ vàng trên đá sét biến chất; đất vàng đỏ
trên đá mác ma axít. Chúng có thể chịu được ở nơi có tầng đất nông mỏng, đất
xấu, ngay cả những vùng có tầng kết cứng. Re gừng sống hỗn loại với nhiều loại
cây khác: Giổi (Michelia mediocris), Kháo (Cinnadenia paniculata), Gội (Aglaia
perviridis), Ngát (Gironniera subaequalis), Táu (Hopea mollissima)... có khi
mọc thành từng đám 5-7 cây trong rừng thứ sinh. Re gừng tái sinh tự nhiên khá
mạnh dưới tán rừng có cây mẹ gieo giống, mật độ cây con tái sinh trung bình từ
1500-2300 cây/ha. Chúng thường có tỷ lệ tổ thành cao trong một vài loại rừng.
Re gừng thường chiếm tầng cao của rừng.
Về đặc điểm vật hậu, một số tác giả cũng đã xác định Re gừng ra hoa từ
tháng 11 - 12, có quả tháng 3 - 5 hàng năm (Võ Văn Chi, 1999, 2002) [10], [12];
(Võ Văn Chi, Trần Hợp, 2002) [11]. Theo Nguyễn Bá Chất (2002) [7], Re gừng
ra hoa tháng 3 - 5 năm trước và quả chín tháng 2 - 3 năm sau. Theo Ban quản lý
Dự án trồng rừng Việt Đức KFW (2001) [1] và Viện sinh thái và tài nguyên sinh
vật (2003) [32] thì Re gừng ra hoa tháng 3 - 5 và quả chín tháng 6 - 9. Như vậy,
có thể thấy các quan điểm về vật hậu của Re gừng là chưa đồng nhất. Điều này
cho thấy có thể do các tác giả nghiên cứu ở các vùng sinh thái khác nhau nên có
sự lệch pha nhau.
1.2.4. Giá trị sử dụng
Re gừng là loài cây gỗ lớn, gỗ mềm, màu sáng hồng nhạt, hoặc xám sẫm,
vân thẳng, thớ mịn, hơi mềm, tỷ trọng 0,42- 0,47, ít bị cong vênh, nứt nẻ, mối
mọt, dễ gia công chế biến. Gỗ dùng để xẻ ván đóng đồ, làm nhà, làm nông cụ rất
10
mầm đạt 70-85%. Hạt ủ từ 5-7 ngày thì nứt nanh, đem cấy vào bầu hoặc đem
gieo ra luống. Bầu bằng PE, có kích thước 8x12 cm, ruột bầu là đất vườn ươm,
hoặc lớp đất mặt trong rừng, có thành phần cơ giới nhẹ, trộn 10-15% phân
chuồng hoai. Bầu xếp theo luống nổi, có chiều rộng 70-80 cm, mỗi bầu chỉ cấy 1
hạt đã nứt nanh. Cắm tế guột hoặc làm dàn che có độ che sáng khoảng 40-50%,
sau 10-20 ngày cây mầm ra lá thật. Khi cây con được 3-4 tháng tuổi điều chỉnh
bớt độ che sáng bằng cách giảm bớt tế guột, nâng dàn che lên cao hay điều
chỉnh dàn che đảm bảo độ che sáng còn khoảng 25%. Chú ý tưới nước phải đủ
ẩm và phòng ngừa nấm bệnh cho cây con như các bệnh do nấm rỉ sắt, nấm thối
cổ rễ gây ra. Cây con 6-7 tháng tuổi chiều cao đạt từ 30-35 cm, cây con 12 tháng
tháng tuổi chiều cao đạt 50-65 cm.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu và
đề xuất các phương pháp nhân giống vô tính cây Re gừng như ghép, giâm hom,
nuôi cấy mô...
1.2.5.2. Gây trồng Re gừng
Ở nước ta hiện nay, sử dụng các loài cây bản địa để trồng rừng đã và đang
được quan tâm. Đối với loài Re gừng được nghiên cứu và trồng thử nghiệm ở
một số nơi.
Tại Lâm trường Trạm Lập, huyện Kbang - tỉnh Gia Lai, Re gừng được
trồng theo rạch ở rừng nghèo, có chiều cao trung bình 15 mét, độ rộng của rạch
trồng là 5 mét, băng chừa 10 mét, trên rạch trồng phát sạch dây leo cây bụi, trồng
với khoảng cách là cây cách cây 2 mét. Sau 5 năm tuổi , tỷ lệ sống đạt 85%, cây
có đường kính bình quân 3,86 cm, chiều cao bình quân 4,38 m, sự phân hóa
đường kính và chiều cao chưa rõ. Đến 12 năm tuổi, tỷ lệ sống chỉ còn 65%, cây
phân hóa mạnh, 30% cây tốt có đường kính bình quân 12 cm, cao 9m, cây lớn
nhất có D1,3 =17 cm, chiều cao 14,3 m, số cây còn lại bị cây băng chừa lấn át do
không được chăm sóc, phát dọn thực bì (Nguyễn Bá Chất, 2002) [8].
12
cần được bảo tồn trong đó có loài Re gừng. Số liệu báo cáo về rừng trồng Re
gừng của Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm Lâm sinh Cầu Hai - Phú Thọ cũng
cho thấy diện tích rừng trồng Re gừng bao gồm 35,5ha. Trong đó, rừng trồng
thuần loài là 5,5ha (4ha-1995; 1,5ha-2001), rừng trồng hỗn giao với các loài cây
bản địa khác là 30ha (1997), tỷ lệ sống của Re gừng đều đạt trên 90%, cây sinh
trưởng và phát triển tốt. (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2006) [19].
Hoàng Văn Thắng (2007) [23] khi nghiên cứu sinh trưởng các mô hình
trồng rừng hỗn loài có Re gừng đã kết luận: Đối với mô hình trồng các loài cây
bản địa 5 tuổi trong mô hình rừng trồng hỗn loài ở Cát Bà - Hải Phòng và các mô
hình trồng rừng hỗn loài trong Chương trình 327 ở một số tỉnh phía Bắc, loài Re
gừng có mức tăng trưởng bình quân chung về đường kính (∆D = 0,9 cm/năm) và
mức tăng trưởng bình quân chung về chiều cao (∆H = 0,9 m/năm). Mô hình
trồng rừng hỗn loài Re gừng, Lim xanh, Lim xẹt, Trám trắng, Dẻ đỏ và cây phù
trợ là Keo tai tượng ở Cầu Hai - Phú Thọ được đánh giá là mô hình có triển
vọng. Đối với mô hình tạo rừng hỗn loài dưới tán rừng Thông đuôi ngựa và Keo
lá tràm ở Núi Luốt - Trường đại Học Lâm nghiệp tăng trưởng về đường kính và
chiều cao của Re gừng được đánh giá là tương đối tốt (ZD = 0,6 cm/năm, ZH =
0,5 m/năm). Mô hình trồng các loài cây bản địa 6 tuổi trồng trên đất rừng sau
khai thác Bạch đàn ở Đền Hùng - Phú Thọ kết quả cho thấy ở tuổi 6 Re gừng có
D1,3 = 6,7 cm, Hvn = 6,5 m, Dt = 3,0 m. Tỷ lệ sống sau 6 năm của Re gừng trong
các mô hình thí nghiệm trồng rừng hỗn loài có cây phù trợ đều đạt trên 90%.
Trong các mô hình trồng rừng hỗn loài các loài cây lá rộng bản địa ở Ngọc Lặc
và Cầu Hai, tăng trưởng hàng năm về đường kính và chiều cao của các loài đều ở
mức tương đối cao. Trong đó, Re gừng là loài có khả năng sinh trưởng tốt nhất.
Các mô hình trồng Re gừng tuổi 6 với mật độ 850 cây/ha cho năng xuất gỗ là
12,6258 m3/ha.
14