Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và thử nghiệm gây trồng loài sâm cau (curculigo orchioides gaertn) trên vùng cát nội đồng huyện quảng điền - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

Khoa Lâm nghiệp

KHÓA LUẬN

TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và thử nghiệm gây trồng loài
Sâm cau (curculigo orchioides Gaertn) trên vùng cát nội đồng
huyện Quảng Điền

Sinh viên thực hiện

: Huỳnh Bá Công

Lớp

: QLR 45A

Thời gian thực tập

: Từ ngày 05/01 đến 08/05/2015

Địa điểm thực hiện

: Xã Quảng Lợi, huyện Quảng Điền
tỉnh Thừa Thiên Huế

Giáo viên hướng dẫn : Th.S. Lê Thị Diên
Bộ môn


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1. Bản đồ hành chính huyện Quảng Điền – TT Huế.........................20
Hình 4.2. Hoạt động lấy giống..........................................................................43
Hình 4.3. Làm đất lên luống trồng cây............................................................43
Hình 4.4. Trồng dưới tán cây hà thủ ô đỏ.......................................................44
Hình 4.5. Phương thức trồng thuần loài trên luống cát.................................44


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
QLTNR & MT

: Quản lý Tài nguyên rừng và Môi trường

WHO

: Tổ chức y tế thế giới

NPK

: Phân hỗn hợp ( Ni tơ, Phốt pho, Kali)

ĐHNL

: Đại Học Nông Lâm

WTO

: Tổ chức Thương Mại Thế Giới



MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG..................................................................................2
...............................................................................................................................2
DANH MỤC BIỂU ĐỒ......................................................................................3
DANH MỤC CÁC HÌNH...................................................................................3
MỤC LỤC............................................................................................................5
Phần 1...................................................................................................................1
ĐẶT VẤN ĐỀ......................................................................................................1
1.1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
3
1.2.1. Mục tiêu chung....................................................................................................................................3
1.2.2. Mục tiêu cụ thê....................................................................................................................................3

Phần 2...................................................................................................................4
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU...........................................................4
2.1. KHÁI NIỆM TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC
4
2.2. HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC TRÊN THẾ GIỚI
4
2.2.1. Những nghiên cứu công dụng của cây sâm cau trên thế giới.............................................................6
2.2.2. Tình hình quản lý, nhân giống và gây trồng cây Sâm cau trên thế giới..............................................7
2.3. TỔNG QUAN VỀ CÂY THUỐC Ở VIỆT NAM
9
2.3.1. Tình hình nghiên cứu, sử dụng cây thuốc ở Việt Nam.........................................................................9
2.3.2. Ngành dược liệu trong nước gặp những khó khăn...........................................................................12
2.3.3. Một số vấn đề phát triên ngành dược liệu trong nước.....................................................................12


4.3. THỬ NGHIÊM
̣ MÔṬ SỐ BIÊN
̣ PHAṔ KỸ THUÂṬ TRỒNG SÂM CAU TRÊN ĐÂT́ CAT́ NÔỊ ĐÔN
̀ G
38
4.4. ĐỀ XUÂT́ CAĆ GIAỈ PHAṔ HOAN
̀ THIÊN
̣ VÀ NHÂN RÔN
̣ G MÔ HIN
̀ H TRÔN
̀ G SÂM CAU TRÊN VUN
̀ G CAT́ NÔỊ ĐÔN
̀ G HUYÊN
̣
QUAN
̉ G ĐIÊN
̀
40
4.4.1. Xác định các vấn đề và nguyên nhân.................................................................................................40
4.4.2. Các giải pháp cụ thê...........................................................................................................................41
4.5. XÂY DƯN
̣ G HƯƠN
́ G DÂN
̃ KỸ THUÂṬ TAM
̣ THƠÌ TRÔN
̀ G SÂM CAU TRÊN ĐÂT́ CAT́ NÔỊ ĐÔN
̀ G
42

PHẦN 5...............................................................................................................46

Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “Nghiên
cứu đặc điểm sinh thái và thử nghiệm gây trồng cây Sâm cau (Curculigo
orchioides Gaertn.) tại vùng cát nội đồng huyện Quảng Điền tỉnh Thừa
Thiên Huế”.
Việc thử nghiệm gây trồng Sâm cau nhằm góp phần đa dạng hóa cây trồng
cho vùng đất cát nội đồng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, thích ứng với biến
đổi khí hậu và tăng thu nhập cho người dân địa phương. Bước đầu xây dựng được
hướng dẫn tạm thời về kỹ thuật trồng Sâm cau trên vùng đất cát nội đồng.
Khi gây trồng bất kỳ loài cây nào trên đất cát nói chung và loài Sâm cau
nói riêng thì cần phải chú ý đặc biệt đến yếu tố độ ẩm và yếu tố dinh dưỡng vì
hai yếu tố này là hai yếu tố thiết yếu dẫn đến năng suất của cây trồng trên vùng
đất cát nội đồng.
Qua nghiên cứu cho thấy sự sinh trưởng và phát triển của cây Sâm cau dưới
tán cây nông nghiệp tốt hơn so với trồng thuần loài trên luống cát. Phương thức
trồng dưới tán cây nông nghiệp đem lại nhiều lợi ích hơn so với trồng thuần loài


như là: ít tốn công làm cỏ, tiết kiệm được diện tích đất và phân bón cho cây
trồng, tiết kiệm được công lao động…do đó ta nên chọn phương thức trồng xen
dưới tán cây nông nghiệp để trồng Sâm cau trên vùng đất cát nội đồng.
Qua kết quả nghiên cứu cũng cho thấy yếu tố ánh sáng có ảnh hưởng đến
một số chỉ tiêu sinh trưởng của loài Sâm cau, cụ thể ảnh hưởng đến tỷ lệ sống,
chiều cao và số lá cây. Trong các công thức thí nghiệm thì công thức che bóng
25% và 50% tỏ ra thích hợp đối với nhu cầu ánh sáng của loài khi trồng trên
vùng đất cát nội đồng.
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố dinh dưỡng ảnh hưởng hầu hết các
chi tiêu snh trưởng và phát triển của cây, chứng tỏ tầm quan trọng của yếu tố
dinh dưỡng khi gây trồng loài cây Sâm cau trên vùng đất cát nội đồng. Lượng
phân bón tối thiểu cần bón cho cây theo các thí nghiệm chỉ ta là 15% so với
trọng lượng giá (phần còn lại là đất cát).

cầu đã và đang tăng trưởng nhanh chóng, và hiện đang mang lại rất nhiều lợi
nhuận kinh tế (WTO, 2003).
Cũng như hầu hết các nước có nền văn hóa phương Đông, xu hướng sử dụng
dược phẩm có nguồn gốc thiên nhiên và được sản xuất trong nước ở Việt Nam
ngày càng tăng. Điều đó làm cho vị thế của cây thuốc Nam trong tương lai sẽ
được nâng cao, có nghĩa là lợi ích mà chúng mang lại cho người nông dân sẽ lớn
hơn. Tuy nhiên, cũng vì lẽ đó mà trên thực tế việc khai thác không bền vững
nguồn tài nguyên cây thuốc nam sẽ làm cho đa dạng sinh học bị suy thoái và thế
hệ tương lai không còn được hưởng lợi từ các nguồn tài nguyên này. Chính vì
vậy, cần phải có những giải pháp vừa đảm bảo phát triển được nguồn tài nguyên
cây thuốc Nam ngoài tự nhiên, vừa có được lợi nhuận từ các sản phẩm mà chúng
mang lại mà không phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu khai thác từ tự nhiên.
Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn) được biết đến như một loài thảo
dược quý hiếm có nhiều tác dụng đối với y học. Theo Đông y, thân rễ của Sâm
cau có thể trị sốt xuất huyết, chữa tê thấp, đau mình mẩy,chữa liệt dương do rối
loạn thần kinh chức năng,chữa cao huyết áp (tiền mãn kinh), bồi bổ tráng
dương,trị nam tinh lạnh, nữ lạnh tử cung,chữa phong thấp, lưng lạnh đau, thần
kinh suy nhược... Ngày nay, y học hiện đại đã phát hiện trong thân rễ của loài
Sâm cau có rất nhiều các hoạt chất hữu ích như có thể sử dụng để chữa các bệnh
nan y như các hoạt chất oxytocic, preparations, glycosides flavnone, glycosides
1


khác, curculigoside, steroid, flavonoid, saponin và các hợp chất polyphenolic
khác nhau được ứng dụng để chữa vô sinh, ung thư, rối loạn thần kinh… vì vậy
đây là loài được nhiều quốc gia thế giới và nhiều người quan tâm gây trồng và
nghiên cứu chữa bệnh.
Ở Việt Nam cây Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn) được biết đến với
tên thuốc là Rhizoma Curculiginis, Đông y gọi là Tiên mao và cho rằng có vị
cay, tính ấm, hơi có độc, có đặc tính chống ung thư, bổ thận tráng dương, ôn


Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “Nghiên
cứu đặc điểm sinh thái và thử nghiệm gây trồng cây Sâm cau (Curculigo
orchioides Gaertn.) tại vùng cát nội đồng huyện Quảng Điền tỉnh Thừa
Thiên Huế”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Góp phần đa dạng hóa cây trồng cho vùng đất cát nội đồng nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng đất, thích ứng với biến đổi khí hậu và tăng thu nhập cho người
dân địa phương.
1.2.2. Mục tiêu cụ thê
1/ Xác định được đặc điểm sinh thái học cơ bản của cây Sâm cau làm cơ sở
cho việc phát triển gây trồng loài theo hướng sản xuất hàng hóa.
2/ Cung cấp thêm dữ liệu để đánh giá khả năng và mức độ thành công của
việc trồng cây Sâm cau trên vùng cát nội đồng.
3/ Bước đầu xây dựng được hướng dẫn tạm thời về kỹ thuật trồng Sâm cau
trên vùng đất cát nội đồng.

3


Phần 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Khái niệm tài nguyên cây thuốc
Tài nguyên cây thuốc là một dạng đặt biệt của tài nguyên nguyên sinh vật,
thuộc tài nguyên có thể tái sinh (hồi phục), bao gồm hai yếu tố cấu thành là cây
cỏ và tri thức sử dụng chúng để làm thuốc và chăm sóc sức khỏe. Cây thuốc
khác với cây cỏ bình thường ở chỗ nó được dùng làm thuốc. Suy rộng ra đối với
cây rau, cây để nhuộm, cây gia vị…cũng như vậy. Tính từ đứng sau danh từ
“cây” chỉ công dụng của cây đó. Với định nghĩa này, một cây thuốc có hai yếu

bệnh. Nhiều loài trong số chúng là đối tượng không thể kiểm soát được trong
các hoạt động buôn bán ở quy mô địa phương hoặc quốc tế (dẫn từ Phạm Văn
Điển và Phạm Minh Toại, 2005).
Nguồn gen cây thuốc đang ở trong tình trạng bị đe doạ do mất môi trường
sống, nạn phá rừng, thiên tai, sự khai thác cạn kiệt,… Có rất nhiều bằng chứng chỉ
ra rằng sự đa dạng nguồn gen thực vật, bao gồm cả cây thuốc, đang bị suy giảm
một cách trầm trọng ở nhiều nước trên thế giới. Tình trạng này càng trở nên trầm
trọng ở những nơi có mật độ dân số cao, tốc độ đô thị hoá nhanh, và nạn phá rừng
thường xuyên xảy ra, đặc biệt là các nước Nam và Đông Nam châu Á. Những
quốc gia có nguồn gen cây thuốc phong phú cần phải nỗ lực hơn nữa để sưu tập,
giữ gìn và bảo tồn nguồn gen quý này để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và sử
dụng chúng một cách có hiệu quả (Md Mamtazul Haque, 2004).
Trên thế giới có rất nhiều loài thực vật quý hiếm nhưng do các hoạt động
khai thác bừa bãi của con người nên chúng đã dần cạn kiệt và có nhiều loài đã bị
tuyệt chủng. Theo Raven (1987) và Ole Harmann (1988) trong vòng hơn 100
năm trở lại đây có khoảng 1.000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng, có tới 60.000
loài có thể gặp rủi ro hoặc sự tồn tại của chúng là rất mong manh vào giữa thế
kỷ tới, nếu chiều hướng này vẫn cứ tiếp tục thì các loài thực vật này càng có
nguy cơ bị đe doạ tuyệt chủng, trong số này có nhiều cây được dùng làm thuốc.
Ví dụ ở Banglades có loài Tylopora cindica (Bunrm.F.) Mer. dùng để chữa bệnh
hen, loài Zanonia indica L. dùng để tẩy xổ trước đây có rất nhiều nhưng do khai
thác quá mức nên hiện nay chúng đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng
(Islam A.S, 1991). Loài Ba gạc (Rauvofia serpentine (L.) Bennth. Ex Kurz)
hàng chục năm liền bị khai thác ở Ấn Độ, Srilanka, Banglades, Thái Lan,… với
khối lượng 400 – 1.000 tấn vỏ, rễ mỗi năm để xuất khẩu sang các thị trường Âu
- Mỹ, hiện nay đã trở nên cạn kiệt, thậm chí một số bang ở Ấn Độ, Chính phủ đã
đình chỉ chính thức khai thác loài cây này. Một số các loài cây thuốc khác có ở
vùng Đông Bắc Ấn Độ là Coptis teeta, trước kia cũng thường thu hái để bán
sang các nước Đông Á, song do khai thác quá mức nên loài cây này đang bị đe
doạ. Vì vậy song song với nghiên cứu về sử dụng cây thuốc thì một vấn đề cấp

kinh nghiệm cổ truyền của dân tộc. Chính những kinh nghiệm truyền thống đó
là điểm mấu chốt để nhân loại khám phá ra những loại thuốc chống lại các căn
bệnh hiểm nghèo. Vì vậy việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là
điều hết sức quan trọng.
2.2.1. Những nghiên cứu công dụng của cây sâm cau trên thế giới
Loài Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn.) được sử dụng làm thuốc cổ
truyền từ lâu. Ở Raj Nighantu nó đã được biết đến như một loại thuốc có vị
ngọt, tính mát, nhầy, tăng Kapha và giảm Pitta Daha (cảm giác nóng rát), có
hoạt tính kích thích mạnh. Thân rễ của loài Sâm cau có thành phần của
preparations [15] có tác dụng kích thích tình dục. Bên cạnh đó. Thân rễ còn trị
6


được các bệnh hen suyễn, còi cọc, vàng da, và tiêu chảy và trên pimples [15].
Nó cũng được sử dụng như antioxidant [15], spermatogenic [18].
Khi nghiên cứu về tác dụng của thân rễ loài Sâm cau Bhattacharjee 1998
[16]; Subramonium và Gayathri 2002 [21] đã cho thấy, bên cạnh tác dụng để
điều trị còi cọc , vàng da , hen suyễn , tiêu chảy, trị hạ đường huyết , chống co
thắt còn có các đặc tính chống ung thư và sử dụng như một loại thuốc bổ cho
sức khỏe và sức sống do sự hiện diện của glycosides flavnone .
Theo nhóm tác giả NidhiSoni et al 2012 [19] khi nghiên cứu và đánh giá
toàn diện về các khía cạnh hóa thực vật và dược lý của loài Curculigo
orchioides thuộc họ Amaryllidaceae còn được gọi là "cỏ mắt vàng" . Nó có một
lịch sử y học truyền thống rộng lớn và chứa hóa thực vật có giá trị chữa bệnh
heuristic. Nó là một trong các loại thuốc phương Đông cổ xưa nhất được đề cập
trong Ayurveda như biện pháp tiềm năng cho các bệnh khác nhau. Thân rễ giàu
Curculigoside, glycosides khác, steroid, flavonoid và cũng chứa các hợp chất
polyphenolic khác nhau. Nhiều nghiên cứu dược lý đã chứng minh khả năng của
thân rễ cho thấy chất chống oxy hóa, chống viêm, sinh tinh, kích thích tình dục
và trẻ hóa.

(SalemaValencioFrancis et al,2007) [20].
Nhóm tác giả NidhiSoni và cộng sự, 2012 [19] đã đưa ra kỹ thuật gây trồng
loài Sâm cau như sau: Nguồn giống lấy từ củ, phân đoạn củ kích thước 1,5 - 2
cm, có chứa các chồi đỉnh, được thu thập từ tháng 2 đến tháng 3 để sử dụng
nhân giống. Cự ly trồng 10 x 10 cm, trồng 600 – 750 kg củ /ha. Làm đất và bón
phân: Loài này phát triển tốt trong đất ẩm và mùn giàu. Đất được cày đầu của
mùa mưa. Phân hữu cơ được trộn trước vào luống trồng và luống phải cao để
tránh úng ngập . Bón phân chuồng khoảng 20 tấn / ha được áp dụng tại thời
điểm chuẩn bị đất. Ngoài ra, có thể bón phân chuống 15 tấn/ha kết hợp bón thêm
vào đất phân NPK (đạm, lân, kali) theo tỷ lệ 25:15:10 kg/ha vào đầu tháng mười
tháng 11. Nếu bón phân gia cầm hoai thì tỷ lệ bón là 2,7 tấn / ha và nên trộn vào
đất thời kỳ làm đất để tăng năng suất. Trồng và khoảng cách tối ưu: Các phân
đoạn củ được trồng trực tiếp theo hàng. Sau khoảng 2 tháng 70 – 80 % nảy
mầm khi trồng ở vùng nhiệt đới ẩm như Kerala. Mật độ trồng tối ưu: nếu trồng
thuần thì cự ly trồng là 10 x 10 cm hoặc 10 x 15 cm. Nếu trồng xen cự ly là 20 x
25 cm. Chăm sóc: cây sinh trưởng tốt trong điều kiện có bóng mát nên trồng xen
với cây ăn quả. Nếu trồng thuần thì phải che bóng mát với độ che bóng là 25%.
Bệnh và kiểm soát dịch hại: cây con dễ thối trong mùa mưa nên có thể kiểm soát
bằng cách phun và rải vào đất với hỗn hợp Bordeaux 1%. Nếu bị bệnh thối đen
phun 0,05% tridemorph. Thân rễ thường bị ăn bởi động vật gặm nhấm cần có
biện pháp phòng chống. Quản lý sau thu hoạch: Cây bắt đầu ra hoa 1 tháng sau
khi trồng và ra hoa đồng loạt sau tháng thứ 2, thứ 3. Cây ra hoa quanh năm tuy
nhiên tỷ lệ đậu quả hạn chế. Cây trồng trong 7 – 8 tháng có thể thu hoạch rễ củ
bằng cách đào rễ. Loại bỏ tạp vật, các củ được làm sạch sấy khô trong bóng râm,
và được lưu trữ trong túi gunny. Năng suất củ khô 1.000 – 1.700 kg/ha.

8


2.3. Tổng quan về cây thuốc ở Việt Nam

đắng, palmatin từ Hoàng đằng, artemisinin từ Thanh hao, rotundin từ Bình vôi...
Tuy số lượng loài ít, nhưng khối lượng nguyên liệu đưa vào sản xuất tới trên
2.000 tấn/năm. Ngoài ra, hằng năm cũng có tới gần 20 loài khác được cất tinh
dầu làm thuốc với khối lượng rất lớn [11].

9


Rừng nhiệt đới Việt Nam có tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng.
Theo kết quả điều tra của các nhà khoa học cho biết: Việt Nam có khoảng
12.000 loài thực vật bậc cao, 600 loài nấm, 800 loài rêu và hàng trăm các loại
tảo lớn; trong số đó có khoảng 3.200 loài thực vật bậc cao và bậc thấp dùng làm
thuốc, chúng phân bố trên khắp các điều lập địa khác nhau của nước ta. Theo
thống kê chưa đầy đủ của Gia Lai – Kon Tum có khoảng 921 loài cây được
người dân sử dụng làm thuốc; Phú Khánh có 782 loài; Đắc Lắc có 777 loài;
Quảng Nam - Đà Nẵng có 735 loài; Lâm Đồng 715 loài,…Trong đó có nhiều
loài cây thuốc quý như: Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis), Cẩu tích
(Cibotium azomets), ở Kon Tum; An Khê, Trà My có Vàng đắng (Coscintum
usitatum), Sa nhân (Amomum xanthioides), Ngũ gia bì chân chim (Schefflera
octophylla); Sìn Hồ - Lai Châu có Hà thủ ô đỏ (Polygonum multiflorum), Ngũ
gia bì gai (Acanthopanax toifoliatus); Chiêm Hóa - Tuyên Quang có Bình vôi
(Stephania rotunda); Mộc Hóa - Bình Phước có Tràm (Melaleuca
leucadendron); Lạng Sơn có Hồi (Illicium vertum), Thanh Hóa có Thanh hao
vàng (Artermisia annua L.),...[10].
Theo Lê Thanh Chiến (2005), Lâm sản ngoài gỗ trong đó có cây thuốc với
đặc tính dễ trồng, giá trị kinh tế cao có thể cải thiện đời sống của cộng đồng. Vì
vậy, phát triển LSNG là một động lực và là một yếu tố chủ chốt trong quản lý và
bảo vệ rừng.
Nghiên cứu về tiềm năng và vai trò LSNG đối với một số cộng đồng ở một
số vùng đệm của Vườn Quốc gia và khu Bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam cho

Việt Nam (năm 1996) đạt 1.510 triệu USD, trong đó cây dược liệu đạt 689,9
triệu USD chiếm 45,64 % [3].
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002), giá trị xuất khẩu một
số mặt hàng kể cả nguyên liệu và sản phẩm đã qua chế biến của ngành Nông
nghiệp và Y tế đã vượt 1 tỷ đô la Mỹ hàng năm; trong đó dược liệu chiếm tới
689,9 triệu đô la Mỹ [8].
Tuy nhiên, nguồn gen cây thuốc đang ở trong tình trạng bị đe dọa, nhiều
loài cây dược liệu bị cạn kiệt do tình trạng phá rừng bừa bãi và khai thác tận thu
quá mức trong nhiều năm [7]. Hiện nay ngành dược phải nhập khẩu nguồn
nguyên liệu này từ nước ngoài.
Trung tâm Nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ (Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn) cho biết, sản xuất dược liệu từ lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam hiện nay
có tới 60% nguồn nguyên liệu phải nhập khẩu. Theo thống kê, trong số các loài
cây nguyên liệu phải nhập khẩu, có 20 loài cây thuốc vốn đã được nhập khẩu về
trồng thành công ở Việt Nam như: Bạch chỉ, Đương quy, Huyền sâm, Thục địa,
Đỗ trọng,… đảm bảo mỗi năm ngoài cung ứng đủ nhu cầu sản xuất nội địa còn
phục vụ xuất khẩu. Ngoài ra, có khoảng 45 loài cây thuốc trước đây là thế mạnh
của Việt Nam như: Hoắc hương, Hồng hoa, Ý dĩ hiện nay phải nhập khẩu từ
nước ngoài. Có 25 loài thuốc mọc tự nhiên có giá trị xuất khẩu như: Ba kích, Bồ
công anh, Kim ngân hoa, Kim tiền thảo,… đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt
chủng nếu không được bảo vệ, bảo tồn và phát triển bền vững [1].
11


Việc mất các nguồn gen quý hiếm, đặc hữu có giá trị cũng sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến sự phát triển kinh tế của đất nước. Nếu mất nguồn gen của các loài
đặc hữu, ta sẽ giảm tính cạnh tranh của các mặt hàng nông, lâm sản của Việt
Nam [21].
Tóm lại, những nghiên cứu về cây dược liệu trong và ngoài nước đã đề cập
khá rõ về việc nghiên cứu cây thuốc. Những kiến thức, kinh nghiệm này chắc


- Đầu tư và ứng dụng công nghệ hiện đại cho nghiên cứu và sản xuất
thuốc từ dược liệu.
- Đẩy mạnh sợ phối hợp liên ngành trong việc khai thác, sử dụng và quản
lý tài nguyên thiên nhiên.
Tóm lại do một số nguyên nhân nên lĩnh vực phát triển cây dược liệu nói
chung còn rất nhiều hạn chế trong đó có việc phát triển và bảo tồn loài Sâm cau
(Curculigo orchioides Gaertn) trên phạm vi cả nước và tại từng địa phương.

13


Phần 3
ĐỐI TƯỢNG – PHẠM VI - NỘI DUNG
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cây thuốc Sâm cau (Curculigo
orchioides Gaertn.) thuộc họ Tỏi voi lùn (Hypocidaceae) và điều kiện lập địa
của đất cát nội đồng.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Lĩnh vực nghiên cứu: Phát triển lâm sản ngoài gỗ, cải thiện sinh kế, thích
ứng với biến đổi khí hậu.
+ Địa điểm nghiên cứu: Khu vực trang trại vùng cát thuộc thôn Cổ Tháp,
xã Quảng Lợi, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
+ Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2015.
3.2. Nội dung nghiên cứu
1/ Tìm hiểu các đặc điểm cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội ở
khu vực nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
2/ Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của cây Sâm cau.

độ tưới nước hàng ngày.
2). Thí nghiệm về chế độ nước tưới
+ CT.ĐC (Đối chứng) - Không tưới nước sau khi cây trồng đã bén rễ
+ CT.1 - Tưới vừa đủ ẩm đất mỗi lần, định kì 3 ngày/lần
+ CT.2 - Tưới vừa đủ ẩm đất hàng ngày (1-2 lần/ngày tùy điều kiện thời tiết)
+ CT.3 - Giữ ẩm thường xuyên nhờ hệ thống phun sương bán tự động hay
bằng phương pháp tưới thấm hoặc tưới nhỏ giọt.
Mỗi công thức thí nghiệm có dung lượng mẫu 36 cây và lặp lại 3 lần. Chế
độ che bóng chung là 25%, hàm lượng phân bón: phân chuồng hoai 10%.
3). Thí nghiệm về chế độ bón phân
Bón lót phân phân chuồng hoai bằng cách trộn phân với đất cát với liều
lượng phân khác nhau: CT.ĐC (0%), CT.1 (5%), CT.2 (10%), CT.3 (15%). Mỗi
công thức thí nghiệm có dung lượng mẫu 36 cây và lặp lại 3 lần. Chế độ che
bóng chung là 25%. Giữ ẩm thường xuyên bằng cách tưới nước hàng ngày.
Để đánh giá ảnh hưởng của các đặc điểm sinh thái đến sự sinh trưởng và
phát triển của cây Sâm cau chúng tôi bố trí các thí nghiệm với các công thức
như tại bảng 3.1.
15


Bảng 3.1. Các công thức thí nghiệm về đặc điểm sinh thái của loài
Thí nghiệm

Công thức

Lần lặp
1 2 3

1.1. Che bóng 0% (Đối chứng)
I. Chế độ che bóng

- Phương pháp phân tích phương sai thí nghiệm 1 nhân tố bố trí theo kiểu
tự do.
16


+ Bảng sắp xếp kết quả :
Bảng 3.2 . Bảng sắp xếp kết quả của thí nghiệm trong phân tích phương sai 1
nhân tố bố trí theo kiểu tự do
A

Trị số quan sát

Tổng

TB

1

X11, X12,……..,X1j,…….X1n1

S1

X1

2

X21, X22,……...,X2j,…….X2n2

S2


a

ni

VT = ∑∑ x

2

ij

i =1 j =1

a

Với

S = ∑Si
i =1

S2

n

a

,

n = ∑n1
i =1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status