Xác định đặc điểm một số cấu trúc cơ bản của rừng tự nhiên tại khu bảo tồn thiên nhiên tây yên tử, huyện sơn động, tỉnh bắc giang - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

---------------------------

NGUYỄN VĂN HƯNG

XÁC ĐỊNH MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CƠ BẢN CỦA RỪNG
TỰ NHIÊN TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN TÂY YÊN TỬ,
HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG

Chuyên ngành: Lâm học
Mã số : 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. VŨ TIẾN HINH

HÀ NỘI, NĂM 2010



0

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn Thạc sỹ, tôi luôn nhận
được sự động viên, giúp đỡ nhiệt tình của Nhà trường, các cơ quan và bạn bè

nhất là trong thời kỳ hội nhập, tình trạng lạm dụng tài nguyên rừng do sức ép
dân số, lương thực, chất đốt, cũng như tình trạng du canh du cư và công tác
quản lý chưa chặt chẽ, nên rừng bị tàn phá nghiêm trọng cả về số lượng và
chất lượng.
Theo số liệu công bố hiện trạng rừng toàn quốc của Bộ NN & PTNT thì
diện tích rừng tự nhiên của nước ta tính đến thời điểm 31/12/2006 là 10,4
triệu ha. Nhưng công bố của các tổ chức IUCN, UNDP và WWF (1993) [34]
trung bình mỗi năm trên thế giới mất đi khoảng 20 triệu ha rừng (riêng Việt
Nam tổng diện tích rừng bị mất đến tháng 5/2009 là 1.522,20 ha và ở tỉnh Bắc
Giang là 29,67 ha). Ở Việt Nam, độ che phủ rừng giảm đáng kể so với trước
đây: Năm 1943, diện tích rừng nước ta vào khoảng 14,3 triệu ha, tỷ lệ che phủ
khoảng 43%, năm 1993 còn 28% [33]. Đến năm 1999, theo số liệu thống kê
chỉ còn 10,9 triệu ha, trong đó 9,4 triệu ha là rừng tự nhiên; 1,5 triệu ha là
rừng trồng với độ che phủ tương ứng là 33,2 %. Vì vậy, để duy trì nguồn tài
nguyên này, việc tìm hiểu các quy luật cấu trúc cơ bản, cũng như đặc điểm
của lớp cây tái sinh có ý nghĩa rất lớn đối với sự hình thành những khu rừng mới
có chất lượng tốt hơn cũng như đối với việc quản lý bền vững tài nguyên rừng.
Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử tỉnh Bắc Giang được thành lập
theo Quyết định số 117/QĐ-UB ngày 22/7/2002 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc
Giang. Nằm trên địa phận của hai huyện Lục Nam và Sơn Động, tổng diện
tích rừng tự nhiên 16.462 ha, độ che phủ đạt 73%, trong đó: phân khu bảo vệ
nghiêm ngặt 6.716 ha; phục hồi sinh thái 9.724 ha và phân khu du lịch sinh


2

thái 22 ha. Với nhiều kiểu rừng độc đáo như: Kiểu rừng kín lá rộng thường
xanh, mưa ẩm nhiệt đới còn mang tính nguyên sinh ít bị tác động phân bố trên
núi đất, núi đá; Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng, lá kim ít bị tác động phân
bố trên núi đất; Kiểu rừng thứ sinh nhiệt đới và á nhiệt đới. Với một quần thể

- Nhóm nhân tố nội tại của hệ sinh thái rừng (các đặc trưng, quy luật
cấu trúc và động thái: tăng trưởng, tái sinh, diễn thế của hệ sinh thái rừng).
- Nhóm nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng (cơ cấu
xã hội, các chính sách sử dụng rừng…).
Nhóm nhân tố thứ nhất là cơ sở quan trọng để xây dựng các biện pháp
kỹ thuật tác động nhằm sử dụng bền vững tài nguyên rừng và hiểu biết về
nhóm nhân tố thứ hai giúp xây dựng các giải pháp kinh tế - xã hội thích hợp
cho từng điều kiện sinh thái - nhân văn cụ thể.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên hỗn loài
khác tuổi đa dạng, phức tạp thuộc các vùng nhiệt đới là chưa đủ, đặc biệt là
việc xác định cấu trúc tầng cây cao và tầng cây tái sinh của các vùng sinh thái
khác nhau, làm cơ sở quản lý rừng bền vững và phục vụ công tác kinh doanh
rừng hiệu quả, đáp ứng yêu cầu về kinh tế, xã hội, sinh thái còn chưa được đề
cập nhiều.
1.1. Ở nước ngoài
1.1.1. Phân loại trạng thái rừng
Phân loại rừng theo điều kiện tự nhiên trên thế giới rất đa dạng với các
trường phái khác nhau như:


4

- Trường phái Liên Xô cũ và một số nước Đông Âu
G.F.Môrôdốp (1912) với tác phẩm: “ Học thuyết về kiểu lâm phần ” đã
đặt cơ sở khoa học cho việc phân loại kiểu rừng và gắn liền nó với mục đích
kinh doanh. Ông đi sâu vào bản chất của rừng và tiến hành phân loại rừng dựa
vào 5 nhân tố hình thành: Đặc tính sinh thái học của loài cây cao; Hoàn cảnh
địa lý (khí hậu, thổ nhưỡng, ...); Quan hệ giữa các thực vật tạo nên quần lạc
và quan hệ qua lại giữa chúng với khu hệ động vật rừng; Nhân tố lịch sử, địa
chất; Tác động của con người.

thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo và cũng
phpng phú nhất về mặt loài cây”.
Trong rừng ẩm nhiệt đới châu Phi, Catinot. R (1974)[4] thống kê tới vài
trăm loài thực vật, còn trong tổ thành thực vật của rừng nhiệt đới ẩm ở Đông
Nam Á thường có một nhóm loài ưu thế chiếm đến 50% quần thụ (nhóm loài
cây họ Dầu).
1.1.2.2. Về cấu trúc tầng thứ
Trong quần xã thực vật rừng sự phân tầng là một trong những đặc trưng
nổi bật của rừng nhiệt đới, là kết quả của chọn lọc tự nhiên mà ở đó có sự
chung sống giữa loài cây ưa sáng (tầng trên) và loài cây chịu bóng (tầng
dưới), giữa chúng là những loài thực vật trung tính. Do sự đa dạng, phức tạp
trong cách thể hiện sự phân tầng thứ của rừng nên có nhiều ý kiến không
đồng nhất trong việc phân chia, có tác giả cho rằng ở loại rừng này chỉ có một
tầng cây gỗ. Ngược lại, có nhiều tác giả lại cho rằng rừng lá rộng thường xanh
có từ 3 đến 5 tầng. Richards (1939) phân chia rừng ở Nigieria thành 5 - 6
tầng. Tuy nhiên, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu tầng thứ rừng tự nhiên đều
nhắc đến sự phân tầng nhưng mới dừng lại ở mức nhận xét hoặc đưa ra những
kết luận mang tính định tính; việc phân chia các tầng theo chiều cao cũng


6

mang tính chất cơ giới, chưa phản ánh được sự phân tầng phức tạp của rừng
tự nhiên nhiệt đới.
1.1.2.3. Quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D1.3)
Phân bố số cây theo cỡ đường kính là quy luật kết cấu cơ bản của lâm
phần và được các nhà Lâm học, điều tra rừng quan tâm nghiên cứu. Đầu tiên
phải kể đến công trình nghiên cứu của Meyer (1934), ông đã mô phỏng phân
bố số cây theo đường kính bằng phương trình toán học (hàm Meyer), mà dạng
của nó là đường cong giảm liên tục. J.L.F Batista và H.T.Z. Docuto (1992),

- Bền vững hệ sinh thái hạt nhân và ông chỉ rõ phải có phương thức
kinh doanh tổng hợp
Ở Ca Na Đa, tháng 8 năm 1990 Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp Canada,
Maini [5] đưa ra khái niệm “Phát triển lâm nghiệp bền vững”. Ông định
nghĩa: Phát triển bền vững đất rừng và giá trị môi trường, bao gồm cả đảm
bảo năng lực sản xuất của đất rừng, khả năng tái sinh, tính đa dạng loài và hệ
sinh thái không tổn thất.
Với định nghĩa “Quản lý rừng bền vững” là quá trình quản lý đất rừng
cố định để đạt được một hoặc nhiều mục tiêu được xác định rõ ràng của công
tác quản lý trong vấn đề sản xuất liên tục các lâm sản và dịch vụ rừng mà
không làm giảm đi đáng kể những giá trị vốn có và khả năng sản xuất sau này
của rừng và không gây ra những ảnh hưởng tiêu cực thái quá đến môi trường
và xã hội”. Tổ chức gỗ nhiệt đới (ITTO) đã xây dựng bảng tiêu chuẩn và chỉ
thị (Criteria and Indicators - C&I) cho việc quản lý rừng tự nhiên, theo đó bên
cạnh những vấn đề kỹ thuật như sản lượng, chất lượng bền vững, các vấn đề
kinh tế xã hội, chính sách, thể chế được nhấn mạnh như là những điều kiện
tiên quyết cho sự thành công của công tác quản lý rừng.
Tháng 9/1998, các nước trong khu vực Đông Nam Á đã họp hội nghị lần
thứ 18 tại Hà Nội để thoả thuận về đề nghị của Malaysia xây dựng bộ tiêu chí
và chỉ số vùng ASEAN về quản lý rừng bền vững (viết tắt là C&I ASEAN).


8

C&I của ASEAN bao gồm 7 tiêu chí và chia làm 2 cấp quản lý là cấp quốc
gia và cấp đơn vị quản lý.
1.1.4. Nghiên cứu về tái sinh rừng
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh
thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con những loài
cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng: dưới tán rừng, chỗ trống trong rừng,

Nhận xét:
Trên thế giới, các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng tự
nhiên rất phong phú và đa dạng. Hầu hết các tác giả đã đi sâu vào việc tìm ra
hàm toán học thích hợp mô phỏng các quy luật phân bố thực nghiệm và quy
luật tương quan. Những nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc đã phát triển từ thấp
đến cao, từ chỗ nghiên cứu chỉ là định tính, mô tả, nay đã chuyển sang định
lượng đã mở ra hướng phát triển mới trong nghiên cứu lâm sinh học hiện đại.
Đồng thời, công tác quản lý bền vững tài nguyên rừng đã được các tác giả
cũng như nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm và đang trong giai đoạn
những bước đi ban đầu. Vì vậy, hướng nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng
tự nhiên đang rất đáng quan tâm của các nhà Lâm nghiệp.
1.2. Ở Việt Nam
1.2.1. Nghiên cứu về phân loại trạng thái rừng
Mục đích chủ yếu của phân loại rừng là nhằm xác định các đối tượng
rừng với những đặc trưng cấu trúc cụ thể, từ đó lựa chọn, đề xuất các biện
pháp lâm sinh thích hợp để điều khiển, dẫn dắt rừng đạt trạng thái chuẩn.
Loeschau (1966) đã phân loại rừng theo trạng thái hiện tại trong công
trình: Phân chia kiểu trạng thái và phương hướng kinh doanh rừng hỗn giao lá
rộng thường xanh nhiệt đới. Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã dựa trên hệ
thống phân loại của Loeschau đã sửa đổi, bổ sung và cải tiến cho phù hợp với
đặc điểm rừng tự nhiên của Việt Nam và cho đến nay vẫn áp dụng hệ thống
phân loại này (QPN 6 - 84) [43].


10

Thái Văn Trừng (1978) [32] trên quan điểm sinh thái đã chia rừng Việt
Nam thành 14 kiểu thảm thực vật. Đây là công trình tổng quát, đáp ứng được
yêu cầu về quy luật sinh thái. Xuất phát từ tính đa dạng, phong phú của rừng
nhiệt đới, tác giả kết luận: Không thể dùng quần hợp thực vật làm đơn vị phân

nhau, nhưng đều nhằm làm rõ hơn các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu.
1.2.2. Nghiên cứu về cấu trúc rừng
1.2.2.1. Cấu trúc tổ thành
Đây là nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến cấu trúc sinh thái và hình
thái của rừng. Tổ thành rừng là chỉ tiêu quan trọng dùng để đánh giá mức độ
đa dạng sinh học, tính ổn định, tính bền vững của hệ sinh thái rừng. Cấu trúc
tổ thành đã được nhiều nhà khoa học Việt Nam đề cập trong công trình
nghiên cứu của mình.
Bảo Huy (1993) [12], Đào Công Khanh (1995) [13] khi nghiên cứu tổ
thành loài cây đối với rừng tự nhiên ở Đăk Lăk và Hương Sơn - Hà Tĩnh đều
xác định: Tỷ lệ tổ thành của các nhóm loài cây mục đích, nhóm loài cây hỗ
trợ và nhóm loài cây phi mục đích cụ thể, từ đó đề xuất biện pháp khai thác
thích hợp cho từng đối tượng theo hướng điều chỉnh tổ thành hợp lý.
Lê Sáu (1996) [27], Trần Cẩm Tú (1999) [37] khi nghiên cứu cấu trúc
rừng tự nhiên ở Kon Hà Nừng - Tây Nguyên và Hương Sơn - Hà Tĩnh đã xác
định danh mục các loài cây cụ thể theo cấp tổ thành và các tác giả đều kết
luận sự phân bố của số loài cây theo cấp tổ thành tuân theo luật
phân bố giảm.
1.2.2.2. Về cấu trúc tầng thứ
Tầng thứ là nhân tố cấu trúc phản ánh sự phân bố cây rừng theo chiều
thẳng đứng. Ở Việt Nam, Thái Văn Trừng (1978) [32] đã phân chia rừng
nhiệt đới nước ta thành 5 tầng: tầng vượt tán, tầng ưu thế sinh thái, tầng dưới
tán, tầng cây bụi thấp và trảng cỏ và có chỉ ra độ cao giới hạn cho các tầng
nhưng cũng chỉ mang tính định tính.


12

Trần Ngũ Phương (1970,1998)[23] cho rằng số tầng nhiều nhất trong đai
rừng nhiệt đới mưa mùa ở Việt Nam là 05 tầng, kể cả tầng cây bụi và thảm

Với mỗi dạng cụ thể, các tác giả đã chọn những mô hình toán học thích
hợp để mô phỏng. Đồng Sỹ Hiền (1974), khi lập biểu thể tích cây đứng rừng
tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã đưa ra kết luận: Dạng tổng quát của phân bố
N/D là phân bố giảm, nhưng do quá trình khai thác chọn thô không theo quy
tắc nên đường thực nghiệm có dạng hình răng cưa. Với kiểu phân bố thực
nghiệm như vậy, tác giả đã dùng hàm Meyer và họ đường cong Pearson để
mô tả. Nguyễn Hải Tuất (1986) [38] đã sử dụng hàm Khoảng cách để mô tả
phân bố thực nghiệm dạng một đỉnh ở ngay sát cỡ đường kính bắt đầu đo. Kết
quả mô tả phân bố N/D theo hàm Khoảng cách đã được Trần Cẩm Tú (1999)
[37] kiểm nghiệm khi nghiên cứu đặc điểm rừng sau khai thác ở Hương Sơn –
Hà Tĩnh và cho kết quả tốt. Trần Văn Con (1991) [5] đã thử nghiệm một số
phân bố xác suất mô tả phân bố N/D và đưa ra nhận xét là phân bố Weibull
thích hợp nhất cho rừng tự nhiên ở Đắc Lăk.
Lê Sáu (1996) [27] khi nghiên cứu cấu trúc rừng tại Kon Hà Nừng Tây Nguyên đã kết luận: Hàm Weibull là thích hợp nhất khi mô tả phân bố
N/D cho tất cả các trạng thái rừng tự nhiên, cho dù phân bố thực nghiệm có
dạng giảm liên tục hay một đỉnh.
Gần đây, Nguyễn Thành Mến (2005) [19] đã khẳng định: Hàm Weibull
mô phỏng phân bố N/D trên các lâm phần sau khai thác tại tỉnh Phú Yên là
tốt nhất.
1.2.2.4. Quy luật phân bố số cây theo chiều cao (N/Hvn)
Những nghiên cứu của Đồng Sỹ Hiền (1974) cho thấy: Phân bố số cây
theo chiều cao (N/H) ở các lâm phần tự nhiên hay trong từng loài cây thường
có nhiều đỉnh, phản ánh kết cấu phức tạp của rừng chặt chọn. Gần đây, một số
tác giả khác như: Bảo Huy (1993), Lê Sáu (1996), Trần Cẩm Tú (1999),


14

Nguyễn Thành Mến (2005),… đã nghiên cứu phân bố N/H để tìm tầng tích tụ
tán cây. Các tác giả đều đi đến nhận xét chung là: Phân bố N/H có dạng một

mà vẫn giữ được nguyên trạng tính đa dạng sinh học, sự hỗn giao và kích
thước ban đầu của nó. Tuy nhiên, các kỹ thuật lâm sinh và các biện pháp quản
lý dựa trên cơ sở khoa học đúng đắn có thể được phát triển để bảo đảm tương
đối giá trị của tài nguyên rừng nhiệt đới.
1.2.3.2. Những mục tiêu cơ bản của quản lý rừng bền vững
- Bền vững về môi trường: Đảm bảo hệ sinh thái ổn định, giữ gìn bảo
toàn sản phẩm của rừng, đáp ứng khả năng phục hồi rừng trên quá trình
tự nhiên.
- Bền vững về xã hội: Phản ánh sự liên hệ giữa sự phát triển tài nguyên
rừng và tiêu chuẩn xã hội, không diễn ra ngoài sự chấp nhận của cộng đồng.
- Bền vững về kinh tế: Lợi ích mang lại lớn hơn chi phí đầu tư và được
truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Ở Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu phân tích những yếu
tố ảnh hưởng đến quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững. Một số đề tài
nghiên cứu đã bước đầu đề xuất các giải pháp cụ thể áp dụng cho một số vùng
như quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững lưu vực sông Sê San của
Phạm Đức Lân và Lê Huy Cường, quản lý bền vững rừng khộp ở Ea Súp Đăc Lắc của Hồ Viết Sắc, du canh với vấn đề quản lý rừng bền vững ở Việt
Nam của Đỗ Đình Sâm.
Như vậy, quản lý rừng bền vững tức là điều khiển các hệ sinh thái rừng
sao cho rừng vừa đảm bảo đáp ứng được các nhu cầu kinh tế vừa thoả mãn
các lợi ích về môi trường - xã hội một cách liên tục, lâu dài và các giải pháp
quản lý rừng về kỹ thuật, về kinh tế, xã hội phải được tiến hành một cách hợp
lý và đồng bộ.
1.2.4. Nghiên cứu về tái sinh tự nhiên
Bên cạnh các nghiên cứu về cấu trúc, tái sinh tự nhiên rừng ở Việt Nam
là vấn đề được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều tác giả.


16



được những tiềm năng, lợi ích to lớn mà rừng mang lại, đồng thời thấy được
những nguy cơ đã và đang phá hoại tài nguyên rừng của Việt Nam.
Các nghiên cứu từ cấu trúc rừng đến việc đề xuất các giải pháp kỹ thuật
trong quản lý rừng tự nhiên tại các Khu bảo tồn thiên nhiên đa dạng và phong phú.
Trong khi đó, những công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc tầng
cây gỗ, tầng cây tái sinh cho các trạng thái rừng tự nhiên ở khu bảo tồn thiên
nhiên Tây Yên Tử Bắc Giang còn ít và phân tán, chưa đầy đủ và có hệ thống.
Do đó, nghiên cứu các đặc điểm cấu trúc cơ bản của rừng tự nhiên ở Khu bảo
tồn thiên nhiên Tây Yên Tử Bắc Giang là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng
trong công tác phân loại đối tượng phục vụ việc bảo tồn, phòng hộ và phát
triển rừng bền vững.


18

Chương II : ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa lý
Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử nằm trên 4 xã là: An Lạc, Thanh
Sơn, Thanh Luận (huyện Sơn Động), Lục Sơn (huyện Lục Nam).
- Toạ độ địa lý:
+ Từ 2109' đến 21013' Vĩ độ Bắc.
+ Từ 106033' đến 10702' Kinh độ Đông.
- Địa giới hành chính:
Phía Đông và phía Nam giáp tỉnh Quảng Ninh và Hải Dương.
Phía Tây và Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn và phần còn lại của các xã Thanh
Sơn, Thanh Luận, An Lạc, Dương Hưu, Long Sơn, Lục Sơn.
Trung tâm Khu bảo tồn đặt tại thôn Nòn, xã Thanh Sơn. Cách thị trấn
An Châu, huyện Sơn Động 25 km về phía Đông Nam.

trên có nước quanh năm. Là nguồn cung cấp nước cho các xã Thanh
Sơn,Thanh Luận, Lục Sơn và An Lạc. Đảm bảo sinh hoạt và cho sản xuất cho
nhân dân địa phương.
2.1.4. Địa chất thổ nhưỡng
Đất thuộc các xã An Lạc, Thanh Sơn, Thanh Luận, Lục Sơn được hình
thành trên phức hệ đất trầm tích, gồm các loại đá mẹ Sa thạch, Phiến thạch
sét, Sa phiến thạch, Cuội kết và phù sa cổ.
Khu bảo tồn Tây Yên Tử có 2 loại đất chính sau:
- Đất Feralít trên núi, phân bố ở độ cao 300m trở lên. Hầu hết còn thực
vật che phủ, tầng đất sâu ẩm. Có lớp thảm mục khá dầy. Đất giàu dinh dưỡng.
Trong loại đất này thấy xuất hiện các loại phụ sau:
+ Đất Feralít núi màu vàng.


20

+ Đất Feralít núi màu vàng nâu.
+ Đất Feralít núi bằng, tầng B không rõ.
- Đất Feralít điển hình, phân bố ở độ cao 200 - 300m. Tập trung chủ
yếu ở khu Tây Bắc khu bảo tồn, hình thành trên đá mẹ phiến thạch, Sa thạch...
Tầng đất từ trung bình đến dầy còn tính chất đất rừng. Nơi còn rừng thì tầng
đất sâu ẩm, độ phì cao. Nơi mất rừng thì đất bị thoái hoá mạnh, nghèo dinh
dưỡng. Có các loại phụ sau:
+ Đất Ferlít màu vàng, phát triển trên đá mẹ Sa thạch, tầng đất nông,
nghèo dinh dưỡng.
+ Đất Ferlít màu vàng đỏ, phát triển trên đá mẹ Phiến thạch sét, Sa
phiến thạch...tầng đất trung bình, chất dinh dưỡng trung bình.
2.2. Những kết quả hoạt động chủ yếu
2.2.1. Công tác quản lý bảo vệ rừng
Ban quản lý khu bảo tồn đã khoán công tác BVR cho 5 tổ đội chuyên

- Động vật đặc hữu và quý hiếm:
Theo kết quả điều tra sơ bộ, rừng Tây Yên Tử có 226 loài động vật rừng,
thuộc 81 họ của 24 bộ. Trong đó có hàng chục loài động vật đặc hữu, quý hiếm
được xếp trong sách đỏ Việt Nam đang có nguy cơ tuyệt chủng, như: Cu li nhỏ
(Nycticebuspygmaeus), Voọc đen má trắng (Trchypithecusfrancoisi), Sói lửa
(Cuon Alpinus), Gấu ngựa (Ursusthibetanus), Khỉ vàng (Macaca mulatta), Hươu
vàng (Axis (Cervus) porcinus), Gà tiền mặt vàng (Polyplectronbicalcaratum), Gà
lôi trắng (Lophuranycthemera), Rùa vàng (Indotesttudoelongata), Rắn hổ mang
chúa (Ophiophagushannah). Gần đây qua nghiên cứu mới phát hiện thêm các loài
động vật đặc biệt quý hiếm như: Cá cóc sần Việt Nam (Tylototritonvietnamensis),
Ếch Yên Tử (Odorrnayentuensis).


22

+ Nhận xét:
- Khu vực nghiên cứu với diện tích 16.462 ha; có vị trí địa lý, điều kiện
tự nhiên, đất đai, khí hậu thủy văn thuận lợi cho việc phát triển sản xuất
lâm nghiệp.
- Dân cư trong khu vực nghiên cứu chủ yếu là người dân tộc thiểu số,
đây là nguồn lao động dồi dào tham gia cùng quản lý, bảo vệ và phát triển
rừng cho khu bảo tồn.
- Chủ yếu diện tích rừng tự nhiên trong khu vực nghiên cứu là rừng
trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phục hồi sinh thái, do đó cần thiết phải
nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống hơn về cấu trúc rừng, làm cơ sở đề xuất biện
pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp, nhằm dẫn dắt rừng đến trạng thái ổn định,
đáp ứng yêu cầu về bảo vệ nguồn gen, nghiên cứu khoa học và tăng cường
khả năng phòng hộ của rừng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status