Nghiên cứu đề xuất các giải pháp chính sách và kinh tế xã hội tạo động lực phát triển trồng rừng gỗ lớn ở việt nam - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
---------------------------------

Nguyễn Thu Thuỳ

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH VÀ
KINH TẾ - XÃ HỘI TẠO ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN TRỒNG
RỪNG GỖ LỚN Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS.Trần Văn Con

Hà Nội – 2010


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhu cầu gỗ nguyên liệu ngày càng tăng trong khi tiềm năng cung cấp
của rừng tự nhiên ngày càng giảm, thực tế này đã thúc đẩy các quốc gia, đặc
biệt là các nước đang phát triển ở khu vực nhiệt đới gia tăng diện tích rừng
trồng. Ở Việt Nam, diện tích rừng trồng hiện nay đã có trên 2,3 triệu ha và
đang gia tăng với tốc độ khá nhanh, trong đó rừng trồng công nghiệp cây mọc

nhân và hộ gia đình sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; quá
trình này được thể chế hoá trong các văn bản pháp luật: luật đất đai, luật bảo
vệ và phát triển rừng, Nghị định 02/CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ và
sau đó là Nghi định 163/1999/CP ngày 16/11/1999. (ii) Quá trình tích tụ (tập
trung ruộng đất) do nhu cầu của sản xuất kinh tế thị trường ở qui mô lớn, nhu
cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong sản xuất lâm nghiệp và cũng là xu thế
khách quan của quá trình sản xuất lâm nghiệp. Về mặt pháp lý thì hiện chưa
có những qui định riêng cho quá trình tích tụ ruộng đất, nhưng cũng đã có
nhiều qui định trong các văn bản pháp luật về đất đai tạo tiền đề pháp lý cho
quá trình này.
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, PGS.TS.Trần Văn Con đã
định hướng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp chính sách
và kinh tế - xã hội tạo động lực phát triển trồng rừng gỗ lớn ở Việt Nam”
với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào việc phân tích các cơ sở lý
luận và thực tiễn để đề xuất khung chính sách và các mô hình tổ chức tạo
động lực phát triển rừng trồng gỗ lớn mọc nhanh ở Việt Nam phù hợp với
mục tiêu chiến lược phát triển ngành Lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020.


3

Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, thuật ngữ chính sách được định
nghĩa : “…là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính
sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể
nào đó. Bản chất, nội dung và phương pháp của chính sách tuỳ thuộc tính chất
của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội”. Chính sách lâm
nghiệp (CSLN) là một loại chính sách chuyên ngành. Theo FAO “chính sách
lâm nghiệp là một hệ thống gồm những yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau,

- Khi nhận thức về khái niệm và nội dung của thuật ngữ CSLN ở nước
ta, cần lưu ý những vấn đề sau : (i) CSLN là một loại chính sách chuyên
ngành, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo những quy định về
VBQPPL. (ii) Mục tiêu chủ yếu của CSLN là xây dựng phát triển tài nguyên
rừng và nghề rừng bền vững. (iii) Đối tượng tác động chủ yếu của CSLN là
các hoạt động của các bên có liên quan đến rừng và nghề rừng ; (iv) Hệ thống
chính sách lâm nghiệp được thể hiện ở các loại văn bản như : (a) Đường lối,
phương châm phát triển lâm nghiệp của Đảng và nhà nước; (b) Chiến lược
phát triển lâm nghiệp ; (c) Chính sách vĩ mô của chính phủ có tác động đến
rừng và nghề rừng ; (d) Các chính sách để tăng cường nguồn lực đầu vào và
khai thông đầu ra của sản xuất và kinh doanh lâm nghiệp ; (v) Trên thực tế,
nội dung của CSLN được nghiên cứu bao gồm những quy định của nhà nước
về các quy tắc và căn cứ hành động đối với các yếu tố về : (a) Rừng và đất
lâm nghiệp ; (b) Các nguồn lực chủ yếu được sử dụng trong quá trình sản
xuất, kinh doanh các loại sản phẩm và dịch vụ lâm nghiệp ; (c) Tiêu dùng và
thị trường lâm sản ; (d) Các chính sách ở các lĩnh vực khác nhưng có gắn kết
chặt chẽ với sự tồn vong của rừng và nghề rừng.
Trong chương này, chúng tôi sẽ tổng quan các nghiên cứu về chính
sách và hệ thống chính sách hiện hành liên quan đến phát triển trồng rừng gỗ
lớn, mọc nhanh ở Việt Nam.


5

1.1. Trên thế giới
1.1.1. Các xu hướng phát triển chính sách lâm nghiệp ở nước ngoài
Kể từ hội nghị thượng đỉnh Rio 1972, khái niệm “phát triển bền vững”
đã trở thành một biệt ngữ bị lạm dụng quá nhiều nhưng ít được hiểu một cách
đúng đắn. Thật vậy, trong thời đại hôm nay, ít có một khái niệm nào lại có
nhiều định nghĩa và được tranh luận rộng rãi như vậy. Rất nhiều người có thể

các hoạt động quản lý ngay từ khi thiết lập các dự án.
Tổng quan về sự thay đổi tư duy kinh doanh rừng trên thế giới có thể
nêu lên các tư duy điển hình đang được phát triển ở một số nước như sau (Lê
Du Phong và Tô Đình Mai, 2007) [9].
- Nước Áo: đang phát triển và thịnh hành tư duy về xây dựng nông
nghiệp, lâm nghiệp xã hội và sinh thái hài hoà với tự nhiên.
- Ba Lan: đang thực thi “mô hình mới về kinh doanh rừng” với mục
tiêu là thực hiện công tác bảo vệ và kinh doanh rừng không dẫn đến tình trạng
phá hoại môi trường và cân bằng sinh thái.
- Thụy Điển: áp dụng mô hình “lâm nghiệp dựa vào điều kiện lập địa”
và cho rằng ngành lâm nghiệp hợp lý là ngành lâm nghiệp có kết hợp với
nhiệm vụ bảo vệ cảnh quan và những khu vực tự nhiên quy mô nhỏ.
- CHLB Đức thực hiện tư duy về “lâm nghiệp chính xác” với nội dung
xây dựng những phương pháp kinh doanh nhất trí với những quy tắc lâm học
đã có cơ sở khoa học và được thực tiễn chứng minh, đồng thời bảo đảm nâng
cao bền vững năng suất sản xuất sinh thái và năng suất kinh tế của đất rừng.
Nhìn chung, mục tiêu và trọng điểm kinh doanh rừng của các nước có
sự khác nhau nhưng đều có xu hướng chuyển dần từ lâm nghiệp truyền thống
(lấy kinh doanh gỗ làm mục tiêu chính) thành lâm nghiệp theo hướng bền
vững và đa chức năng, từ khai thác tài nguyên rừng đến quản lý HST.
Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa trên lý thuyết về HST là một cách
tiếp cận nhằm giải quyết sự phân tán của các hệ thống quản lý tài nguyên


7

thiên nhiên để đạt được mục tiêu phát triển bền vững đã được tăng cường một
cách ý nghĩa trong quản lý tài nguyên thiên nhiên ở các nước trong khu vực
Châu Á thái bình dương. Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) [3] đã phản
ánh sự đồng thuận và cam kết của các cấp cao nhất về việc làm thế nào để đạt

nghiệp là ở chỗ: tạo ra sự tối ưu cho sức sản xuất tổng hợp của HST rừng phù
hợp với các nhu cầu của xã hội loài người. Sức sản xuất tổng hợp của các
HST rừng bao gồm 5 hợp phần sau đây:
(1). Chức năng sản xuất (hay chức năng kinh tế): thể hiện ở khả năng
sản xuất ra các lâm sản (gỗ và lâm sản ngoài gỗ) có giá trị thương mại và giá
trị sử dụng vật chất.
(2). Chức năng phòng hộ: thể hiện ở khả năng bảo vệ không gian
sống, không gian sản xuất trước các nguy cơ của thiên tai lũ lụt, hạn hán, sạt
lở, tiếng ồn...
(3). Chức năng môi sinh: thể hiện ở khả năng tái tạo lại và điều hoà
các nhân tố cơ bản của sự sống như nước, không khí, khí hậu, đất đai...
(4). Chức năng giải trí: thể hiện ở khả năng khôi phục sức khoẻ, giảm
stress, thư giản tinh thần cho con người.
(5). Chức năng bảo tồn đa dạng sinh học: thể hiện ở khả năng bảo vệ
và duy trì đa dạng sinh học bảo đảm cho sự bền vững của quá trình tiến hoá.
Các chức năng riêng biệt này của HST rừng không thể thay thế lẫn
nhau. Về thứ tự tầm quan trong của mỗi chức năng thì phụ thuộc vào điều
kiện kinh tế-xã hội của từng vùng, từng quốc gia, từng giai đoạn phát triển. Ở
nước ta trong giai đoạn trước mắt thì chức năng kinh tế có tầm quan trọng thứ
nhất. Tuy nhiên tầm quan trong của các chức năng sẽ thay đổi theo sự phát
triển của đất nước. Có thể sắp xếp vị trí tầm quan trọng của 5 chức năng trên
đây từ việc suy ngược lại về hậu quả của việc mất chúng đối với sự phát triển
của loài người:


9

- Mối đe doạ lớn nhất cho sự tiến hoá bền vững của xã hội loài người
là mối đe doạ về suy giảm đa dạng loài dẫn đến rối loạn cơ chế điều chỉnh
chức năng hệ thống của chúng => Cần chức năng bảo tồn đa dạng sinh học.

Các VBQPPL cần phải làm cho các bên liên quan và toàn xã hội hiểu đúng
bản chất khái niệm rừng và nghề rừng; vai trò và vị trí của nó trong các chức
năng kinh tế, môi trường và xã hội. Các vấn đề cụ thể cần được xác định ở
đây là : (i) xác định và tổ chức lâm phận quốc gia ổn định ; (ii) Phân biệt
quyền sở hữu và quyền kinh doanh rừng ; (iii) xác định rõ nội dung quản lý
rừng của chủ rừng và quản lý nhà nước về rừng ; (iv) Xác định chế độ sử
dụng rừng và cơ chế quản lý rừng sao cho thực sự linh hoạt, không quy định
một cách thống nhất, máy móc.
(2). Trên cơ sở tìm hiểu kỹ các xu hướng và nội dung quản lý rừng
trên thế giới để nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về rừng. Cụ thể: (i)
Nâng cao nhận thức và đổi mới tư duy về nghề rừng và quản lý nghề rừng
trên cơ sở tiếp cận quản lý rừng bền vững, đa chức năng và tiếp cận quản lý
hệ sinh thái ; (ii) Xác định đúng tầm quan trọng của rừng tự nhiên và lựa chọn
phương thức quản lý rừng, giải pháp lâm sinh phù hợp ; (iii) Phát triển rừng
trồng các loài cây cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ và các
loài cây khác có giá trị kinh tế cao trên đất lâm nghiệp, nhất là trên đất rừng
sản xuất ; (iv) Xây dựng và ban hành các chỉ tiêu đánh giá tài nguyên rừng
bền vững trên cơ sở lồng ghép các CSLN với chính sách phát triển nông
nghiệp, nông thôn miền núi.
(4). Đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác và phát triển
nhiều thành phần kinh tế trong kinh doanh rừng và nghề rừng.
(5). Xác định rõ vai trò và sự can thiệp của nhà nước.
1.1.2. Các xu thế tổ chức và thể chế lâm nghiệp
Lâm nghiệp bao gồm hai lĩnh vực thống nhất biện chứng với nhau, đó
là: xây dựng rừng và sử dụng rừng.
Xét về khía cạnh phân công nhiệm vụ giữa hai lĩnh vực này, về cơ bản
có hai mô hình tổ chức quản lý lâm nghiệp:
Mô hình thứ nhất, tách hai lĩnh vực: xây dựng rừng và sử dụng rừng
riêng biệt và giao cho hai loại tổ chức khác nhau đảm nhiệm. Trong mô hình


nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về rừng để thành lập một tổ chức
kinh doanh rừng riêng và thực hiện chế độ hạch toán như xí nghiệp kinh


12

doanh. Các nước Thụy Điển, CHLB Đức, Pháp, Áo, Canada, New Zealand,
Ấn Độ, … đang thực hiện mô hình này.
Đối với rừng thuộc sở hữu tư nhân, hiện tại có ba mô hình tổ chức
kinh doanh như sau:
Mô hình 1: Tổ hợp rừng tư nhân, các chủ rừng hợp tác với nhau để tổ
chức thành tổ hợp rừng, xây dựng thành các hình thức liên hợp kinh doanh
giữa các chủ rừng, tạo điều kiện nâng cao qui mô kinh doanh rừng tư nhân cả
về phương diện diện tích và sản lượng sản phẩm.
Mô hình 2: Tổ chức hiệp hội các chủ rừng, nhiệm vụ của hiệp hội là tổ
chức hợp tác, cung ứng dịch vụ, tiêu thụ kinh doanh gỗ và chế biến gỗ.
Mô hình 3: Tổ chức rừng công ty: là rừng do các công ty chế biến gỗ
đầu tư trồng để ổn định nguyên liệu và thuộc quyền sở hữu của công ty.
Tất cả các hình thức tổ chức này cần được nghiên cứu tham khảo để
áp dụng cho việc tổ chức kinh doanh rừng trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam.
1.2.3. Các vấn đề liên quan đến trồng rừng gỗ lớn mọc nhanh
Trong vài thập kỷ gần đây, việc gia tăng diện tích rừng trồng cây gỗ
mọc nhanh đã làm bùng nổ nhiều cuộc tranh luận liên quan đến nhiều vấn đề
rất khác nhau. Trong những tranh luận này, có hai quan điểm trái ngược nhau
khi đánh giá tác động của sự gia tăng về diện tích rừng trồng, đặc biệt là rừng
trồng cây mọc nhanh luân kỳ ngắn. Quan điểm thứ nhất cho rằng rừng trồng
ảnh hưởng tốt đến môi trường bằng cách chuyển hoá CO 2, ánh sáng và nước
thành gỗ và O2, điều tiết nguồn nước, chống xói mòn trên đất dốc, hạn chế lũ
lụt,… đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội thông qua cung cấp gỗ, củi và
các lâm sản khác; họ cho rằng phát triển rừng trồng sẽ làm giảm áp lực vào

phát triển rất mạnh ở một số nước cả các nước phát triển và đang phát triển.
Khoảng 30 năm trước, Brazil trở thành nước thứ nhất ở Nam Mỹ thiết lập
diện tích lớn rừng trồng cây mọc nhanh. Tiếp theo đó là các nước Chile,
Argentina và Uruguay. Ngày nay, bốn nước này có khoảng 2 triệu ha rừng
trồng Bạch đàn thâm canh nguyên liệu giấy, trong khi Brazil có thêm 2 triệu
ha rừng Bạch đàn trồng cho sản xuất than công nghiệp. Cũng trong giai đoạn
này, Thổ Nhĩ Kỳ và Tây Ban Nha đã thiết lập hơn 1 triệu ha Bạch đàn nguyên


14

liệu giấy, khoảng 2/3 diện tích rừng này được xác định là mọc nhanh. Những
gì đã xẩy ra ở Nam Mỹ và Nam Âu cũng đã diễn ra trong khoảng 10 năm trở
lại đây ở Đông Nam Á, cụ thể là ở Indonesia với hơn một triệu ha rừng rừng
trồng nguyên liệu giấy, phần lớn là rừng Keo tai tượng (Acacia mangium). Có
thể ước lượng rằng, hiện tại có gần 10 triệu ha rừng trồng cây mọc nhanh trên
phạm vi toàn cầu; mỗi năm diện tích này gia tằng khoảng 0,8 đến 1,2 triệu ha;
và việc mở rộng rừng trồng cây mọc nhanh sẽ tiếp tục trong tương lai gần.
Ngành công nghiệp giấy tiếp tục có nhu cầu rất lớn nguyên liệu giấy sợi mà
phần lớn được đáp ứng từ rừng trồng cây mọc nhanh. Việc tái sử dụng giấy
phế thải đang được các nhà môi trường và các chính phủ khuyến khích sẽ vẫn
không đáp ứng được nhu cầu về giấy.
Tương tự, công nghiệp luyện thép vẫn tiếp tục có nhu cầu rất lớn về
than công nghiệp, một sản phẩm khác của rừng cây mọc nhanh. Phần lớn việc
mở rộng rừng trồng cây mọc nhanh sẽ được chờ đợi ở Nam Mỹ và Đông Á,
cụ thể là Trung Quốc. Rừng trồng gỗ mọc nhanh sẽ phát triển một cách hiển
nhiên ở đây, cho dù chúng ta muốn hay không. Việc đánh giá lại các quan
điểm ủng hộ và phản đối rừng trồng cây gỗ mọc nhanh là một chủ đề rất phức
tạp. Thỉnh thoảng, trồng rừng là một cách sử dụng đất tuyệt vời, thỉnh thoảng
lại không phải như vậy. Ở một địa phương nào đó, rừng trồng có thể có những

dịch vụ môi trường cho các thành phố, đặc biệt ở các vùng khô hạn, rừng
trồng để giữ nước. Mục tiêu thương mại của rừng trồng thì ngược lại, nhằm
sản xuất khối lượng lớn gỗ nguyên liệu với giá thành cạnh tranh và thời gian
đạt sản phẩm cuối cùng càng nhanh càng tốt, nó phải có năng suất tối thiểu
15m3/ha/năm. Tuy rừng trồng cây mọc nhanh có thể cung cấp nhiều loại sản
phẩm, nhưng chủ yếu chúng chỉ có một chức năng thương mại. Một số cung
cấp gỗ để sản xuất ván sàn; một số để sản xuất than; một số ít cung cấp gỗ xẻ;
và quan trọng nhất là sản xuất nguyên liệu cho ngành công nghiệp giấy. Đặc
điểm có tính đặc trưng nhất của rừng trồng cây mọc nhanh và ảnh hưởng của
nó mà chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là rừng trồng có chu kỳ ngắn, thuần
loài với quy mô lớn và các loài chủ yếu là Bạch đàn, Keo, Thông và Bạch
dương. Các rừng trồng này tạo thành phương thức sử dụng đất chủ yếu hoặc ít
ra thì cũng chiếm ưu thế trong một vùng cảnh quan. Chúng được sở hữu bởi


16

một công ty hoặc của nhiều hộ gia đình trồng rừng để bán cho các công ty với
cường độ kinh doanh cao. Những nhóm người có thái độ phản đối việc gia
tăng diện tích rừng trồng cây mọc nhanh là các nhóm đang vận động cho việc
bảo vệ rừng mưa. Các nhóm môi trường khác cũng phê phán việc trồng cây
mọc nhanh ở vùng nhiệt đới bao gồm tổ chức hoà bình xanh, cơ quan nghiên
cứu môi trường, mạng lưới rừng bản địa và mạng lưới hành động rừng mưa.
Một số nhóm khác có thái độ ủng hộ mặc dầu họ không dành nhiều thời gian
cho việc tuyên truyền các luận điểm của họ. Không có các vận động hành
lang tích cực nhằm khuyến khích rừng trồng cây mọc nhanh ở quy mô quốc
tế. Tuy nhiên, các tập đoàn công nghiệp dẫn đầu cũng đã tiến hành các vận
động cho trồng rừng cây mọc nhanh. Ở nhiều nước, nhiều công ty, nhà lâm
nghiệp hàn lâm, các cơ quan phát triển và các tổ chức khác cũng tin tưởng
rằng lâm nghiệp cây mọc nhanh rất hữu ích cho xã hội.

đang bị khủng hoảng hoặc bị lỗi thời. Ít nhất có thể nhấn mạnh ba khía cạnh
của sự khủng hoảng trong quan niệm về ngành lâm nghiệp hiện nay:
Thứ nhất, rừng ngày càng bị suy giảm kéo theo các hậu quả nghiêm
trọng về môi trường sinh thái, lũ lụt, hạn hán, sa mạc hoá... gia tăng; ĐDSH
suy giảm; xói mòn đất đai; thay đổi khí hậu theo chiều hướng không có lợi
cho sự tồn tại của con người.
Thứ hai, cơ chế chính sách của nhà nước thiếu đồng bộ, không nhất
quán, thậm chí không minh bạch tạo ra sự lộn xộn trong quản lý đất đai giữa
các cộng đồng dân bản địa, các nông, lâm trường và đất đai cá nhân.
Thứ ba, những thử nghiệm mới trong quản lý tài nguyên rừng như
quản lý rừng dựa vào cộng đồng, nhất thể hoá thực tiễn bảo tồn ĐDSH trong
quản lý rừng phòng hộ và rừng sản xuất và thực hiện quản lý có sự tham gia
trong các lưu vực đầu nguồn đã mang lại nhiều hứa hẹn và thuyết phục được
nhiều đối tác.
Tất cả những khía cạnh đó là dấu hiệu cho thấy quan niệm lâm nghiệp
hiện nay của chúng ta cần phải được thay đổi để làm cơ sở cho việc hoàn
thiện hệ thống CSLN.
Trần Văn Con (2008) [5] đã thảo luận về các vấn đề liên quan đến
CSLN trong ba lĩnh vực sau đây:


18

(1) Trong kinh tế doanh nghiệp
Hệ thống tổ chức lâm nghiệp của chúng ta đang nằm trong tiến trình
đổi mới. Theo tinh thần của quyết định 187/1999/QĐ-TTg ngày 16/9/1999
của Thủ tướng Chính phủ thì các lâm trường quốc doanh sẽ được sắp xếp lại
thành hai hình thức tổ chức với cơ chế hoạt động khác nhau: (i) Các lâm
trường quản lý rừng sản xuất và rừng phòng hộ ít xung yếu hoạt động theo cơ
chế kinh doanh; và (ii) Các ban quản lý rừng phòng hộ/rừng đặc dụng hoạt

thành loài).
- Các doanh nghiệp quản lý rừng nghèo và đất chưa có rừng buộc phải
đầu tư rất lớn cho công tác trồng rừng, cải tạo, làm giàu rừng... Đó là những
đầu tư cần thời gian rất dài mới thu hồi được vốn. Điều này buộc họ phải
chọn những loài cây sinh trưởng nhanh, có giá trị kinh tế cao và do đó lại vi
phạm nguyên tắc bền vững xét về mặt ĐDSH và các dịch vụ khác của rừng.
- Các ban quản lý rừng phòng hộ và rừng đặc dụng phụ thuộc vào kinh
phí sự nghiệp do Nhà nước cấp, nguồn kinh phí này rất hạn chế và sẽ không
thể duy trì được lâu dài nếu như bản thân những giá trị của những khu rừng
phòng hộ và đặc dụng không được hạch toán và thị trường hoá.
- Trong trường hợp rừng được giao cho người dân thì các hậu quả của
sự ràng buộc trong lợi ích kinh tế lại càng phức tạp hơn. Người dân không thể
vay vốn để đầu tư cho các công việc mà trong đời họ có thể chưa được thu
hồi. Nguy cơ của việc khai thác quá tải tài nguyên là rất lớn.
Giải pháp duy nhất để vượt qua các vấn đề này là đẩy mạnh sản xuất
lâm sản hàng hoá và thị trường hoá các giá trị phi vật chất của rừng; các giá
trị xã hội, môi trường cảnh quan, phòng hộ... của rừng đối với cộng đồng và
xã hội cần được tính toán ít nhất là theo một thanh giá trị tương đối.
(2) Trong kinh tế quốc dân và chính sách lâm nghiệp
Có các nhóm quyền lợi khác nhau đang cạnh tranh xung quanh việc sử
dụng tài nguyên rừng và trách nhiệm quản lý rừng. Trong khi đó khung pháp
lý và hệ thống chính sách thể chế (chẳng hạn như sự phân quyền giữa Nhà
nước và các cộng đồng dân địa phương), các hình thức tổ chức (ví dụ các lâm
trường, các ban quản lý, hợp tác xã, hội...), các phương pháp phân loại và
đánh giá các chức năng của rừng, các hình thức sử dụng và nguyên tắc phân


20

phối quyền lợi tỏ ra hoàn toàn không thích hợp với tình hình thực tế. Một

21

trường trồng rừng chỉ có nhiệm vụ trồng rừng, chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo
vệ rừng. Sản phẩm cuối cùng của họ là cây đứng. Các xí nghiệp khai thác
mua cây đứng để khai thác. Kết quả là các lâm trường trồng rừng chỉ quan
tâm đến việc trồng rừng theo chỉ tiêu kế hoạch sao cho được nghiệm thu, còn
chất lượng, sản lượng rừng thì họ không quan tâm. Trong khi đó các xí nghiệp
khai thác lại chỉ quan tâm đến vấn đề làm sao cho đạt được các chỉ tiêu khai
thác với giá thành thấp nhất. Việc đổ vỡ rừng và ảnh hưởng sau khai thác
không phải là vấn đề của họ. Sự tách biệt giữa hai khâu: xây dựng rừng và
khai thác rừng cho hai chủ thể kinh tế khác nhau là siêu hình và được xuất
phát từ nhận thức sai lầm về đối tượng rừng dẫn đến những thất bại làm suy
thoái tài nguyên rừng.
Rừng, gắn liền với đất, là một HST, nó là một bộ phận của trái đất.
Các chức năng của rừng và các ảnh hưởng tương hỗ của nó với các bộ phận
khác (ví dụ: sông hồ, đại dương, đồng cỏ, núi đá...) có vai trò quyết định. Mỗi
một tác động vào rừng đều có những ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hệ
thống tổng thể (trái đất) và ngược lại, các ảnh hưởng này lại tác động ngược
trở lại với sự phát triển của rừng.
Do vậy, một nền lâm nghiệp bền vững phải, nói đúng hơn là bắt buộc
phải chú ý đến các tương quan tổng thể, toàn cầu. Ngoài ra các tác động của
các lĩnh vực khác (và ảnh hưởng của nó) đến rừng cũng phải được nghiên cứu
(tác hại thiên tai, ô nhiễm không khí, công nghiệp hoá, nông nghiệp, chăn
nuôi, du lịch ...). Nhận thức khoa học phải làm tiền đề cho CSLN. Nói cách
khác, xây dựng phát triển rừng cũng chính là vận dụng hợp nhất kinh tế quốc
dân và kinh tế doanh nghiệp bằng các biện pháp kỹ thuật thích hợp dựa trên
cơ sở sinh thái và hệ thống tổng thể.
Vì vậy, một nhà lâm nghiệp luôn luôn đặt những ý niệm chiến lược
hướng tới tương lai, cũng như ý thức về hệ thống tổng thể trong mối quan hệ
tương tác giữa kinh tế quốc dân và kinh tế doanh nghiệp trong tư duy và hành

năm đối với đất nông nghiệp và 50 năm đối với đất lâm nghiệp) đã thúc đẩy
việc sử dụng, đầu tư vào đất đai có hiệu quả và bền vững.
Tuy vậy trong quá trình thực hiện các chính sách đất đai cũng nổi lên
những vấn đề cần được quan tâm giải quyết trong thực tiễn nhằm nâng cao


23

hơn nữa năng lực sản xuất của đất, sử dụng một cách bền vững, đảm bảo
chính sách an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo của Chính phủ. Gần đây nhất
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 7 đã ra nghị quyết “Về nông nghiệp,
nông dân, nông thôn” trong đó có nêu rõ “ tiếp tục khẳng định đất đai là sở
hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch, kế hoạch để sử
dụng có hiệu quả; giao đất cho HGĐ sử dụng lâu dài; mở rộng hạn mức sử
dụng đất; thúc đẩy quá trình tích tụ đất đai; công nhận quyền sử dụng đất
được vận động theo cơ chế thị trường, trở thành một nguồn vốn trong sản
xuất, kinh doanh. Ban hành chính sách định giá bảo đảm hài hòa quyền lợi
của người sử dụng đất, của nhà đầu tư và của Nhà nước trong quá trình giải
tỏa, thu hồi đất. Có cơ chế khuyến khích những tổ chức, cá nhân tham gia góp
vốn bằng quyền sử dụng đất để thành lập công ty, vào các dự án đầu tư, kinh
doanh khi có đất bị thu hồi. Có chính sách giải quyết tốt vấn đề đất ở, nhà ở,
việc làm cho người bị thu hồi đất; có quy hoạch và cơ chế bảo vệ vững chắc
đất trồng lúa.
Qua đó có thể thấy được những tồn tại cơ bản liên quan tới việc sử
dụng đất đai và quyền sử dụng đất đai trong thực tiễn:
a) Qui hoạch sử dụng đất đai
Những qui hoạch sử dụng đất đai chưa có đầy đủ luận cứ khoa học
dẫn đến qui hoạch treo, người sử dụng đất tự thay đổi cây trồng theo thị
trường bấp bênh mà không kiểm soát, hướng dẫn được gây ra các rủi ro trong
sản xuất… Các liên kết phối hợp các ngành trong qui hoạch sử dụng đất đai

dụng rừng đặc biệt với rừng phòng hộ và đặc dụng.
1.2.2.2. Những Quy định về quản lý bảo vệ rừng
Ngày 12 tháng 8 năm 1991 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật bảo vệ và phát triển
rừng. Luật bảo vệ và phát triển rừng đã xác định: “Rừng là tài nguyên quý báu
của đất nước, có khả năng tái tạo, là bộ phận quan trọng của môi trường sinh
thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liền với đời sống của
nhân dân và sự sống còn của dân tộc”, đồng thời quy định rõ về các loại rừng,
trách nhiệm trong quản lý nhà nước về rừng và đất rừng, quy định về bảo vệ
rừng, trách nhiệm của nhà nước và nhân dân trong việc phát triển rừng và sử



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status