BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------
NGUYỄN CAO CƯỜNG
GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
Ở HUYỆN YÊN KHÁNH – TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------
NGUYỄN CAO CƯỜNG
GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
Ở HUYỆN YÊN KHÁNH – TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã Số: 60620115
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập. Đặc biệt, tôi bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến
TS. Nguyễn Thị Xuân Hương đã tận tình hướng dẫn khoa học và giúp đỡ trong suốt
quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn UBND huyện Yên Khánh và các cơ quan liên
quan; UBND các xã Khánh Mậu, Khánh Vân, Khánh Công đã cung cấp các số liệu
và nhiệt tình giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt các hoạt động nghiên cứu của mình.
Để thực hiện luận văn, bản thân tôi luôn cố gắng nghiên cứu, học hỏi với tinh
thần tận tâm và nỗ lực cao. Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian, tài liệu tham khảo và
kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học, đề tài chắc chắn không tránh khỏi những thiếu
sót nhất định. Tôi rất mong muốn nhận được sự góp ý xây dựng từ quý thầy cô, các nhà
khoa học, các chuyên gia và những người quan tâm để đề tài được hoàn thiện hơn và
có thể thực thi tốt trong thực tiễn.
Tác giả luận văn
Nguyễn Cao Cường
iii
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan ................................................................................................................ i
Lời cảm ơn ..................................................................................................................ii
Mục lục ...................................................................................................................... iii
Danh mục các chữ viết tắt ........................................................................................... v
Danh mục các bảng .................................................................................................... vi
ĐẶT VẤN ĐỀ............................................................................................................. 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÓI, NGHÈO VÀ
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG ..................................................................................... 4
1.1. Cơ sở lý luận về đói, nghèo và giảm nghèo bền vững ......................................... 4
Khánh giai đoạn 2011 - 2013 .................................................................................... 54
3.2.1. Kết quả giảm nghèo bền vững theo các chương trình, chính sách ................. 54
3.2.2. Đánh giá những thành công và hạn chế của các chương trình, chính sách giảm
nghèo bền vững ở huyện Yên Khánh ........................................................................ 66
3.3. Kết quả điều tra tình hình giảm nghèo bền vững ở huyện Yên Khánh .............. 68
3.3.1. Đặc điểm cơ bản của các hộ điều tra ............................................................... 68
3.3.2. Đánh giá hiệu quả chương trình giảm nghèo của ở 3 xã điều tra ................... 76
3.4. Đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến công tác giảm nghèo bền vững trên địa
bàn huyện Yên Khánh ............................................................................................... 78
3.5. Đánh giá chung về công tác giảm nghèo bền vững ở huyện Yên Khánh, tỉnh
Ninh Bình .................................................................................................................. 81
3.5.1. Đánh giá chung ............................................................................................... 81
3.5.2. Những kết quả đạt được .................................................................................. 82
3.6. Một số giải pháp giảm nghèo bền vững ở huyện Yên Khánh ............................ 88
3.6.1. Mục tiêu công tác giảm nghèo ........................................................................ 88
3.6.2. Một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân ở huyện Yên Khánh,
tỉnh Ninh Bình ........................................................................................................... 89
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ......................................................................... 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
STT
Nguyên nghĩa Tiếng Việt
6
ESCAP
Ủy ban kinh tế xã hội Châu Á - Thái Bình Dương
7
HĐND
Hội đồng nhân dân
8
HTX
Hợp tác xã
9
KHKT
Khoa học kỹ thuật
10
MTTQ
Mặt trận Tổ quốc
16
UBND
Uỷ ban nhân dân
17
XDCB
Xây dựng cơ bản
18
XĐGN
Xoá đói giảm nghèo
19
XKLĐ
Xuất khẩu lao động
20
SX
Sản xuất
giảm nghèo ở huyện Yên Khánh
Trang
37
40
50
52
58
64
3.5
Đặc điểm cơ bản của mẫu điều tra năm 2014
68
3.6
Tình hình thu nhập của hộ điều tra năm 2014
70
3.7
Nguyên nhân nghèo đói của hộ điều tra năm 2014
hậu, kém phát triển. Việt Nam đã giành nhiều chương trình ưu tiên cho thúc đẩy
phát triển kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh đi đôi với XĐGN tích cực và
bền vững. Để giảm nhanh tỷ lệ đói nghèo, tháng 7/1998, Chính phủ chính thức phê
duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN (Chương trình 133) cho giai đoạn
1998 - 2000; phê duyệt Chương trình 135 hỗ trợ phát triển 1715 xã nghèo đặc biệt
khó khăn ở miền núi, vùng sâu, vùng xa; tháng 5/2011 Chính phủ ban hành Nghị
quyết 80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011 - 2020. Do vậy
trong 10 năm trở lại đây Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng trong tăng
trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm nhanh, bình quân
mỗi năm giảm từ 2 - 3%. Thành quả xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đã được
cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao, coi đó là một trong những "câu chuyện
thành công nhất" trong thời kỳ đổi mới.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được nước ta cũng còn rất
nhiều huyện, xã chưa giải quyết tận gốc vấn đề nghèo đói. Những kết quả đạt được
chưa mang tính bền vững bởi vì thu nhập của người dân hầu hết đều xoay quanh ở
mức cận nghèo. Do vậy rất dễ rơi vào tình trạng tái nghèo khi gặp những tác động
2
không thuận lợi tới đời sống và sản xuất của họ. Đặc biệt đối với hộ nông dân miền
núi, vùng nông thôn, cơ sở hạ tầng kém phát triển, trình độ sản xuất hàng hoá và
tiếp cận thị trường còn hạn chế... Hiện nay, trong tổng số những người nghèo của cả
nước, có tới 85% số người nghèo tập trung ở nông thôn và 1/3 trong số đó tập trung
tại khu vực miền núi. Để đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nước ta từ nay
đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp thì vấn đề giảm nghèo bền
vững cần được ưu tiên thực hiện hàng đầu.
Trong quá trình phát triển kinh tế và xã hội, cùng với các địa phương khác
trong cả nước, huyện Yên Khánh - tỉnh Ninh Bình đã có nhiều cố gắng trong công
tác xóa đói, giảm nghèo. Kết quả là từ năm 2000 đã được công nhận là địa phương
thoát đói. Công tác giảm nghèo của huyện cũng đã đạt được một số kết quả theo các
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi về nội dung: Giải pháp giảm nghèo bền vững ở huyện Yên Khánh,
tỉnh Ninh Bình.
- Phạm vi về không gian: Giảm nghèo bền vững trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình, khảo sát điều tra sẽ
được thực hiện ở 3 xã Khánh Vân, Khánh Mậu và Khánh Công vì đây là đơn vị có
tỷ lệ hộ nghèo cao trong huyện.
- Phạm vi về thời gian: Số liệu thu thập trong 3 năm: 2011, 2012, 2013; số
liệu khảo sát được điều tra, phỏng vấn từ tháng 3 đến tháng 6/2014.
4. Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về đói, nghèo và giảm nghèo bền vững.
- Thực trạng giảm nghèo bền vững ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình giai
đoạn 2011-2013.
- Một số giải pháp giảm nghèo bền vững ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, giải trình viết tắt, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo, luận văn gồm có 3 chương, 10 tiết:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đói, nghèo và giảm nghèo
bền vững.
Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu.
Kết luận và khuyến nghị
4
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÓI, NGHÈO
VÀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
1.1. Cơ sở lý luận về đói, nghèo và giảm nghèo bền vững
1.1.1. Lý luận chung về đói, nghèo
Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và
thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống (nhu cầu về ăn, mặc,
nhà ở, chăm sóc y tế, giáo dục...).
Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức
trung bình của cộng đồng tại địa phương, ở một thời kỳ nhất định.
Những quan niệm về đói nghèo nêu trên, phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của
người nghèo là: Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành
cho con người; có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng; thiếu cơ hội lựa chọn
tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
Nghèo tuyệt đối chủ yếu phản ánh tình trạng một bộ phận dân cư không được
thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu của con người, trước hết là ăn, mặc, ở.
Nghèo tương đối lại phản ánh sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư khi
so sánh với mức sống trung bình của cộng đồng địa phương trong một thời kỳ nhất
định. Do đó, có thể xóa dần nghèo tuyệt đối, còn nghèo tương đối luôn xảy ra trong xã
hội, vấn đề quan tâm ở đây là rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu nghèo và hạn chế
sự phân hóa giàu nghèo, giảm thiểu tới mức thấp nhất tỷ lệ nghèo tương đối.
Dựa vào những khái niệm chung do các tổ chức quốc tế đưa ra và căn cứ vào
thực trạng kinh tế - xã hội ở Việt Nam, trong chiến lược toàn diện về tăng trưởng và
xoá đói, giảm nghèo năm 2010, Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo
do Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ
chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9/1993. Đồng thời vấn đề đói nghèo ở Việt
Nam còn được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình và cộng
đồng, do đó bên cạnh khái niệm nghèo đói, ở nước ta còn có một số khái niệm sau:
Đói: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống cực thấp so với mức
nhu cầu tối thiểu; chịu đói và chịu đứt bữa, không đủ mặc và có mức cung cấp
6
khoảng từ 1500 - 2000 calo/người/ngày. Theo cách hiểu này, thì đói là tình trạng
một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu thu nhập không đảm bảo nhu
7
tiêu đánh giá nghèo đói trong một quốc gia xuất phát từ việc xác định để đưa ra một
giới hạn cho sự nghèo đói của quốc gia mình. Các quốc gia khác nhau sử dụng các
tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá mức độ giàu nghèo. Tình trạng nghèo đói ở mỗi
quốc gia khác nhau về cả mức độ và số lượng, thay đổi theo thời gian và không
gian. Trên thế giới người ta đang đưa ra những chỉ tiêu để đánh giá nước giàu, nước
nghèo là thu nhập bình quân trên đầu người, tỷ lệ hộ giàu và hộ nghèo. Khi đánh giá
hộ giàu và hộ nghèo để thực hiện XĐGN thì giới hạn nghèo đói được hiểu là giới
hạn thu nhập bình quân tính theo đầu người. Quy mô sự nghèo đói của một vùng
hoặc quốc gia được xác định bằng tỷ lệ số hộ nghèo/tổng số dân cư thuộc vùng hoặc
quốc gia đó. Để đánh giá mức nghèo của một nước hay một địa phương, có nhiều
tiêu chuẩn được áp dụng như chỉ số nghèo của con người (Human poverty index HPI). Trong đó, chỉ số HPI bao gồm: tỷ lệ số người sống dưới 40 tuổi; tỷ lệ mù chữ;
tỷ lệ người không được tiếp cận nguồn nước sạch, dịch vụ y tế và tỷ lệ trẻ em dưới
4 tuổi bị suy dinh dưỡng; mức chênh lệch về thu nhập hoặc về chi tiêu giữa 20%
dân cư giàu nhất với 20% dân cư nghèo nhất.
Từ những luận giải trên ta có khái niệm về chuẩn nghèo như sau:
Chuẩn nghèo là mức thu nhập (hoặc chi tiêu) bình quân đầu người mà một
quốc gia quy định dùng làm tiêu chuẩn để xác định người nghèo hoặc hộ nghèo. Theo
đó, những người hoặc những hộ có thu nhập (hoặc chi tiêu) bình quân đầu người thấp
hơn chuẩn nghèo được coi là người nghèo hoặc hộ nghèo.
Chuẩn nghèo biến động theo không gian và thời gian. Xác định chuẩn nghèo
là hết sức cần thiết đồng thời khi hoạch định chính sách các nhà quản lý phải hiểu rõ
phương pháp tính chuẩn nghèo ảnh hưởng thế nào đến việc phân bổ nguồn lực xóa
đói giảm nghèo của quốc gia.
Ngân hàng thế giới (WB) đã đưa ra thước đo nghèo đói như sau:
- Các nước công nghiệp phát triển là 14 USD/ngày/người.
- Các nước Đông Á: 4USD/ngày/người.
- Các nước thuộc Mỹ latinh và vùng Caribê là 2USD/người/ngày.
- Các nước đang phát triển là 1USD/người/ngày và đối với các nước nghèo, một
số người được coi là đói nghèo khi mà thu nhập dưới 0,5 USD/ngày/người. Đồng thời để
nhập như sau: Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng; vùng nông
thôn đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng; thành thị: dưới 25kg/người/tháng.
9
+ Giai đoạn 1997 - 2000 (Công văn số 1751/LĐTBXH): Hộ đói là hộ có mức
thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13 kg, tính cho
mọi vùng. Hộ nghèo là hộ có thu nhập như sau: Vùng nông thôn miền núi, hải đảo:
dưới 15 kg/người/tháng, tương đương 55.000 đồng; vùng nông thôn đồng bằng,
trung du: dưới 20 kg/người/tháng, tương đương 70.000 đồng; thành thị: dưới
25kg/người/tháng, tương đương 90.000 đồng.
- Giai đoạn 2001 - 2005: Bộ LĐ-TB&XH (Quyết định số 1143/2000/QĐLĐTBXH): Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 80.000 đồng /người/tháng; vùng
nông thôn đồng bằng: dưới 100.000 đồng/người/tháng; thành thị: dưới 150.000
đồng/người/tháng.
- Giai đoạn 2006 - 2010 (Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg): Được xác định
theo phương pháp dựa trên nhu cầu chi tiêu cho lương thực, thực phẩm và phi lương
thực, thực phẩm. Sử dụng 2 chuẩn nghèo cho khu vực nông thôn và thành thị. Khu
vực nông thôn (cho cả miền núi và đồng bằng): Những hộ có mức thu nhập bình
quân đầu người dưới 200.000 đồng/người/tháng; Khu vực thành thị: Hộ có mức thu
nhập bình quân đầu người dưới 260.000 đồng/người/tháng.
- Giai đoạn 2011 - 2015 (Quyết định số: 09/2011/QĐ-TTg): Hộ nghèo ở
nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4,8
triệu đồng/người/năm) trở xuống. Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình
quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6 triệu đồng/người/năm) trở xuống.
Như vậy, dù trong mỗi thời kỳ khác nhau của nền kinh tế, Việt Nam đều đưa ra
những chuẩn nghèo mới phù hợp với điều kiện riêng của đất nước. Tuy nhiên, chuẩn
nghèo của Việt Nam hiện nay vẫn còn thấp, chưa bằng 50% chuẩn nghèo của thế giới.
1.1.1.3. Nguyên nhân gây ra đói nghèo
Có nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân gây ra đói nghèo, song tựu chung lại,
nghèo đói ở các nước đang phát triển chủ yếu là do các nguyên nhân cơ bản sau đây:
triển vào số lượng người tăng thêm chiếm tới 93 - 95%. Nói cách khác, dân số thế
giới tăng lên nhanh là do các nước đang phát triển quyết định. Hiện tại châu Á
chiếm 60% số dân cả thế giới, châu Phi là 12%. Dân số tăng nhanh ở các nước đang
phát triển dẫn đến thu nhập bình quân đầu người giảm, đồng thời tạo ra áp lực rất
gay gắt về việc làm và làm nhức nhối những vấn đề xã hội. Nghèo đói ở các nước
công nghiệp phát triển chủ yếu do thất nghiệp gây ra. Còn nghèo đói ở các nước
11
đang phát triển do rất nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân trực tiếp là dân
số tăng nhanh.
Rơnê Đuy Mông trong "Một thế giới không thể chấp nhận được" đã cảnh báo
các nước đang phát triển về sự bùng nổ dân số, về sự luẩn quẩn giữa đói nghèo - lạc
hậu - dân số tăng nhanh. Theo ông thì: "...Chính nhà nước phải có trách nhiệm đối
với cộng đồng là đánh giá tài nguyên của mình về đất, nước, khoáng sản và khoảng
không gian còn rỗi rãi, những hi vọng tiến bộ thật sự và đã đưa ra những tỷ lệ hợp
lý về tăng số dân để bảo đảm cho mỗi người một cuộc sống kha khá hơn là để một
ngày nào đó lại phải dùng những biện pháp cưỡng bức".
Thứ ba, do trình độ giáo dục thấp
Số dân đông, lại nghèo đói, do đó ngân sách chi cho giáo dục và y tế thấp đã
là logic vận động của hiện thực. Khi mức chi cho giáo dục và y tế thấp cộng thêm
thu nhập thấp tại các nước nghèo thì chỉ số phát triển nhân lực luôn ở cuối bảng xếp
hạng của UNDP. Cố nhiên, những tiêu thức vô lượng không thể phản ánh đầy đủ cả
về chất của sự vật, song trên giác độ của vấn đói nghèo, đói thì lượng lại phản ánh
đúng bản chất của vấn đề. Vì ở các nước này luôn diễn ra tình trạng thiếu các
chuyên gia đầu ngành, thiếu lao động lành nghề cả kỹ thuật, trình độ khoa học công
nghệ lạc hậu, do đó sẽ dẫn đến năng suất lao động thấp và cứ như vậy cái vòng luẩn
quẩn của đói, nghèo sẽ kìm hãm sự mở rộng phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo
và do đã kìm hãm sự phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội. Do đó, tạo ra được đội ngũ
lao động có trình độ chuyên môn cao là mục tiêu quan trọng của các nước nghèo.
các nguồn lực cần thiết để họ tự nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng
nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống làm cho
mức sống chung của toàn bộ cộng đồng được nâng lên.
Giảm nghèo còn được hiểu là quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo
lên một mức sống cao hơn nhờ sự hỗ trợ của Nhà nước, cộng đồng và sự nỗ lực
vươn lên của bản thân các hộ nghèo. Ở khía cạnh khác, giảm nghèo là chuyển từ
tình trạng người nghèo có sự lựa chọn sang tình trạng có nhiều sự lựa chọn hơn để
cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người.
13
Như vậy, có thể nói một cách khái quát, xóa đói, giảm nghèo là quá trình tạo
điều kiện giúp các hộ đói nghèo có khả năng và cơ hội để tiếp cận với các nguồn lực
của sự phát triển một cách nhanh chóng, trên cơ sở đó họ có nhiều sự lựa chọn hơn,
giúp họ từng bước thoát ra khỏi cảnh nghèo đói. Giảm nghèo còn gắn với trung lưu
hóa một bộ phận dân cư, khuyến khích và tạo điều kiện cho một bộ phận dân cư biết
vươn lên làm giàu chính đáng trong khuôn khổ pháp luật cho phép.
Giảm nghèo bền vững là việc thực hiện tổng thể các giải pháp, kế thừa thành
quả của công tác xóa đói giảm nghèo ở mức cao hơn, ngăn chặn tình trạng tái nghèo
trong cộng đồng dân cư; thúc đẩy phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường và
công bằng xã hội.
Công cuộc XĐGN đã được Nhà nước Việt Nam đề ra và thực hiện từ nhiều
năm nay. Tuy nhiên vấn đề giảm nghèo bền vững lại mới được đặt ra và nổi lên như
một vấn đề cấp thiết hiện nay. Vai trò của giảm nghèo bền vững có tác động vô
cùng to lớn đối với chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước.
1.1.2.2. Sự cần thiết phải giảm nghèo bền vững ở Việt Nam
Thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững là một chủ trương lớn của Đảng,
Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp
phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị,
giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư; đồng thời thể hiện quyết tâm trong
dù Nhà nước luôn giành nguồn lực lớn cho giảm nghèo nhưng vẫn chưa đáp ứng
được nhu cầu; bên cạnh đó, một số chương trình, chính sách giảm nghèo chưa đồng
bộ, còn mang tính ngắn hạn, thiếu sự gắn kết chặt chẽ; cơ chế quản lý, chỉ đạo điều
hành, phân công phân cấp còn chưa hợp lý, việc tổ chức thực hiện mục tiêu giảm
nghèo ở một số nơi chưa sâu sát. Ngoài ra, một bộ phận người nghèo còn tâm lý ỷ
lại, chưa tích cực, chủ động vươn lên thoát nghèo. Ngày 19/5/2011 Chính phủ có
Nghị quyết số 80/NQ-CP về “định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm
2011 đến năm 2020” nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của
người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo
sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh
lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư.
15
1.1.2.3. Nội dung cơ bản của giảm nghèo bền vững
Thứ nhất, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người nghèo vươn lên thoát
nghèo bền vững
Từ thập kỷ 80 đến nay và đặc biệt là từ những năm 2000 đã có nhiều chương
trình dự án được phê duyệt và thực hiện cho công tác xóa đói, giảm nghèo nhanh và
bền vững cho các xã miền núi vùng cao đặc biệt khó khăn vùng sâu vùng xa của cả
nước như chương trình 134/CP, chương trình 135/CP, chương trình 138/CP,… Đối
tượng người nghèo đã thực sự được Nhà nước và các tổ chức đoàn thể, chính trị, xã
hội quan tâm và tìm nhiều biện pháp tiếp cận, hỗ trợ giúp đỡ bằng nhiều hình thức
để thoát nghèo và giảm nghèo bền vững. Tạo điều kiện để người nghèo tham gia
đầy đủ vào quá trình phát triển, có cơ hội bình đẳng như mọi người dân, nhằm nâng
cao khả năng và sự tham gia của người nghèo vào quá trình phát triển.
Một vấn đề cần đặc biệt lưu ý trong quá trình thực hiện chương trình giảm
nghèo bền vững là phải đề cao vai trò đối tượng được giảm nghèo, đây được coi là
động lực chính cho quá trình giảm nghèo bền vững thành công. Giảm nghèo không
chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước, toàn xã hội mà trước hết là bổn phận của chính
tầng để giúp các huyện miền núi vùng cao nhanh chóng giảm nghèo theo hướng bền
vững. Các hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp được vay vốn sản xuất. Nhà nước có cơ
chế cho tạo việc làm, giáo dục đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí, có chính sách
phù hợp với cán bộ,… Cơ sở hạ tầng thiết yếu được Nhà nước hỗ trợ đầu tư đồng
bộ. Chính phủ giao cho các Bộ, ngành chỉ đạo hỗ trợ theo lĩnh vực, các Tổng công
ty doanh nghiệp lớn tham gia hỗ trợ giúp đỡ đầu các huyện nghèo.
Thứ tư, tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới, ở các huyện
nghèo, xã nghèo, thôn, xóm đặc biệt khó khăn nhằm xóa đói giảm nghèo mang
tính bền vững
Nhà nước huy động bằng nhiều chương trình dự án, kêu gọi đầu tư, đóng góp
của các tổ chức, cá nhân để đầu tư, xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu (giao
thông, thủy lợi, nước sinh hoạt, trường học, trạm xá, bệnh viện, trụ sở, nhà cộng
đồng, chợ,...) phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt cho vùng nghèo. Thực hiện các
chính sách hỗ trợ lớn về vốn, giống cây trồng, vật nuôi, vật tư, tư liệu sản xuất, hỗ
17
trợ kỹ thuật,... để vực dậy và phát triển sản xuất bền vững đảm bảo cho người dân
các huyện miền núi vùng cao có thể từ các nguồn hỗ trợ này và bằng sức lao động
của mình tự sản xuất được các sản phẩm nuôi sống mình và tiến tới có đóng góp
cho xuất khẩu hàng hoá nông sản phẩm vùng cao.
Như vậy, giảm nghèo bền vững không chỉ dừng lại ở mức sống cao hơn mà
còn đòi hỏi những điều kiện, yếu tố duy trì và phát triển kết quả đó trong thời gian
dài hơn. Để phát triển bền vững thì cần phải thực hiện giảm nghèo hay giảm nghèo
là một yêu cầu của phát triển bền vững. Phát triển bền vững sẽ thúc đẩy giảm nghèo
nhanh, bền vững.
1.1.3. Những nhân tố tác động đến đói nghèo
Đói nghèo do rất nhiều nguyên nhân gây ra, vì vậy cũng có rất nhiều nhân tố
ảnh hưởng đến đói nghèo, nó không chỉ đơn thuần là nhân tố về kinh tế hoặc thiên
tai, địch họa gây ra. Mà tình trạng đói nghèo ở nước ta có sự đan xen của cái tất yếu