Nghiên cứu giải pháp giảm nghèo bền vững ở huyện si ma cai, tỉnh lào cai - Pdf 43

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
chưa từng công bố. Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các
thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Hội đồng đánh giá khoa học
của Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam về công trình và kết quả nghiên
cứu của mình.


ii

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm
giúp đỡ tận tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể.
Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu, Khoa sau đại
học, quý thầy, cô giáo của Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam đã tận tình
giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập. Đặc biệt, tôi bày tỏ sự biết
ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Xuân Hương đã tận tình hướng dẫn khoa học
và giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn UBND huyện Si Ma Cai và các cơ quan liên
quan; UBND các xã Lử Thẩn, Sín Chéng, Bản Mế đã cung cấp các số liệu và
nhiệt tình giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt các hoạt động nghiên cứu của mình.
Để thực hiện luận văn, bản thân tôi luôn cố gắng nghiên cứu, học hỏi với
tinh thần tận tâm và nỗ lực cao. Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian, tài liệu tham
khảo và kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học, đề tài chắc chắn không tránh
khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong muốn nhận được sự góp ý xây

vững .............................................................................................................. 21
1.2.3. Bài học rút ra từ kinh nghiệm .............................................................. 24

Chương 2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ............................................................................................. 26
2.1. Đặc điểm cơ bản của huyện Si Ma Cai, tỉnh lào Cai .......................... 26
2.1.1. Điều kiện tự nhiên liên quan đến vấn đề nghiên cứu ............................ 26
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội liên quan đến vấn đề nghiên cứu ................. 31
2.1.3. Đặc điểm phát triển kinh tế của huyện ................................................. 36

2.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................... 37
2.2.1. Phương pháp chọn địa điểm khảo sát .................................................. 37


iv

2.2.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu.......................................... 39
2.2.4. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích, đánh giá ............................................ 40

Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ......................................................... 41
3.1. Thực trạng đói nghèo ở huyện Si ma Cai giai đoạn 2013-2015 .......... 41
3.1.1. Thực trạng nghèo đói ở huyện Si Ma Cai giai đoạn 2013-2015 ........... 41
3.1.2. Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến đói nghèo ở huyện Si Ma Cai . 43

3.2. Kết quả thực hiện các chương trình, chính sách giảm nghèo bền vững ở
huyện Si ma Cai giai đoạn 2011 - 2015 .................................................... 44
3.2.1. Kết quả thực hiện giảm nghèo bền vững phân theo chương trình ......... 44
3.2.2 Những thành công và hạn chế của các chương trình giảm nghèo bền
vững .............................................................................................................. 60



Bảo hiểm xã hội

BHYT

Bảo hiểm y tế

CNH - HĐH

Công nghiệp hoá - hiện đại hoá

CSXH

Chính sách xã hội

DN

Doanh nghiệp

ESCAP

Ủy ban kinh tế xã hội Châu Á - Thái Bình Dương

HĐND

Hội đồng nhân dân

HTX

Hợp tác xã


Uỷ ban nhân dân

XDCB

Xây dựng cơ bản

XĐGN

Xoá đói giảm nghèo

XKLĐ

Xuất khẩu lao động

SX

Sản xuất


vi

DANH MỤC CÁC BẢNG
TT

Tên bảng

Trang

2.1

huyện Si Ma Cai
Tổng hợp diễn biến tình hình nghèo đói trên địa bàn huyện

42

Si Ma Cai (2013 - 2015)
Kinh phí hỗ trợ phát triển sản xuất giai đoạn 2011 đến 2015

48

huyện Si Ma Cai
Nguồn vốn tín dụng cho vay đối với hộ nghèo, cận nghèo ơ

54

huyện Si Ma Cai từ năm 2011 đến 2015

3.5

Đặc điểm cơ bản của mẫu điều tra năm 2016

67

3.6

Tình hình thu nhập của hộ điều tra năm 2016

68

3.7

đây.
Công cuộc xóa đói, giảm nghèo ở nước ta hiện nay đang có những cơ
hội thuận lợi cho việc thực hiện những mục tiêu mới đặt ra.
Bên cạnh những thuận lợi và cơ hội, công cuộc xóa đói, giảm nghèo
nước ta cũng phải đối mặt với không ít khó khăn và thách thức. Nước ta vẫn
là một trong các nước nghèo, trong thời kỳ đổi mới kinh tế phát triển nhanh,
đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện, song thu nhập bình quân
đầu người hiện nay vẫn ở mức thấp. Mặt khác xu hướng gia tăng bất bình
đẳng và gia tăng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn. Tỷ lệ
người nghèo là người dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng sâu còn cao, chiếm


2
khoảng 31% trong tổng số người nghèo. Thành tựu xóa đói, giảm nghèo chưa
bền vững, nguy cơ tái nghèo rất lớn; hàng vạn hộ nghèo còn đang phải sống
trong nhà ở dột nát, không an toàn; tốc độ giảm nghèo không đồng đều giữa
các khu vực, vùng khó khăn, vùng nghèo chưa có đủ điều kiện để đột phá về
giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo chênh lệch rất lớn.
Si Ma Cai là huyện vùng cao, biên giới của tỉnh Lào Cai, có địa hình
tương đối phức tạp, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, là 1 trong
62 huyện nghèo của cả nước. Trong những năm qua, thực hiện chương trình
mục tiêu Quốc gia về xóa đói giảm nghèo, với sự phấn đấu nỗ lực không
ngừng của địa phương và sự tham gia phối hợp chặt chẽ của các tổ chức đoàn
thể nên nhiều chỉ tiêu quan trọng đã đạt và vượt so với mục tiêu Nghị quyết
đề ra, nhiều mô hình làm tốt công tác xoá đói, giảm nghèo đạt hiệu quả cao;
xuất hiện nhiều hộ nông dân nghèo sản xuất giỏi, đời sống của nông dân được
cải thiện, bộ mặt nông thôn đang từng bước được đổi mới.
Tuy nhiên thời gian qua, công tác xoá đói giảm nghèo cũng bộc lộ
những hạn chế cần được khắc phục như: Tỷ lệ nghèo có giảm, nhưng tỷ lệ tái
nghèo cao, mục tiêu xóa đói, giảm nghèo đạt nhưng chưa bền vững.

Cai tỉnh Lào Cai.
+ Về thời gian:
Nghiên cứu thực trạng đói nghèo và kết quả thực hiện xóa đói, giảm
nghèo ở huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai giai đoạn 2013 - 2015.
+ Về nội dung:
- Đề tài nghiên cứu thực trạng đói nghèo theo nội dung tiêu chí chương
trình giảm nghèo quốc gia.
- Thời gian từ 2013 - 2015 và giải pháp cho giai đoạn 2015 - 2020.


4
4. Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững.
- Thực trạng đói nghèo và kết quả thực hiện công tác giảm nghèo trên
địa bàn huyện Si Ma Cai.
- Tính bền vững trong kết quả giảm nghèo địa bàn huyện Si Ma Cai.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện
Si Ma Cai.
- Các giải pháp và đề xuất giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Si
Ma Cai.
5. Kết cấu chi tiết các chương của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu tham
khảo, Luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo bền vững.
Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu.


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

triển ngưỡng đo nghèo đói ngày càng cao.
Để đánh giá đúng mức độ nghèo, Ngân hàng phát triển Châu Á đã phát
biểu nghèo đói dưới hai hình thức là nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối
Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng
và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống (nhu cầu về
ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế, giáo dục...).
Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới
mức trung bình của cộng đồng tại địa phương, ở một thời kỳ nhất định.
Những quan niệm về đói nghèo nêu trên, phản ánh ba khía cạnh chủ
yếu của người nghèo là: Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức
tối thiểu dành cho con người; có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng;
thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
Nghèo tuyệt đối chủ yếu phản ánh tình trạng một bộ phận dân cư không
được thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu của con người, trước hết là ăn, mặc, ở.
Nghèo tương đối lại phản ánh sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận
dân cư khi so sánh với mức sống trung bình của cộng đồng địa phương trong
một thời kỳ nhất định. Do đó, có thể xóa dần nghèo tuyệt đối, còn nghèo
tương đối luôn xảy ra trong xã hội, vấn đề quan tâm ở đây là rút ngắn khoảng
cách chênh lệch giàu nghèo và hạn chế sự phân hóa giàu nghèo, giảm thiểu
tới mức thấp nhất tỷ lệ nghèo tương đối.
Dựa vào những khái niệm chung do các tổ chức quốc tế đưa ra và căn
cứ vào thực trạng kinh tế - xã hội ở Việt Nam, trong chiến lược toàn diện về
tăng trưởng và xoá đói, giảm nghèo năm 2010, Việt Nam thừa nhận định
nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9/1993.


7

Đồng thời vấn đề đói nghèo ở Việt Nam còn được nghiên cứu ở các cấp độ
khác nhau như cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng, do đó bên cạnh khái niệm

tiêu chí về kinh tế. Vì vậy, khi nghiên cứu những tác động ảnh hưởng đến
thực trạng, xu hướng, cách thức giải quyết vấn đề đói nghèo cần phải đánh giá
những tác động của nhân tố chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng có
như vậy mới đề ra được các giải pháp đồng bộ cho công tác xoá đói, giảm
nghèo ở nước ta.
1.1.1.2. Nguyên nhân gây ra đói nghèo
Có nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân gây ra đói nghèo, song tựu
chung lại, nghèo đói ở các nước đang phát triển chủ yếu là do các nguyên
nhân cơ bản sau đây:
Thứ nhất, do người nghèo không có khả năng và cơ hội để tiếp cận
và kiểm soát các nguồn lực sản xuất
Các nguồn lực sản xuất chủ yếu hiện nay có thể kể đến như vốn, đất
đai, khoa học công nghệ... song tất cả những thứ đó người nghèo đói không
có hoặc rất hạn chế về khả năng tiếp cận. Một số người trong số họ có thể có
sức lao động, nhưng họ sẽ không thể biến sức lao động đó thành nguồn lực,
nếu không tiếp cận được với các nguồn lực khác như vốn, đất đai, khoa học
công nghệ, tức là họ không có việc làm.
Trong mấy năm trở lại đây, tuy các hộ nông dân đã được giao quyền sử
dụng ruộng đất lâu dài nhờ thực hiện Luật đất đai, nhưng trên thực tế các hộ
được giao đất lại thiếu các điều kiện sản xuất (vốn, lao động, khoa học công
nghệ...), nên một số hộ đã không giữ được đất, phải nhượng lại cho các hộ
khác. Mặt khác, sản xuất trên đất không mang lại hiệu quả kinh tế cao vì thiếu
kiến thức và công nghệ, nên có rất nhiều trường hợp, sau khi nhận được
quyền sử dụng đất đã bán đi để lấy tiền, trong đó chỉ có một số rất ít hộ dùng
số tiền có được để chuyển hướng sản xuất.
Một trong những nguồn lực nữa cần được chú ý hiện nay là vấn đề tín


9



lớn lại được sử dụng không đúng mục đích, nên hiệu quả của những nguồn
viện trợ rất thấp.
Qua những nguyên nhân gây nên nghèo ở các nước đang phát triển vừa
nêu, ta thấy nguyên nhân chủ yếu là nguyên nhân kinh tế. Vì vậy, xoá đói
giảm nghèo là yếu tố cơ bản đảm bảo công bằng và tăng trưởng bền vững vào
tăng trưởng kinh tế trên diện rộng được coi là một bộ phận quan trọng của
chiến lược và là nhiệm vụ chung của xã hội và chính người nghèo.
1.1.1.2. Phương pháp xác định hộ nghèo và chuẩn hộ nghèo của Việt Nam
Đối với nước chuẩn nghèo được áp dụng trong các thời kỳ khác nhau,
từ 1993 đến 2013 đã 6 lần điều chỉnh chuẩn nghèo, đó là:
- Giai đoạn 1993 - 2000: Chuẩn nghèo được quy định theo 3 khu vực
(tính theo mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ gia đình, quy ra gạo):
+ Giai đoạn 1993 - 1995: Hộ đói: bình quân thu nhập đầu người quy
gạo/tháng dưới 13 kg đối với thành thị, dưới 8 kg đối với khu vực nông thôn.
Hộ nghèo: bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 20 kg đối với
thành thị, dưới 15 kg đối với khu vực nông thôn.
+ Giai đoạn 1995 - 1997: Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một
người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13 kg, tính cho mọi vùng. Hộ
nghèo là hộ có thu nhập như sau: Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15
kg/người/tháng; Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20
kg/người/tháng; Thành thị: dưới 25kg/người/tháng.
+ Giai đoạn 1997 - 2000 (Công văn số 1751/LĐTBXH): Hộ đói: là hộ
có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13
kg, tính cho mọi vùng. Hộ nghèo là hộ có thu nhập như sau: Vùng nông thôn
miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng, tương đương 55.000 đồng; Vùng
nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng, tương đương 70.000
đồng; Thành thị: dưới 25kg/người/tháng, tương đương 90.000 đồng.



đầu

người

dưới

260.000đ/người/tháng. Ngoài ra có chú ý tới yếu tố về nhà ở, tài sản, đất đai,
tay nghề, công cụ sản xuất.
- Giai đoạn 2011 - 2015 (Quyết định số: 09/2011/QĐ-TTg): Hộ nghèo
ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng
(từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống. Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức
thu

nhập

bình

quân

từ

500.000

đồng/người/tháng

(từ

6.000.000

đồng/người/năm) trở xuống.

Như vậy, có thể nói một cách khái quát, giảm nghèo là quá trình tạo
điều kiện giúp các hộ đói nghèo có khả năng và cơ hội để tiếp cận với các
nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh chóng, trên cơ sở đã họ có nhiều
sự lựa chọn hơn, giúp họ từng bước thoát ra khỏi cảnh nghèo đói. Giảm nghèo
còn gắn với việc khuyến khích và tạo điều kiện cho một bộ phận dân cư biết
vươn lên làm giàu chính đáng trong khuôn khổ pháp luật cho phép.
1.1.2.2. Sự cần thiết phải giảm nghèo bền vững ở Việt Nam
Thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững là một chủ trương lớn của
Đảng, Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người
nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn


13

và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư; đồng thời thể
hiện quyết tâm trong việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc
về giảm nghèo mà Việt Nam đã cam kết.
Trong điều kiện xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hiện đại,
việc giảm tỷ lệ hộ nghèo, tạo điều kiện cho người dân có cơ hội vươn lên làm
giàu càng có ý nghĩa để thực hiện mục tiêu CNH nền kinh tế.
1.1.3. Các chính sách của nhà nước về giảm nghèo bền vững
Giảm nghèo tiến tới xoá bỏ nghèo đói là mục tiêu lớn và xuyên suốt
trong mọi thời kỳ, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay của đất nước.
Để thực hiện được mục tiêu này, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính
sách giúp đỡ các hộ nghèo, các vùng kinh tế khó khăn như: đầu tư phát triển
nông nghiệp và kinh tế nông thôn; đầu tư cơ sở hạ tầng cho các vùng nghèo,
tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận với các dịch vụ công; cung cấp dịch vụ y
tế và giáo dục có chất lượng cho người nghèo; ổn định và nâng cao đời sống
của người nghèo....
Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng

này là 265 triệu và ở Mỹ Latinh là 53 triệu. Con số đó ở khu vực Trung Đông
và Bắc Phi cũng đã lên tới 42 triệu người. Trong khi đó, nạn đói cũng bắt đầu
"tăng nhiệt" ở các nước phát triển với khoảng 15 triệu người. Theo Ngân hàng
Thế giới, giá lương thực lên cao làm tăng ngay số người nghèo đói lên và sự
giảm sút về thu nhập trên toàn cầu cũng là một nguyên nhân làm cho tình
trạng nghèo đói tồi tệ hơn. Hầu hết những người nghèo đói của thế giới lại là
nông dân, những người sản xuất ra lương thực. Thực tế, hơn 60% người dân
châu Phi làm việc ở nông thôn, trồng trọt và chăn nuôi súc vật, chỉ kiếm được
chưa đầy 1 USD/ngày. Năng suất các vụ mùa của họ chỉ bằng 20% năng suất
các vụ mùa ở châu Âu và Mỹ, bởi vì họ không tiếp cận được với tất cả những
điều kiện cần thiết để tăng sản lượng như giống, phân bón, nước, điện, kỹ
thuật và khả năng tiếp cận thị trường. Khi giá lương thực giảm đi, người nông


15

dân lại là những người bị tổn thương nhất do nông sản là những thứ họ phải
bán để lấy tiền trang trải cho các khoản chi tiêu khác (Nguồn tin ngân hàng
thế giới)
Ngay như nước Mỹ, đất nước có nền kinh tế hàng đầu thế giới, tỷ lệ
dân số Mỹ sống dưới mức nghèo khổ ngày càng tăng. Tròn 50 năm (8/1/1964)
sau Thông điệp liên bang với ưu tiên hàng đầu là chống đói nghèo của cựu
Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson, nước Mỹ đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể
trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, song nền kinh tế số một thế giới vẫn
chưa thể khép lại cuộc chiến này. Ngày 7/1/2014, Cục Thống kê dân số Mỹ
công bố báo cáo cho thấy trong giai đoạn hậu suy thoái kinh tế 2009-2011, cứ
3 người Mỹ thì có một người bị đói trong ít nhất hai tháng. Trong khi đó,
Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu nghèo đói Mỹ, ông James Ziliak, cho biết
trong năm 2012, có tới hơn 47 triệu người Mỹ sống trong cảnh nghèo túng,
trong đó có 13 triệu trẻ em (nguồn tin ngân hàng thế giới WB)

làm thay đổi căn bản cách nghĩ, cách làm hướng tới chuyển dịch nhanh chóng
cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn, thực hiện tiến trình đo thị hóa, từ đô
thị hóa nhỏ, vừa đến quy mô lớn để thu hút lao động khu nông thôn. Chính
sách kết nối những văn phòng giới thiệu việc làm với một hệ thống giúp
người lao động làm việc có tổ chức, cung cấp những dịch vụ tư vấn về công
việc để định hướng ngành nghề cho người lao động.
Vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn được Trung Quốc chú
trọng hàng đầu với việc chuyển được nghề nông nghiệp sản xuất tập trung
sang sản xuất tư nhân với mô hình kinh tế hộ gia đình và quyền sử dụng đất
lâu dài có quyền chuyển nhượng. Do có chính sách giao quyền sử dụng đất
lâu dài và chính sách được quyền chuyển nhượng mua bán đất nên nhiều hộ
làm ăn giỏi đã bỏ vốn tích tụ ruộng đất hình thành các nông trại gia đình tạo
ra khối lượng lớn nông sản phẩm hàng hóa chất lượng, giá thành rẻ có khả
năng cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và quốc tế.


17

Chính phủ Trung Quốc đưa ra chương trình Đốm lửa nhằm chuyển
giao công nghệ và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào các vùng nông thôn, tận
dụng triệt để mọi năng lực sẵn có ở trong nông thôn vào sản xuất nhằm không
ngường nâng cao mức sống của người dân.
Đối với gia đình nghèo, thông qua mạng lưới cán bộ chuyên trách ở cơ
sở tư vấn cho họ cách thức làm ăn, coi trọng công tác tập huấn, bồi dưỡng
kiến thức, cho vay vốn để phát triển sản xuất… đặc biệt quan tâm đào tạo
nghề cho con em nông dân để hướng tới mỗi gia đình có một người vào làm
việc ở thành phố hoặc khu công nghiệp, góp phần giảm nhanh nghèo đói ở
nông thôn…
* Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của Malaysia
Chính sách xoá đói giảm nghèo của Malaysia chính thức được hình

thủ công nghiệp và kinh doanh ở nông thôn để tạo thêm nguồn thu nhập.
- Chương trình sản xuất tăng vụ, liên canh và xen canh cây trồng trên
cùng một thửa đất để nâng cao hiệu quả và năng suất canh tác.
- Dự án thành lập các chợ của nông thôn ở các trung tâm đô thị để họ
bán trực tiếp sản phẩm của mình thay vì qua các trung gian.
- Chương trình hỗ trợ về đào tạo, tín dụng, khoa học kỹ thuật, tiếp thị...
cho người dân nông thôn để họ có thể tìm được những việc làm phi nông
nghiệp hoặc thành lập các cơ sở sản xuất kinh doanh của riêng mình ở các
vùng nông thôn hoặc các thành thị.
Bên cạnh các chương trình và dự án nhằm nâng cao thu nhập, Chính
phủ cũng thực hiện nhiều biện pháp nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của
người nghèo, chẳng hạn như thông qua việc cung cấp kết cấu hạ tầng và các
dịch vụ xã hội. Đối với các vùng nông thôn, Chính phủ đã xây dựng đường
điện, điện thoại, ống nước, đường giao thông, cung cấp các dịch vụ y tế, xây
dựng trường học, bao gồm cả nhà ở nội trú cho học sinh...
Ngoài ra các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân cũng tự nguyện


19

tham gia tích cực vào công tác xoá đói giảm nghèo. Những hoạt động chính
của các chủ thể này bao gồm: hỗ trợ về tín dụng, đào tạo nghề và tìm kiếm
việc làm cho người nghèo, ngoài ra họ còn có các biện pháp hỗ trợ về điều
kiện nhà ở và việc học tập của con cái những người nghèo.
Thành tựu xoá đói của Malaysia: nhờ những nỗ lực nêu trên, trong vài
thập kỷ qua tỷ lệ người nghèo của Malaysia đã giảm từ mức gần 50% năm
1970 xuống còn 15% năm 1990 và trên 4% năm 2002, vượt mục tiêu đề ra.
Cụ thể hơn, năm 1990, tỷ lệ người nghèo ở các vùng nông thôn và các vùng
thành thị đã giảm xuống tương ứng còn 19,3% và 7,3% (từ các mức tương
ứng 58,7% và 21,9% của năm 1970); các con số tương ứng của năm 2002 là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status