ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
------------------
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG Ở XÃ AN HƯNG
AN LÃO - BÌNH ĐỊNH
ĐINH THỊ XÁI
KHÓA HỌC: 2012 - 2016
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
------------------
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG Ở XÃ AN HƯNG
AN LÃO - BÌNH ĐỊNH
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
ThS. Nguyễn Công Định
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Công Định
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
XĐGN
Xóa đói giảm nghèo
UBND
Uỷ ban nhân dân
LĐTB & XH
Lao động thương binh và xã hội
BHYT
Bảo hiểm y tế
DTTS
Dân tộc thiểu số
CNQSD
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Công Định
LĐ
Lao động
SL
Sản lượng
TLSX
Tư liệu sản xuất
NSBQ
Năng suất bình quân
SXKD
Sản xuất kinh doanh
HĐND
Hội đồng nhân dân
KH
BCH
Ban chấp hành
ĐVT
Đơn vị tính
DANH MỤC BẢNG BIỂU
SVTH: Đinh Thị Xái
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Nguyễn Công Định
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Sinh viên: Đinh Thị Xái
Lớp: K46 KTNN
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Công Định
1.Tên đề tài: “Thực trạng và giải pháp giảm nghèo bền vững ở xã An Hưng
huyện An Lão tỉnh Bình Định”
2. Tính cấp thiết của đề tài
An Hưng là xã nằm phía Đông Bắc huyện An Lão có tổng diện tích tự nhiên là
6636.39 ha, được chia làm 05 thôn toàn là đồng bào dân tộc thiểu số đó là dân tộc h’rê,
trong những năm gần đây được sự quan tâm của các cấp đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng như điện, đường, trường trạm…, sự nỗ lực cố gắng của lãnh đạo và nhân dân địa
phương nên tình hình kinh tế - xã hội đã có những bước chuyển biến tích cực, sản xuất
phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo đói hàng năm
5. Kết quả nghiên cứu của đề tài:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến vấn đề nghèo đói
của các hộ nông dân.
- Đánh giá thực trạng đói nghèo của các hộ nông dân ở xã An Hưng huyện An Lão
tỉnh Bình Định, từ đó tìm ra các nguyên nhân và nhân tố gây ra nghèo đói của các hộ nông
dân tại xã An Hưng huyện An Lão tỉnh Bình Định.
- Đề xuất một số giải pháp phù hợp với địa bàn nghiên cứu nhằm góp phần xóa
đói giảm nghèo cho các hộ nông dân trong xã.
SVTH: Đinh Thị Xái
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo đang là vấn đề xã hội bức xúc và nóng bỏng của nhiều quốc gia trên
thế giới, là vấn đề được các chính phủ, các tổ chức quốc tế quan tâm để tìm giải pháp
hạn chế và tiến tới xóa bỏ nạn đói nghèo trên phạm vi toàn thế giới. Xóa đói giảm
nghèo là yếu tố cơ bản để đảm bảo công bằng xã hội và tăng trưởng bền vững.Vì vậy,
Việt Nam coi xóa đói giảm nghèo là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, thực hiện
xóa đói giảm nghèo trong từng bước phát triển, đảm bảo công bằng xã hội thể hiện
tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, có ý nghĩa nhân văn, văn hóa sâu sắc. Hiện
nay, trên thế giới có khoảng 1,2 tỷ lệ người đang sống trong cảnh đói nghèo, kể cả
nước có thu nhập cao nhất thế giới vẫn có một tỷ lệ dân số sống trong tình trạng nghèo
nàn cả về vật chất và tinh thần. Tỷ lệ người nghèo ở mỗi nước cũng khác nhau, đối với
nước giàu thì tỷ lệ đói nghèo nhỏ hơn các nước kém phát triển song khoảng cách giàu
nghèo lại lớn hơn rất nhiều.Trong xu thế hợp tác và toàn cầu hoá hiện nay thì vấn đề
xoá đói giảm nghèo (XĐGN) không còn là trách nhiệm của một quốc gia mà đã trở
thành mối quan tâm của cả động đồng Quốc tế.
Việt Nam là một trong những nước có thu nhập khá thấp so với các nước trên
những điều kiện, tiền đề thuận lợi để các hộ vươn lên thoát nghèo và không bị tái
nghèo. Đây là vấn đề rất bức thiết đối với xã An Hưng cần sớm được nghiên cứu và
giải quyết.
Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi đã chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp giảm
nghèo bền vững ở xã An Hưng - An Lão – Bình Định” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hoá và làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về công tác xoá đói giảm
nghèo.
- Phân tích, đánh giá thực trạng và nguyên nhân đói nghèo của các hộ nông dân
xã An Hưng, huyện An Lão, tỉnh Bình Định.
- Nghiên cứu các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đói nghèo.
- Đề xuất các định hướng và giải pháp chủ yếu giảm nghèo bền vững ở xã An Hưng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các mối quan hệ kinh tế - xã hội có liên quan đến công tác và
chương trình xoá đói giảm nghèo của xã An Hưng, huyện An Lão, tỉnh Bình Định.
Phạm vi nghiên cứu:
SVTH: Đinh Thị Xái
9
+ Không gian: Địa phận tại xã AnHưng, huyện An Lão, tỉnh Bình Định.
+ Thời gian:Số liệu nghiên cứu được thu thập trong giai đoạn 2013 – 2015.
4. Phương pháp nghiên cứu
lường và hiểu cho thấu đáo. Do đó, tùy vào quan niệm và cách tiếp cận mà người ta
đưa ra những định nghĩa khác nhau về nghèo đói.
Hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á – Thái Bình Dương tổ chức tại
Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 2003. Các quốc gia đã thống nhất cao và cho
rằng: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các
nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy
theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương”.
Nhà kinh tế học người Mỹ Galbraith cho rằng: “Con người bị coi là nghèo khổ
khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt
dưới mức thu nhập của cộng đồng. Khi họ không có những gì mà đa số trong cộng
đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mức”.
Abapia Sen, chuyên gia hàng đầu của tổ chức Lao Động Quốc Tế, người được
giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1998 cho răng: “Nghèo là tất cả những ai thu nhập
thấp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua
những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”.
Ngân hàng thế giới cho rằng: “Nghèo là khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi
túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao
gồm các vấn đề liên quan đến dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, dễ bị tổn thương,
không có quyền phát ngôn và không có quyền lực”.
Ở Việt Nam trước đây quan niệm những người nghèo khổ là những người bần cố
nông, không có ruộng đất, đi làm thuê, cuốc mướn. Những năm gần đây thì xác định
người nghèo, hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập không đảm bảo cuộc sống tối
thiểu, những hộ gia đình thường xuyên thiếu ăn.
SVTH: Đinh Thị Xái
11
Trên đây là một số khái niệm xoay quanh về vấn đề nghèo đói.Song để đi sâu
- Không được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người.
SVTH: Đinh Thị Xái
12
- Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư.
- Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
1.1.2. Khái niệm về xóa đói giảm nghèo
Xóa đói giảm nghèo là tổng thể các biện pháp chính sách của Nhà nước và
xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèo đói nhằm tạo điều kiện để
họ tăng them thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứng những nhu cầu
tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định theo từng địa phương, khu vực, quốc
gia..
- Nội dung của xóa đói giảm nghèo được thực hiện trên hai nội dung chính:
- Tạo điều kiện cho người nghèo có điều kiện phát triển sản xuất, gia tăng thu
nhập bằng các biện pháp:
- Cấp tín dụng ưu đãi cho người nghèo: cho vay lãi thấp.. giúp họ có vốn sản xuất
và từ đó thoát nghèo.
- Hỗ trợ cho họ đất sản xuất bằng cách giảm các thuế đất.
- Thực hiện hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng về đường sá,công trình thủy lợi, tạo điều
kiện cho người dân tham gia sản xuất, nâng cao năng suất lao động để thoát nghèo.
- Tạo điều kiện cho người dân có điều kiện học hỏi kĩ thuật canh tác sản xuất
bằng cách mở các lớp tập huấn sản xuất , phổ biến kiến thức tới từng thôn bản, nâng
cao lao động cho người nghèo.
- Dựa trên từng cơ sở vùng miền,xác định được thế mạnh, có kế hoạch phát triển các
ngành nghề giúp giải quyết tình trạng thất nghiệp, tăng them thu nhập cho người nghèo.
- Tạo điều kiện cho người nghèo có cơ hội được tiếp cận với các dịch vụ cơ bản
như y tế, giáo dục, vệ sinh, nước sinh…
Nhìn phổ quát, kinh tế hàng hoá ở nước ta còn ở một trình độ thấp, kinh tế thị
trường chỉ mới sơ khai, nhiều vùng nghèo, vệt nghèo vẫn còn ở hình thái kinh tế tự
nhiên, tù cung, tù cấp.Thị trường chưa phát triển và thống nhất trong cả nước, cơ cấu
loại hình thị trường còn chưa hoàn chỉnh. Do đó, nghèo đói ở nước ta nằm trong phạm
vi, tính chất của nghèo đói ở một nước nông nghiệp lạc hậu, chậm phát triển đang từng
bước chuyển mình một cách lâu dài và khó khăn sang hình thái phát triển của xã hội
công nghiệp.
Ở thời kỳ kinh tế hiện vật cộng với mô hình kinh tế tập trung, bình quân bao cấp
cũng có hiện tượng nghèo đói với hai đặc với mô hình kinh tế tập trung, bình quân bao
cấp cũng có hiện tượng nghèo đói với hai đặc trưng nổi bật là nghèo dai dẳng kéo dài
và nghèo có cấp độ lớn. Đại đa số dân cư xã hội trong thời kỳ này rơi vào tình trạng
nghèo hoặc chỉ vừa đủ cho những sinh hoạt tiêu dùng vốn rất hạn chế về nhu cầu.
SVTH: Đinh Thị Xái
14
Theo đánh giá của UNDP, trước đổi mới (1986) trên 70%dân số Việt Nam ở vào tình
trạng nghèo đói. Đây là vấn đề gay gắt đã và đang đặt ra cho Đảng, Nhà nước và nhân
dân ta nhiệm vụ phải giải quyết.
Với một nền kinh tế lạc hậu, có chiến tranh, nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu là giải
phóng đất nước, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã buộc chúng ta áp
dụng mô hình kinh tế tập trung, bình quân và bao cấp. Mô hình kinh tế và cơ chế quản
lý này - Theo quan điểm lịch sử cụ thể - có những mặt hợp lý, cần thiết và có tác dụng
tích cực đã huy động sức người và của góp phần vào việc giải phóng đất nước.Tuy
nhiên việc kéo dài những phương pháp cò trong tình hình mới khi tình hình và điều
kiện đã thay đổi làm bộc lộ nhiều nhược điểm của mô hình và cơ chế.
Trong thời kỳ này nghèo đói dường như không được nhìn nhận như một tồn tại
thực tế trong xã hội. Bởi quan niệm trước đây trong chủ nghĩa xã hội không thể có
quan tâm giải quyết xóa đói giảm nghèo hướng tới một xã hội tích cực về kinh tế, lành
mạnh về xã hội, ổn định về chính trị, kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội
là một vấn đề hàng đầu, cấp thiết hiện nay. Xóa đói giảm nghèo là mối quan tâm lớn
nhất không chỉ riêng ở nước ta mà còn là mối quan tâm lớn của các tổ chức quốc tế,
và của mỗi quốc gia.
Trong tất cả các mục tiêu thiên niên kỉ, Việt Nam đạt được những thành tựu đặc
biệt trong mục tiêu 1, giảm nghèo. Việt Nam đã giảm được 75% tỉ lệ nghèo, từ 58,1%
năm 1990 xuống còn 14,5% năm 2008. Tỉ lệ thiếu đói giảm 2/3, từ 24,9% năm 1993
xuống còn 6,9 năm 2008. Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 1.168 USD,
Việt Nam trở thành nước có thu nhập thấp, tuy nhiên vẫn được đánh giá là một nước
nghèo. Theo kết quả của Tổng điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo trong cả nước theo
chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội công bố
ngày 30/5/2011, cả nước có 3.055.566 hộ nghèo và 1.612.381 hộ cận nghèo.
Bảng 1: Tỷ lệ hộ nghèo tại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015
( ĐVT: %)
Năm
Tỷ lệ
2011
11,76
2012
9,6
2013
7,8
2014
5,97
2015
5
(Nguồn: Khảo sát mức sống hộ dân cư năm 2015 của Tổng cục thống kê)
< 830.000
Thành thị
< 750.000
< 1.000.000
Nông thôn
551.000 – 750.000
Thành thị
751.000 – 1.000.000
(Nguồn: Bộ lao động thương binh và xã hội)
Kết quả công bố cũng cho thấy có 14 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo từ 5% đến dưới 10%;
18 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ 10% đến dưới 20%; 16 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ 20% đến dưới
30%; 6 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ 30% đến dưới 40%; 3 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ trên 40%
đến dưới 50%, là: Lai Châu, Lào Cai và Hà Giang. Xét về tỷ trọng số người nghèo ở
từng vùng so với tổng số hộ nghèo trên cả nước, với 77.802 hộ nghèo, chiếm tỷ trọng
2,55%, khu vực Đông Nam bộ là khu vực có số lượng hộ nghèo thấp nhất. Khu vực
Đông Bắc có số lượng hộ nghèo lớn nhất cả nước với 581.560 hộ, chiếm 19,03%.
Bảng 3: Tỷ lệ hộ nghèo phân chia theo khu vực
( ĐVT: %)
Năm
2002
2004
Nam, những người nghèo 6 nhất sống tại các vùng núi, nơi các xã nghèo chiếm tỉ lệ
lớn trên toàn quốc.Trong khi đó, một số lượng lớn người nghèo lại sống bên cạnh
những người khá giả tại hai vùng đồng bằng và ven biển.
Chính sách xóa đói
giảm nghèo của Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể tuy nhiên nó không
bền vững, bởi tỷ lệ tái nghèo cao, số hộ nghèo giảm song không chắc chắn số người
nghèo trong xã hội cũng giảm mà thậm chí còn tăng do tác động của lạm phát.
Chương trình 135: " Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng
đồng bào dân tộc miền núi, biên giới và vùng sâu, vùng xa"
- Chương trình Xoá đói giảm nghèo đặc biệt của Chính phủ - do ủy ban Dân tộc
và Miền núi là cơ quan thường trực, theo các Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày
31 tháng 7 năm 1998 và số 138/2000/QĐ-TTg ngày 29 tháng 11 năm 2000 của Thủ
tướng Chính phủ, song thử nhìn nhận tỷ lệ hộ nghèo qua các năm. Tỷ lệ hộ nghèo dân
tộc thiểu số Tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số (DTTS) tăng liên tục trong giai đoạn 1993
và 2008 và còn hơn nhiều so với mức trung bình của cả nước.
Tổng cục thống kê, dựa trên các tiêu chuẩn mà các nước đang phát triển và các tổ
chức Quốc tế hiện nay đang sử dụng để xác định mức nghèo đói. Và cho rằng, người
nghèo đói là người có mức chi tiêu dưới mức cần thiết để đạt được 2.100 calo bình
SVTH: Đinh Thị Xái
18
quân/người/ ngày. Theo chuẩn mực này, tỷ lệ người nghèo đói ở nước ta còn cao hơn
với những đánh giá của Bộ lao động thương binh và xã hội.
Nghèo đói có nhiều nguyên nhân, ở nước ta có thể đưa ra ba nhóm nguyên nhân
chính sau:
18,1
15,5
13,4
14,2
12,6
Phân theo thành thị, nông thôn
- Thành thị
6,6
8,6
7,7
6,7
6,9
5,1
- Nông thôn
35,6
27,5
25,1
29,4
26,7
- Bắc Trung Bộ, duyên hải miền
Trung
35,7
25,3
22,2
19,2
20,4
18,5
-Tây Nguyên
51,8
29,2
11,4
12,6
11,6
SVTH: Đinh Thị Xái
19
(Nguồn: Tổng cục tống kê, 2011)
Bảng số liệu trên cho thấy, tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước đã giảm rõ rệt từ
28,9% năm 2002 xuống khoảng 12,6% năm 2011.
Cả hai khu vực nông thôn và thành thị đã cho thấy những dấu hiệ tích cực trong
công tác xói đói, giảm nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực nông, miền núi đã giảm một
cách rõ rệt xuống còn khoảng 16% so với 35,6% trong năm 2002.
Phân theo vùng, tỷ lệ hộ nghèo năm 2011 cao nhất ở vùng Trung du và miền núi
phía Bắc 26,7%; tiếp theo là Tây Nguyên là 20,3%; thấp nhất ở Đông Nam Bộ 1,7%;
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung là 18,5%; đồng bằng Sông Hồng 7,1% và
đồng bằng Sông Cửu Long 11,6%.
1.2.2. Tiêu chí đánh giá nghèo đói Việt Nam.
Chuẩn nghèo là một khái niệm động, nó biến đổi theo không gian và thời gian.
Về không gian, nó biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng hay
từng quốc gia. Ở Việt Nam chuẩn nghèo biến đối theo 3 vùng sinh thái khác nhau,
vùng nông thôn đồng bằng, vùng nông thôn miền núi và hải đảo.Về thời gian, chuẩn
nghèo cũng có sự biến đổi lớn, nó biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và
nhu cầu của con người theo từng giai đoạn lịch sử. Kinh tế-xã hội phát triển thì đời
sống của con người cũng được cải thiện tốt hơn, tuy nhiên không phải tất cả các nhóm
dân cư đều có tốc độ cải thiện giống nhau, thông thường thì nhóm không nghèo có tốc
sự của người nghèo và các hộ đói nghèo, nhất là ở nông thôn. Trong thực tế đã lâm
vào cảnh đói nghèo thì thường TLSX hết sức ít ỏi, nghèo nàn, kém giá trị sử dụng và
khai thác làm ra của cải. Người nghèo và các hộ nghèo, đặc biệt là các hộ nông dân
nghèo hầu như không có vốn tích luỹ cho sản xuất và tái sản xuất. Hai chỉ tiêu này còn
giúp chúng ta phân biệt rõ ràng hơn giữa người giàu và người nghèo, giữa hộ giàu và
hộ nghèo ở các vùng nông thôn và thành thị. Chúng ta càng thấy rõ hơn đặc trưng cơ
bản kinh tế xã hội của hiện tượng đói nghèo, nổi bật nhất là về mặt kinh tế.
- Chuẩn nghèo mới áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 theo Chỉ thị số 1752/CTTTg ngày 21-9-2010 của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 thang
01 năm 2011, mức chuẩn nghèo và cận nghèo được xác định.
+ Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/
người/tháng (hay từ 4800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
+ Hộ nghèo ở thành thị là hộ có thu nhập bình quân 500.000 đồng/người/tháng
(hay từ 6000.000 đồng/người/năm) trở xuống là nghèo.
+ Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng
đến 520.000 đồng/người/tháng (hay từ 4812.000 đến 6240.000 đồng/người/năm) trở
xuống là cận nghèo
SVTH: Đinh Thị Xái
21
+ Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đến 650.000
đồng/người/tháng (hay từ 6012.000 đến 7800.000 đồng/người/năm) trở xuống là cận nghèo.
SVTH: Đinh Thị Xái
22
SVTH: Đinh Thị Xái
23
- Triển khai có hiệu qủa các chương trình, dự án XĐGN bằng các nguồn tài
chính trợ giúp của Nhà nước và các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước.
- Việc hỗ trợ và cho vay vốn đối với người nghèo phải đi liền với công tác tư
vấn, hướng dẫn sử dụng vốn vay có hiệu quả căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của từng hộ
gia đình.
1.3.2. Chính sách và các chủ trương xóa đói giảm nghèo
Xoá đói giảm nghèo luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm
nhằm thực hiện mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh".
Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách XĐGN như: xây dựng chính
sách phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn, thực hiện chiến lược phát triển
kinh tế cho từng vùng, miền, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, ưu tiên tín
dụng các nguồn vốn cho XĐGN, thiết lập nguồn vốn vay cho người nghèo, cận nghèo
như Ngân hàng chính sách, đặc biệt hiện nay đã và đang thực hiện chương trình mục
tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, theo đó nhiều chính sách ưu tiên cho hộ
nghèo, cận nghèo được triển khai thực hiện như chính sách về giáo dục, y tế... Nhờ sự
quan tâm đầu tư trên, tỷ lệ đói nghèo của Việt Nam nói chung có xu hướng giảm mạnh
và đã đạt được một số kết quả đáng kể trong công tác XĐGN. Để nâng cao chất lượng,
hiệu quả công tác xoá đói, giảm nghèo, góp phần hạn chế phân hoá giàu nghèo, trong
thời gian tới cần tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau:
Một là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trong việc
khuyến khích làm giàu, đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, hạn chế phân hoá giàu nghèo.
Tập trung triển khai đồng bộ các chương trình xoá đói, giảm nghèo nhất là ở vùng sâu,
vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; bảo đảm tính bền vững kể cả trước mắt và lâu dài
trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Hai là, Phát huy tối đa nội lực, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong xoá
chính sách hỗ trợ phù hợp đối với học sinh nghèo đang học tại các trường. Chính sách
ưu đãi, thu hút đối với giáo viên công tác ở địa bàn khó khăn. Tiếp tục thực hiện chính
sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở, chủ động,tích cực huy động nguồn lực của cộng đồng
xã hội, doanh nghiệp, gia đình, dòng họ cùng với nguồn chop vay vốn tín dụng ưu đãi
SVTH: Đinh Thị Xái
25