Nghiên cứu kiểm chứng các mô hình lý thuyết chuyển hóa rừng trồng sa mộc (cunninghamia lanceolata hook) cung cấp gỗ nhỏ thành rừng cung cấp gỗ lớn tại ban quản lý rừng huyện bắc hà tỉnh lào cai - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

LÊ QUANG TÙNG

NGHIÊN CỨU KIỂM CHỨNG CÁC MÔ HÌNH LÝ THUYẾT
CHUYỂN HOÁ RỪNG TRỒNG SA MỘC (Cunninghamia lanceolata-Hook)
CUNG CẤP GỖ NHỎ THÀNH RỪNG CUNG CẤP GỖ LỚN TẠI BAN
QUẢN LÝ RỪNG HUYỆN BẮC HÀ-TỈNH LÀO CAI

Chuyên ngành: Lâm Học
Mã số: 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. VŨ NHÂM

Hà Nội, 2010


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

LÊ QUANG TÙNG

NGHIÊN CỨU KIỂM CHỨNG CÁC MÔ HÌNH LÝ THUYẾT

năm mới có thể khai thác được. Trong khi nhiều diện tích rừng có khả năng
cung cấp gỗ lớn, nhưng lại được trồng với mật độ dày để kinh doanh gỗ nhỏ,
hiệu quả kinh tế mang lại từ những khu rừng này là rất thấp. Nếu diện tích
rừng này, được chuyển hoá thành rừng cung cấp gỗ lớn thông qua các biện
pháp kỹ thuật lâm sinh thích hợp thì chỉ trong khoảng thời gian 5 đến 10 năm
nữa chúng ta sẽ có một diện tích rừng cung cấp gỗ lớn có giá trị. Điều đó
không những đáp ứng nhanh được nhu cầu gỗ lớn ngày càng tăng của thị
trường mà còn lợi dụng được những diện tích rừng đã trồng có giá trị kinh tế
thấp để chuyển hoá thành rừng gỗ lớn có giá trị kinh tế cao, giảm được chi phí


2

trồng rừng ban đầu, giảm được tác hại đến môi trường như xói mòn đất, tăng
khả năng hấp thụ CO2 trong khí quyển.
Huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai là một huyện miền núi, đời sống người
dân còn gặp nhiều khó khăn, kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông - lâm
nghiệp. Trên địa bàn huyện có diện tích rừng trồng Sa mộc đang trong quá
trình sinh trưởng nhanh và có khả năng cung cấp gỗ lớn song lại được trồng
với mật độ dày với mục đích kinh doanh gỗ nhỏ nên hiệu quả kinh tế mang lại
thấp.
Trước thực tế đó, dự án thực hiện việc chuyển đổi diện tích rừng trồng
Sa mộc cung cấp gỗ nhỏ sang rừng cung cấp gỗ lớn, nhằm nâng cao năng suất
và giá trị của rừng trồng, qua đó nâng cao thu nhập cho người trồng rừng, cải
thiện đời sống cho đồng bào dân tộc vùng cao huyện Bắc Hà đã được thực
hiện nhiều năm qua. Các mô hình chuyển hoá rừng đã được thực hiện bắt đầu
từ năm 2007 dựa trên các chính sách, cơ chế, tiêu chuẩn quản lý rừng bền
vững, tạo nguyên liệu gỗ cho công nghiệp chế biến. Việc theo dõi, đo đếm các
chỉ tiêu sinh trưởng cũng được thực hiện, sau hai năm kể từ khi bắt đầu
chuyển hóa cần kiểm chứng sự thành công của các mô hình chặt chuyển hoá

nhỏ nên chưa khai thác hết tiềm năng vốn có của loài cây này.
1.1.3. Giá trị kinh tế
Sa mộc có thân thằng tròn đều gỗ có màu vàng, có tinh dầu thơm, thớ
thẳng, chịu ẩm, không mối mọt. Do đó, gỗ Sa mộc có giá trị về nhiều mặt,
như làm trụ mỏ, gỗ xây dựng, cột điện, nội thất và làm nguyên liệu cho công


4

nghiệp chế biến… hiện được chú trọng quan tâm trong chương trình 5 triệu ha
rừng ở các tỉnh biên giới phía Bắc [5].
1.2. Các nghiên cứu trên thế giới về kỹ thuật chuyển hoá rừng
1.2.1. Chuyển hóa rừng
Chuyển hóa rừng là những tác động kỹ thuật lâm sinh vào lâm phần
hiện tại để chuyển hóa nó thành những lâm phần đã được ấn định trước trong
tương lai nhằm đạt được mục đích kinh doanh. Như vậy, chuyển hóa rừng có
thể coi là biện pháp chặt nuôi dưỡng rừng áp dụng đối với các lâm phần còn
non và đã có trữ lượng với mục đích nâng cao sinh trưởng lâm phần và chất
lượng gỗ.
Chặt nuôi dưỡng rừng là một khâu quan trọng trong việc điều khiển
quá trình hình thành rừng và là biện pháp thay đổi định hướng phát triển của
cây rừng và lâm phần trước khi thu hoạch nhưng không thay thế nó bằng một
lâm phần mới (K. Wenger. 1984). Như vậy, “chặt nuôi dưỡng là biện pháp
chính để nuôi dưỡng rừng bằng cách chặt bớt đi một số cây rừng nhằm tạo
điều kiện cho những cây phẩm chất tốt được giữ lại sinh trưởng, nuôi dưỡng
hình thân, tạo tán, tăng lượng sinh trưởng, cải thiện chất lượng gỗ và nâng
cao các chức năng có lợi khác của rừng”.
Chặt nuôi dưỡng là một khái niệm tổng quát, bao gồm mọi biện pháp
nhằm loại bỏ một cách có chọn lọc một số cây rừng hoặc một bộ phận cây
rừng để mở rộng tán lá và phạm vi phân bố của hệ rễ cho các cây được giữ lại

sách lớn nhất của Lâm nghiệp Nhật Bản[11].
Năm 1950 Trung quốc đã ban hành quy trình chặt nuôi dưỡng chủ yếu
là dựa vào các giai đoạn tuổi của lâm phần, đưa ra nhiệm vụ và quy định thời
kỳ chặt và phương pháp chặt nuôi dưỡng. Thời kỳ phát triển khác nhau thì cây
rừng có những đặc điểm sinh trưởng khác nhau và do đó nhiệm vụ chặt nuôi
dưỡng cũng ở mức độ khác.[11]


6

Sự phát triển của khoa học chuyển hóa rừng gắn chặt với phát triển của
Lâm nghiệp. Hiện nay, có nhiều chương trình quốc gia và quốc tế về chuyển
hóa rừng: Chuyển hóa rừng thuần loại thành rừng hỗn loài, chuyển hoá rừng
giống, chuyển hóa rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn, …
Chặt nuôi dưỡng rừng còn gọi là “chặt trung gian nuôi dưỡng”. Trong
khi rừng chưa thành thục, để tạo điều kiện cho cây gỗ còn lại sinh trưởng và
phát triển tốt nhất, cần phải chặt bớt một phần cây gỗ. Do thông qua chặt tỉa
bớt một phần cây gỗ mà thu được một phần lợi nhuận, chặt chăm sóc trước
khi chặt chính thu được một số lượng gỗ, nên gọi là “chặt lợi dụng trung
gian” gọi tắt là “chặt trung gian”.
- Phân tích sản lượng: Người ta có thể tiến hành phân tích những cây
sinh trưởng mạnh nhất theo các cấp tuổi khác nhau và khi nào thì giảm xuống
để chặt nuôi dưỡng.
- Mức độ phân hoá cây rừng: Việc xác định có thể dựa vào một số tiêu
chí sau: Phân cấp cây rừng; Độ phân tán của đường kính lâm phần.
- Hình thái bên ngoài của lâm phần: Có thể căn cứ động thái hình tán
hay độ cao tỉa cành tự nhiên.
- Xác định cường độ chặt nuôi dưỡng.
2.1.1.1.Thể hiện cường độ chặt nuôi dưỡng có hai phương pháp:
+ Tính theo tỷ lệ thể tích gỗ cây chặt chiếm trong thể tích gỗ toàn lâm

Charlier, Strub (1972), Burkhart (1974) sử dụng hàm Beta, Bliss, và Reinker
(1964) sử dụng hàm Logarit chuẩn, ... để biểu thị quy luật cấu trúc. Do đường
kính cây rừng không ngừng tăng lên theo tuổi, nên phân bố đường kính của
lâm phần cũng không ngừng thay đổi theo tuổi. Chính vì thế, từ các mô hình
toán học đã xác định được, các nhà khoa học đã nghiên cứu sự biến đổi của
quy luật phân bố số cây theo tuổi (gọi là động thái cấu trúc rừng).
+ Roemisch (1975), (theo Phạm Ngọc Giao, 1996) [10] đã nghiên cứu
khả năng dùng hàm Gammar để mô phỏng sự biến đổi theo tuổi của phân bố


8

đường kính cây rừng, xác lập quan hệ của tham số Beta với tuổi, đường kính
trung bình, chiều cao tầng trội và đi đến khẳng định quan hệ giữa tham số
Beta và chiều cao tầng trội là chặt chẽ nhất. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đó
tác giả đã đề nghị mô hình xác định tham số Beta cho phân bố N/D của lâm
phần sau khi tỉa thưa như sau:
 '  a0  a1.  a2 . 2  a3 .n  a4 .n 2  a5 . .n  a6 . .n 2

với

(1-1)

 ' : Tham số phân bố Gamma sau tỉa thưa;
 : Tham số phân bố Gamma trước tỉa thưa;

n : là tỷ lệ phần trăm số cây tỉa thưa.
+ Còn có các quan điểm cho rằng đường kính cây rừng là một đại
lượng ngẫu nhiên phụ thuộc vào thời gian và quá trình biến đổi của phân bố
đường kính theo tuổi. Đó là quan điểm của các tác giả như: Suruki (1971),

g  (0,11 n' ).0,001

(1.2)
2

(1.3)
(1.4)


9

Trong đó

Yi: Phần trăm số cây tỉa thưa theo cỡ kính i

di: Đường kính trung bình cỡ kính i
dm: Đường kính nhỏ nhất
s : Tham số
n và g: Các đại lượng biểu thị loại tỉa thưa
n’ : Tỷ lệ phần trăm cây chặt
t : Tuổi
Hàm trên được dùng xác định phân bố N-D của bộ phận tỉa thưa. Để
xác định được bộ phận này cần biết phân bố N-D trước tỉa thưa, tuổi và tỷ lệ
cây chặt. Số cây còn lại sau tỉa thưa ở mỗi cỡ kính được tính bằng hiệu số số
cây trước tỉa thưa và số cây tỉa thưa. Với mô hình tăng trưởng đã có, tác giả
sử dụng hàm (1.5) để xác định tăng trưởng đường kính.
 p(t  t )
a
Zi  
 .d i  a


Trong đó:

Ni1  Ni . f 2

(1.8)

Ni  N j  N J . f 2

(1.9)

i  j  fi

(1.10)

Từ các nghiên cứu định lượng cấu trúc N-D đề cập ở trên cho thấy:
- Các nghiên cứu về phân bố số cây theo đường kính và ứng dụng của
nó thường dựa vào dãy số lý thuyết.
- Các hàm toán học được sử dụng để mô phỏng rất đa dạng và phong
phú.
- Xu hướng chung là tìm hàm toán học thích hợp, xác định các tham số
của phân bố N-D bằng các hàm tương quan trực tiếp hoặc gián tiếp theo tuổi,
thiết lập một quá trình ngẫu nhiên. Ngoài ra, mô tả biến đổi phân bố N-D như
một quá trình xác định trên cơ sở quan niệm động thái phân bố N-D là kết quả
của quá trình sinh trưởng và quá trình tỉa thưa.
2). Nghiên cứu quan hệ giữa chiều cao Hvn với đường kính D1.3
Giữa chiều cao và đường kính thân cây luôn có mối quan hệ chặt chẽ.
Đây là một trong những quy luật cấu trúc cơ bản và quan trọng. Đã có nhiều
tác giả dùng phương pháp giải tích toán học để tìm ra các quy luật này như:


Khi nghiên cứu sự biến đổi theo tuổi của quan hệ giữa chiều cao và
đường kính ngang ngực, có một số nhận xét như sau: tác giả Vagui, A.B
(1955) khẳng định “đường cong chiều cao thay đổi và luôn dịch chuyển lên
phía trên khi tuổi tăng lên”. Prodan, M (1965); Haller, K.E (1973) cũng phát
hiện ra quy luật: “Độ dốc đường cong chiều cao có chiều hướng giảm dần khi
tuổi tăng lên”.Curis, R.O (1967) đã mô phỏng quan hệ giữa chiều cao với
đường kính và theo tuổi theo dạng phương trình:
LogH = D + b1.

1
1
1
+ b2 . + b 3 .
D
D. A
A

(1.16)

Quy luật quan hệ giữa chiều cao với đường kính thân cây cũng được
quan tâm nghiên cứu. Tovstolesse, D.I (1930) đã lấy cấp đất làm cơ sở để
nghiên cứu quan hệ H-D. Krauter, G (1958) nghiên cứu quan hệ H-D dựa
trên cơ sở cấp đất và cấp tuổi. Để xác lập mối quan hệ H-D nhiều tác giả đã
đề xuất sử dụng các dạng phương trình toán học khác nhau.


12

Như vậy, có nhiều dạng phương trình biểu thị tương quan H-D. Tuy
nhiên, việc sử dụng dạng phương trình nào thích hợp nhất cho từng đối tượng

13

1.2.3.2. Những nghiên cứu sinh trưởng và tăng trưởng
Nghiên cứu sinh trưởng cây rừng đã được đề cập từ thế kỷ XVIII. Về
lĩnh vực này phải kể đến các tác giả như: Oettlt, G. Baur, Borggreve,
Breymann, H. Cotta, Draudt, M. Hartig, E. Weise, H. Thomasius.... Nhìn
chung những nghiên cứu về sinh trưởng của cây rừng, lâm phần, được xây
dựng thành các mô hình toán học và được công bố trong các công trình
nghiên cứu của Meyer, H.A và D.D Stevenson (1943), Schumacher, F.X và
Coil, T.X (1960), Alder (1980), Clutter, J, L; Allison, B.J (1973)....(theo
Hoàng Văn Dưỡng (2001),[7]).
Có thể khái quát quá trình phát triển của môn khoa học tăng trưởng, sản
lượng rừng thành 2 phương hướng: Một là đo đạc lặp lại nhiều năm các chỉ
tiêu sinh trưởng trong các ô định vị đại diện cho các lâm phần nghiên cứu để
biết cả quá trình phát sinh, phát triển, già cỗi và tiêu vong. Hai là giải tích thân
cây đại diện mỗi lâm phần khác nhau về các nhân tố cần nghiên cứu, để có số
liệu tăng trưởng đầy đủ từ khi bắt đầu trồng hoặc tái sinh.
Sau đó áp dụng kỹ thuật phân tích thống kê toán học, phân tích tương
quan và hồi quy để xác định sản lượng gỗ của lâm phần. Trên thế giới số
lượng các hàm toán học mô tả quá trình sinh trưởng cũng rất phong phú như
hàm: Gompertz (1825), Verhulst (1845), Mitscherlich (1919), Kovessi (1929),
Petterson (1929), Levacovic (1935), Korsun (1935), Peshel (1938), Korf
(1930), Verkbulet (1952), Michailov (1953), Drakin (1957), Richards (1959),
Thomasius (1965), Simes (1966), Sless(1970), Sloboda (1971), Schumacher
(1980). Hàm sinh trưởng là mô hình sinh trưởng đơn giản nhất mô tả quá trình
sinh trưởng của cây rừng cũng như lâm phần. Dựa vào hàm sinh trưởng có thể
biết trước được giá trị lớn nhất của đại lượng sinh trưởng ở tuổi cuối cùng và
tính trước được tốc độ sinh trưởng cực đại.



là diện tích dinh dưỡng.

ao

là diện tích dinh dưỡng tối thiểu.

Phương trình (1.18) cho thấy, khi a tăng thì Zv tăng theo, nhưng đến
một giới hạn nào đó, Zv tăng rất chậm và tiệm cận với Zvmax. Điều này có


15

nghĩa thực tiễn là, không nên để mật độ lâm phần quá thấp, vì ở mật độ này,
Zv không phụ thuộc vào a. Nếu thay N = 104/a thì tăng trưởng trữ lượng được
xác định theo công thức sau:
ZM = (10 4/a) ZvMAX [1 – e – c (a-ao)]

(1.19)

Diện tích dinh dưỡng ứng với giá trị lớn nhất của ZM gọi là diện tích
dinh dưỡng tối ưu, còn mật độ tương ứng gọi là mật độ tối ưu:
Nt.ư = 104/at.ư

(1.20)

Solynis (Wenk – 1990) [36] căn cứ vào diện tích tán để xác định mật
độ tối ưu:
Nt.ư =

Qmax

Một số kỹ thuật Chặt nuôi dưỡng cho rừng trồng đã được kiểm nghiệm trong
thực tiễn sản xuất và được công nhận là tiêu chuẩn ngành như: Chặt tỉa thưa
rừng Thông nhựa, chặt tỉa thưa rừng Thông đuôi ngựa, chặt tỉa thưa rừng Sa
mộc…
Theo Đặng Thịnh Triều và cộng sự (2007)[28], trong nghiên cứu tỉa
thưa cây phù trợ ở Cầu Hai-Phú Thọ cho biết: sau 2 năm tỉa thưa, tăng trưởng
đường kính thân cây, chiều cao và đường kính tán lá của một số loài đã có sự
khác nhau rõ rệt ở các cường độ tỉa thưa khác nhau. Tuy nhiên, mỗi loài có
một kết quả khác nhau. Đối với thí nghiệm tiến hành tại thời điểm rừng 3 tuổi,
các loài như sồi phảng và re gừng dường như thích hợp với cường độ tỉa thưa
75%, vạng trứng sinh trưởng tốt hơn ở công thức không tỉa, riêng trám trắng
chưa bị ảnh hưởng bởi các cường độ tỉa thưa khác nhau. Trong các loài trên
thì trám trắng chỉ đạt tăng trưởng chậm, chỉ đạt trung bình từ 0,4-0,5 cm/năm
về đường kính thân cây và 0,3-0,5 m/năm về chiều cao, sồi phảng đạt tăng
trưởng tốt nhất với 2,1-2,9 cm/năm về đường kính và 1,8-2,6 m/năm về chiều
cao [28].
Điểm qua các công trình nghiên cứu có liên quan trên thế giới và ở
trong nước thấy rằng nghiên cứu cấu trúc rừng là vấn đề rất được quan tâm.
Cùng với sự phát triển của toán học và công nghệ máy tính, các nghiên cứu
dần chuyển sang hướng định lượng, mô tả các quy luật cấu trúc rừng bằng các
dạng hàm toán học. Những nghiên cứu này là rất có ý nghĩa trong công tác
điều chế và kinh doanh rừng trong thời gian qua.


17

Ở Việt Nam, Sa mộc là loài cây được lựa chọn là loài cây trồng rừng
sản xuất chính cho các vùng sinh thái và hiện nay đã được gây trồng rộng rãi
ở nhiều nơi. Những nghiên cứu về loài cây này cũng khá toàn diện, từ khâu
kỹ thuật gây trồng, tăng trưởng, sinh trưởng, tiểu khí hậu rừng,... tuy nhiên

Nội dung và phương pháp xây dựng mô hình chuyển hóa:
1. Xác định đối tượng chuyển hoá.
2. Xác định các quy luật cấu trúc lâm phần như D1.3, Dt, Hvn.
Số liệu sau khi thu thập được xử lý bằng toán học thống kê có sự trợ
giúp của phần mềm Excel 5.0, SPSS 13.0.
3. Xác định các yếu tố cơ bản thực hiện chuyển hoá rừng: Xác định
phương thức chuyển hoá; Xác định phương pháp chuyển hoá; Xác định thời
kỳ chặt; Xác định cường độ chặt; Xác định chu kỳ chặt; Xác định cây chặt.
4. Xác địng các yếu tố cơ bản trong chặt chuyển hoá:
- Phân cấp cây rừng: theo phân cấp Kraff (1984).
- Xác định thời điểm bắt đầu chặt.
- Xác định cường độ chặt chuyển hoá.
- Xác định cây chặt: Dựa vào trắc đồ ngang, trắc đồ đứng và phân cấp
cây rừng Kraff (1984) để xác định cây chặt.
- Xác định chu kỳ chuyển hoá: Dựa vào dự đoán tăng trưởng của tán
cây và cấp đất để xác định chu kỳ chuyển hoá.
5. Xây dựng mô hình lý thuyết chuyển hóa
6. Tiến hành chặt chuyển hóa
1.3.2.2. Kiểm chứng mô hình chuyển hóa rừng đã được thiết lập
Từ nội dung và phương pháp xây dựng mô hình chuyển hóa rừng trồng
Sa mộc cung cấp gỗ nhỏ thành rừng trồng cung cấp gỗ lớn trên mà khi tiến
hành kiểm chứng hiệu quả của mô hình ta kiểm chứng lại đúng theo phương
pháp xây dựng mô hình chuyển hóa thông qua việc nghiên cứu cấu trúc các


19

lâm phần Sa mộc đã tiến hành chuyển hóa, đồng thời đem so sánh với cấu
trúc của lâm phần Sa mộc không tiến hành chuyển hóa để lại đối chứng.
1.3.3. Nghiên cứu về cấu trúc rừng

cao lâm phần cho Thông đuôi ngựa khu vực Đông Bắc,... Ngoài ra còn rất
nhiều tác giả khác trong quá trình nghiên cứu cấu trúc, sinh trưởng, sản lượng
rừng đã đề cập tới quy luật tương quan H-D. Nghiên cứu tương quan giữa
chiều cao với đường kính cây rừng Vũ Đình Phương (1985)[27] thiết lập biểu
cấp chiều cao lâm phần Bồ đề tự nhiên từ phương trình parabol bậc hai mà
không cần phân biệt cấp đất và tuổi.
1.3.3.3. Nghiên cứu tương quan giữa đường kính Dt với đường kính D1.3
Vũ Đình Phương (1985)[27] đã khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa
đường kính tán và đường kính ngang ngực theo dạng phương trình; Phạm
Ngọc Giao (1996)[10] đã xây dựng mô hình động thái tương quan giữa
DT/D1.3 với rừng Thông đuôi ngựa khu Đông Bắc.
Vũ Nhâm (1988)[24] đã xây dựng được đường cong chiều cao lâm
phần cho thông Đuôi ngựa khu vực Đông Bắc.
Các tác giả như Vũ Đình Phương (1985)[27] đã khẳng định mối quan
hệ giữa đường kính tán và đường kính D1.3 theo dạng phương trình đường
thẳng. Tác giả Phạm Ngọc Giao (1996)[10] đã xây dựng mô hình động thái
tương quan giữa Dt-D1.3 cho rừng thông Đuôi ngựa khu Đông Bắc.
Những nghiên cứu về cấu trúc rừng trên cho thấy trong thời gian qua,
việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở nước ta đã có những bước phát triển nhanh
chóng và có nhiều đóng góp nhằm nâng cao hiểu biết về rừng, nâng cao hiệu
quả trong nghiên cứu cũng như sản xuất kinh doanh rừng. Tuy nhiên, các
nghiên cứu về cấu trúc rừng gần đây thường thiên về việc mô hình hoá các
quy luật kết cấu lâm phần và việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động vào
rừng thường thiếu yếu tố sinh thái nên chưa thực sự đáp ứng mục tiêu kinh


21

doanh rừng ổn định lâu dài. Bởi lẽ bản chất của các biện pháp kỹ thuật lâm
sinh là giải quyết những mâu thuẫn sinh thái phát sinh trong quá trình sống

phương trình sinh trưởng cho các đại lượng Y (D, H, V) suy ra các giá trị cực
đại cũng như thời điểm đạt cực đại của ZY và ∆Y. Đây là cơ sở xác định tuổi
thành thục số lượng cho cây bình quân lâm phần, với lâm phần không qua tỉa
thưa, thì tuổi thành thục số lượng của cây bình quân cũng là tuổi thành thục số
lượng của lâm phần.
Nguyễn Thị Bảo Lâm (1996) 21, đã sử dụng hàm Korf mô phỏng sinh
trưởng chiều cao tầng trội và thay đổi đồng thời 2 tham số để xác định đường
cong chỉ thị cấp đất cho rừng thông đuôi ngựa.
Phạm Xuân Hoàn (2001), đã sử dụng hàm Gompert để nghiên cứu quá
trình sinh trưởng của các lâm phần Quế ở Yên Bái.
Hoàng Xuân Y (1997) [31], tiến hành phân chia cấp đất bằng chiều cao
cây có tiết diện bình quân (Hg). Tác giả thử nghiệm các hàm, Schumacher,
Gompertz và chọn hàm Schumacher để mô phỏng sinh trưởng chiều cao cho
rừng Mỡ (M.glauca) trồng tại Trung tâm nguyên liệu giấy.
Ngoài ra, nhiều tác giả khác như: Vũ Nhâm, Bảo Huy, Trần Văn Con,
Hoàng Văn Dưỡng...đã nghiên cứu sinh trưởng cây rừng theo xu hướng toán
học hoá. Việc mô phỏng mang tính chất định lượng cho quá trình sinh trưởng
của cây rừng hay lâm phần là không thể thiếu trong khoa học hiện nay, nhằm
đưa ra được những cơ sở thực tiễn trong kinh doanh rừng hợp lí.
1.3.5. Những nghiên cứu về cấp đất
Vũ Đình Phương (1972)[26], đã tiến hành lập biểu cấp đất cho rừng Bồ đề.
Vũ Nhâm (1988)[24], đã dùng hàm Korf để lập biểu cấp đất tạm thời
cho rừng Thông đuôi ngựa.
Nguyễn Trọng Bình (1996)[4] đã nghiên cứu mối quan hệ giữa kỳ vọng
toán và phương sai của từng đại lượng sinh trưởng cho một số loài cây.
Hoàng Xuân Y (1997)[31], Lập biểu cấp đất và xây dựng một số mô hình
sản lượng làm cơ sở lập biểu quá trình sinh trưởng rừng Mỡ vùng nguyên liệu giấy.
1.3.6. Những nghiên cứu về sản lượng rừng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status