Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn làm căn cứ đề xuất các giải pháp quy hoạch sử dụng đất phát triển sản xuất nông lâm nghiệp tại xã hòa thạch, huyện quốc oai, hà nội - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------------------------------------------

TRƯƠNG THU HOÀI

" NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LÀM
CĂN CỨ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUY HOẠCH SỬ
DỤNG ĐẤT PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP
XÃ HOÀ THẠCH, HUYỆN QUỐC OAI, HÀ NỘI”

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

HÀ NỘI, 2010


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

TRƯƠNG THU HOÀI

"" NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LÀM
CĂN CỨ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUY HOẠCH SỬ
DỤNG ĐẤT PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP
XÃ HOÀ THẠCH, HUYỆN QUỐC OAI, HÀ NỘI”

được trích dẫn đầy đủ, rõ ràng.
Tôi xin trân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2010
Tác giả

Trương Thu Hoài


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHLN

Đại học lâm nghiệp

BCR

Tỷ suất giữa thu nhập và chi phí

QSDĐ

Quyền sử dụng đất

CBA

Phương pháp phân tích chi phí và lợi ích

FAO

Tổ chức nông nghiệp và lương thực thế giới

CHXHCN


LNXH

Lâm nghiệp xã hội

NLKH

Nông lâm kết hợp

NN

Nông nghiệp

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NPV

Giá trị hiện tại của thu nhập ròng

PRA

Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người
dân

QHSDĐ

Quy hoạch sử dụng đất

RRA

Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn


3.2

Hiện trạng sử dụng đất xã Hoà Thạch

63

3.3

Lịch mùa vụ xã Hoà Thạch

69

3.4

Tổng hợp hiệu quả kinh tế của một số giống lúa

71

3.5

Tổng hợp hiệu quả kinh tế cây hoa màu trên 1ha/1năm

72

3.6

Tổng hợp hiệu quả kinh tế cây ăn quả trên 1ha/năm

72


3.12

Tổng hợp kết quả lựa chọn vật nuôi

79

3.13

Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức

82

3.14

Một số mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020

86

3.15

Kết quả phân bổ quy hoạch sử dụng đất xã Hoà Thạch đến năm
2020

91

3.16

Phân bổ sử dụng đất sản xuất nông nghiệp xã Hoà Thạch đến năm
2020

sản xuất 10 năm

112


DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình vẽ:

STT
hình

Nội dung

Số
trang

01

Chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất giai đoạn 2005-2010

49

02

Biến động đất đai trước và sau khi quy hoạch

100


1



2

Xuất phát từ nhận thức thực tiễn trên nhằm góp phần xây dựng một số cơ sở
lý luận và thực tiễn của quy hoạch sử dụng đất cấp xã trên địa bàn nông thôn miền
núi và vận dụng phương pháp quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân.
chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn làm
căn cứ đề xuất các giải pháp quy hoạch sử dụng đất phát triển sản xuất nông lâm
nghiệp tại xã Hòa Thạch – huyện Quốc Oai - Hà Nội”


3

CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới
1.1.1. Những nghiên cứu liên quan tới cơ sở khoa học của quy hoạch sử dụng
đất cấp vĩ mô
Lịch sử về quy hoạch sử dụng đất đã trải qua hơn 100 năm nghiên cứu và
phát triển, những thành tựu về phân loại đất, xây dựng bản đồ đất đã được sử dụng làm
cơ sở quan trọng cho việc tăng năng suất và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả.
Hệ thống canh tác (Farming System) là sự bố trí một cách thống nhất và ổn
định các ngành trong nông trại, được quản lý bởi hộ gia đình trong môi trường tự
nhiên, sinh học và kinh tế xã hội, phù hợp với các mục tiêu mong muốn và nguồn
lực của hộ (Shaner, Philip và Schemmedli, 1984) [29]. Hệ thống canh tác bao gồm
các nguồn lực (đất, lao động, vốn) được sử dụng cho các hoạt động trồng trọt, chăn
nuôi, nghề phụ để sản xuất các nông sản (lương thực, nguyên liệu thô, tiền mặt)
trong nông trại với điều kiện nhất định (Wilem C.Beet, 1990).
Trên thế giới mô hình sử dụng đất đầu tiên là du canh (Shifiting cultivation),

Theo FAO, hiện nay dân số thế giới đã trên 6 tỷ người, đang sử dụng 1,476
tỷ ha đất nông nghiệp. Trong đó đất có độ dốc trên 10o (đất đồi, núi) là 937 triệu ha
chiếm 63,5% (Sheng, 1988; Hudson, 1988; Cent, 1989).
Trong quá trình sử dụng con người đã làm thoái hoá khoảng 1,4 tỷ ha đất.
Theo Norman Mayer (1993), hàng năm trên toàn cầu mất khoảng 11 triệu ha đất.
Theo FAO đến năm 1980 các loại hình quảng canh và du canh trên toàn thế giới
chiếm đến 45% diện tích đất nông nghiệp. Đây là nguyên nhân chủ yếu gây nên tình
trạng xói mòn, thoái hoá đất làm giảm năng suất cây trồng. Do những yêu cầu của
mình, con người ngày càng xâm hại đến rừng, để lấy lâm sản và đất canh tác đã làm
cho diện tích đất rừng ngày càng thu hẹp, đe doạ đến môi trường sống. Diện tích
trồng rừng chỉ bằng 1/10 diện tích rừng bị mất, riêng ở Châu Á Thái Bình Dương
trong thời gian từ năm 1976 – 1980 mất 9 triệu ha rừng. Cũng trong khoảng thời
gian này ở Châu Phi mất khoảng 37 triệu ha rừng, Châu Mỹ mất khoảng 18,4 triệu
ha rừng. Do tình trạng mất rừng mà hiện tượng xói mòn, sa mạc hóa ngày càng diễn
ra nghiêm trọng (có khoảng 875 triệu người phải sống ở những vùng sa mạc hóa).
Sa mạc hóa đã làm mất đi mỗi năm khoảng 26 tỉ đô giá trị sản phẩm mỗi năm, hiện


5

tượng xói mòn mỗi năm làm thế giới mất đi 12 tỉ tấn đất (ước tính mất khoảng 50
triệu tấn lương thực, hàng ngàn hồ chứa nước ở vùng nhiệt đới đang bị cạn dần làm
tuổi thọ của nhiều công trình thủy điện vùng này bị rút ngắn tuổi thọ)
Theo dự báo của Tổ chức dân số thế giới, nếu tốc độ tăng trưởng dân số diễn
ra như hiện nay thì đến năm 2025 dân số thế giới trên 8 tỷ người, tập trung ở các
nước đang phát triển và kém phát triển. Nếu mức tiêu thụ lương thực theo đầu
người vẫn giữ nguyên như hiện nay thì sự tăng dân số thế giới đòi hỏi phải tăng
năng suất lương thực thô thêm 2,6 tỷ tấn vào năm 2025, tức là tăng 57% so với năm
1990. Nhưng nếu khẩu phần được cải thiện cho thế giới người nghèo đói (ước tính 1
tỉ người) thì nhu cầu lương thực thế giới phải tăng gấp đôi, tức 4,5 tỉ tấn nữa[6].

Các mô hình canh tác nông nghiệp bền vững trên đất dốc có sự phối hợp hài
hoà giữa cây nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc đều dựa trên cơ sở có sự
nghiên cứu phân bố các loại đất một cách hợp lý, khoa học nhằm tạo ra hiệu quả
kinh tế cao nhất và vững nhất về mặt môi trường sinh thái.
Kết quả tổng kết các tài liệu nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp quy
hoạch phát triển địa phương chỉ ra rất nhiều cách tiếp cận: Tiếp cận Sodeo của Peter
Hildebrand (Hildebrand,1981); Tiếp cận “nông thôn - trở lại – nông thôn” của
Robert (Rhoades Rhoades, 1892); Tiếp cận của Robert Chambers; Tiếp cận “chẩn
đoán và thiết kế của ICRAF” (Raintree); Tiếp cận của L.W. Harrington. nhìn chung
các phương pháp tiếp cận đi theo hai hướng chính là: Tiếp cận từ trên xuống (Top –
down approach) và tiếp cận từ dưới lên ( Bottom – up approach). Cách tiếp cận thứ
nhất ngày càng bộc lộ những hạn chế, kém hiệu quả khi không có sự tham gia của
cộng đồng và khi các chương trình thực hiện ở cấp vĩ mô. Cách tiếp cận thứ 2 được
hình thành khi các nhà xã hội học chứng minh rằng sự “không thể thiếu được” vai
trò của nông thôn trong quản lý tài nguyên cộng đồng (Robert Chambers). Từ đó
“Quy hoạch trên cơ sở cộng đồng ” (Community-based Planning) bắt đầu xuất hiện.
khi nghiên cứu hệ thống canh tác năm 1990, FAO đã xuất bản cuốn “Phát triển hệ
thống canh tác”. Công trình đã chỉ rõ những ưu thế và hạn chế của 2 phương pháp
tiếp cận [34].
Từ cuối thập kỷ 70 nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm phát triển các phương
pháp thu thập thông tin cho quy hoạch với các nhóm thông tin chính như: Khí hậu,


7

độ dốc, địa mạo, thổ nhưỡng gồm cả thủy văn, đất, nước, tài nguyên nhân tạo như
hệ thống tưới tiêu, thảm thực vật. Các phương pháp điều tra đánh giá cùng tham gia
như đánh giá nhanh nông thôn (RRA), đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA),
phương pháp quá trình sáng tạo ( Creative Process), đặc biệt phương pháp phân tích
các hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất vi mô được nghiên cứu rộng rãi.

hỏi:
1. Các vấn đề nào đang tồn tại và mục tiêu của quy hoạch là gì?
2. Có các phương án sử dụng đất nào đang tồn tại?
3. Phương án nào là tốt nhất?
4. Có thể vận dụng vào thực tế như thế nào?
- Tại hội thảo giữa trường Đại học lâm nghiệp Việt Nam với Trường tổng
hợp Kỹ thuật Dresden, vấn đề quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân
đã được Holm Uibig đề cập khá đầy đủ và toàn diện. Tài liệu đã phân tích một cách
đầy đủ về mối quan hệ giữa các loại hình canh tác có liên quan như: Quy hoạch
rừng, vấn đề phát triển nông thôn, quy hoạch sử dụng đất, phân cấp hạng đất,
phương pháp tiếp cận mới trong quy hoạch sử dụng đất.
- Tại hội thảo quốc tế Việt Nam năm 1998 về vấn đề quy hoạch sử dụng đất
cấp làng bản đã được FAO đề cập khá chi tiết cả về mặt khái niệm lẫn sự tham gia
trong việc đề xuất các chiến lược quy hoạch sử dụng đất và giao đất cấp làng bản [6]
Trong tài liệu hội thảo VFC – TV dresden, 1998 của Dr. Habil Holm Uibrig
associate Selection concerus for Viet Nam, tác giả đề cập tới:
- Quy hoạch rừng
- QHSDĐ
- Phân cấp hạng đất
- Phương pháp tiếp cận mới trong QHSDĐ
Cũng trong chương trình hội thảo quốc tế tại Việt Nam (1998), tài liệu hội
thảo về QHSDĐ của FAO đã đề cập một cách chi tiết khái niệm sự tham gia và đề
xuất các chiến lược QHSDĐ và giao đất, về cơ bản chiến lược nêu lên:
- Sự tham gia của người dân trong hoạt động QHSDĐ và giao đất.
- Điều tra ranh giới làng, khoanh vẽ đất đang sử dụng, điều tra rừng và xây
dựng bản đồ đất.
- Thu thập số liệu và phân tích


9


10

luân canh cây họ đậu nhằm giúp người dân đạt năng suất cao nhất trong sản xuất
nông nghiệp.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, các công trình nghiên cứu đánh giá và quy hoạch
sử dụng đất đã được các nhà khoa học Pháp nghiên cứu phát triển với quy mô rộng
lớn.
- Giai đoạn 1955 – 1975, công tác điều tra phân loại đã được tổng hợp một
cách có hệ thống trong phạm vi toàn miền Bắc. Nhưng đến sau 1975 các số liệu
nghiên cứu phân loại đất mới được thống nhất. Xung quanh chủ đề phân loại đất đã
có nhiều công trình khác triển khai thực hiện trên các vùng sinh thái (Ngô Nhật
Tiến, 1986; Đỗ Đình Sâm, 1994,...). Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên
chỉ mới dừng lại ở mức độ nghiên cứu cơ bản, thiếu biện pháp đề xuất cần thiết cho
việc sử dụng đất, công tác điều tra phân loại đã không gắn liền với công tác sử dụng
đất. Những thành tựu về nghiên cứu đất đai trong giai đoạn trên là cơ sở quan trọng
góp phần vào việc bảo vệ, cải tạo, quản lý và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả
trong cả nước.
Ở nước ta vấn đề QHSDĐ cấp vi mô có sự tham gia của người dân mới được
nghiên cứu và ứng dụng trong những năm gần đây. Cấp vi mô thực chất đã được đề
cập trong nhiều công trình nghiên cứu ở các mức độ khác nhau, cho đến nay những
nghiên cứu đó vẫn còn hết sức tản mạn và chưa có sự phân tích tổng hợp thành cơ
sở lý luận để có thể áp dụng vào thực tiễn. Công trình “Sử dụng đất tổng hợp và bền
vững”của Nguyễn Xuân Quát (1996) [22] đã phân tích tình hình sử dụng đất đai
cũng như mô hình sử dụng đất bền vững, mô hình khoanh nuôi và phục hồi rừng ở
Việt Nam, những điều kiện cần biết về đất đai. Đồng thời đề xuất tập đoàn cây
trồng thích hợp cho các mô hình sử dụng đất tổng hợp bền vững.
Tài liệu “Đất rừng Viêt Nam”, Nguyễn Ngọc Bình [1] đã đưa ra quan điểm
nghiên cứu và phân loại đất rừng trên cơ sở những đặc điểm cơ bản của đất rừng
Việt Nam.

chi tiết. Tài liệu tập huấn “Những quy định và chính sách về quản lý sử dụng đất “
của Trần Thanh Bình,1977 [2], Các chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế
trang trại.
Vấn đề sử dụng đất đai gắn với việc bảo vệ độ phì nhiêu của đất và môi
trường ở vùng trung du miền núi phía Bắc Việt Nam, Lê Vĩ (1996) [30] đã nêu:


12

- Tiềm năng đất vùng trung du
- Hiện trạng sử dụng đất trung du
- Các kiến nghị về sử dụng đất bền vững
Quan điểm về vấn đề hệ thống và hệ thống sử dụng đất được đề cập trong
chương trình tập huấn dự án LNXH, Trường Đại học lâm nghiệp, các tác giả Hà
Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997) dựa trên quan điểm của hệ thống sử dụng đất
của FAO đã đề cập tới [34]:
- Lược sử về sử dụng đất
- Tình hình sử dụng đất ở nước ta hiện nay
- Những đặc điểm của hệ thống sử dụng đất
- Đánh giá hệ thống sử dụng đất
- Một số hệ thống sử dụng đất và cách tiếp cận
Qua việc nghiên cứu hệ thống nông nghiệp tại khu vực đồng bằng sông
Hồng, Đào Thế Tuấn 1989 [35] đã chỉ ra được vấn đề tồn tại, nguyên nhân của nó
và đề xuất các mục tiêu, giải pháp.
Trên cơ sở tổng hợp các luận điểm về các công trình nghiên cứu trong và
ngoài nước các tác giả Trần Văn Diễn, Phạm Tiến Dũng, Phạm Chí Thành, Trần
Đức Viên (1993) [36] đã xây dựng giáo trình hệ hống nông nghiệp. Ngoài phần hệ
thống hóa nông nghiệp, các tác giả đã đề xuất chiến lược phát triển, dự kiến cấu trúc
và thứ bậc hệ thống nông nghiệp, công trình hỗ trợ đắc lực cho công tác nông
nghiệp trên cả 2 phương diện lý luận và thực tiễn.

hoạch sử dụng đất và giao đất nông nghiệp có sự tham gia của người dân đã kết hợp
phương pháp quy hoạch sử dụng đất trong nước và của một số dự án quốc tế đang
áp dụng tại một số vùng dự án tại Việt Nam. Trong đó tác giả đã trình bày khái
niệm và nguyên tắc chỉ đạo QHSDĐ và giao đất cho người dân tham gia.
Trong tài liệu hướng dẫn công tác quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm
nghiệp có sự tham gia của người dân, Đoàn Diễm (1997) [4] đã tập trung vào các
chủ đề sau:
- Phương pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam
- Phương pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp của dự án
GCP/VIE/024/ITA.


14

- Những tồn tại của quy hoạch sử dụng đất, giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam
và thế giới.
- Kiến nghị phương pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp đơn
giản có sự tham gia của người dân.
Tác giả Ngô Đình Quế, Đinh Thanh Giang, năm 2001 nghiên cứu về mô
hình canh tác nương rẫy hợp lý, nhằm nâng cao năng suất cây trồng, duy trì sản suất
của đất nương rẫy, thúc đẩy quá trình phục hồi độ phì đất bỏ hóa. Tác giả cũng kết
luận để áp dụng các mô hình cải tiến vào sản xuất cần phải sử dụng tổng hợp các biện
pháp kỹ thuật tiên tiến, các giống cây trồng mới có năng suất cao, phẩm chất tốt.
1.2.2. Một số nghiên cứu về việc vận dụng phương pháp quy hoạch sử dụng đất
vào thực tiễn ở Việt Nam
Trong những năm gần đây việc nghiên cứu và thử nghiệm về quy hoạch sử
dụng đất và giao đất lâm nghiệp được tiến hành với quy mô rộng rãi. Việc nghiên
cứu đầu tiên được tiến hành tại các xã: Tử Nê, huyện Tân Lạc, xã Hang Kia, Pà Cò
huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình vào năm 1993 do Dự án đổi mới chiến lược pháp
triển lâm nghiệp thực hiện. Sau khi tổng hợp những bài học kinh nghiệm từ dự án

hiện tại, tiềm năng sản xuất của đất, các quy định của Nhà nước và nhu cầu, nghĩa
vụ của nhân dân. Xem xét mọi vấn đề liên quan đến đất đai và sử dụng tài nguyên.
Cho thấy cách tiếp cận tổng hợp và toàn diện này phù hợp với xu thế chung của thế
giới hiện nay về áp dụng các phương pháp quy hoạch tổng hợp.
Trong 2 năm 1996, 1997 trong quá trình triển khai dự án quản lý nguồn nước
hồ Yên Lập có sự tham gia của người dân tại huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh,
tác giả thử nghiệm phương pháp lập kế hoạch có sự tham gia của người dân để quy
hoạch lâm –nông nghiệp cho 3 xã: Bằng Cả, Quảng La và Dân Chủ, phương pháp
PRA được sử dụng để quy hoạch lâm – nông nghiệp và xây dựng dự án cấp xã cho
5 lĩnh vực: Quy hoạch lâm nghiệp, cây ăn quả, cho quản lý rừng phòng hộ, quy
hoạch trồng trọt, quy hoạch chăn nuôi và đồng cỏ, kế hoạch phát triển thủy lợi lập
kế hoạch mạng lưới tín dụng thôn bản hỗ trợ dự án xã. Sau 3 năm thực hiện thấy
bản quy hoạch phù hợp với tình hình hiện tại là cơ sở vững chắc cho lập kế hoạch
tác nghiệp hàng năm. Tuy nhiên, những hạn chế do thiếu nghiên cứu về đất, phân
tích hệ thống canh tác dẫn đến việc lựa chọn cây trồng chưa hợp lý. Kinh nghiệm


16

này đang được đúc rút cho giai đoạn tiếp theo của dự án được triển khai trên 4 xã
mới.
Trong 2 năm 1996, 1997 trong quá trình triển khai dự án quản lý nguồn nước
hồ Yên Lập có sự tham gia của người dân tại huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh,
tác giả thử nghiệm phương pháp lập kế hoạch có sự tham gia của người dân để quy
hoạch lâm –nông nghiệp cho 3 xã: Bằng Cả, Quảng La và Dân Chủ, phương pháp
PRA được sử dụng để quy hoạch lâm – nông nghiệp và xây dựng dự án cấp xã cho
5 lĩnh vực: Quy hoạch lâm nghiệp, cây ăn quả, cho quản lý rừng phòng hộ, quy
hoạch trồng trọt, quy hoạch chăn nuôi và đồng cỏ, kế hoạch phát triển thủy lợi lập
kế hoạch mạng lưới tín dụng thôn bản hỗ trợ dự án xã[10]. Đây là tài liệu sửa đổi
lần thứ 2 có nhiều bổ sung vào tài liệu năm 1994, nó đáp ứng phần nào về hướng

dụng bền vững và hữu ích nguồn tài nguyên thiên nhiên ở hai tỉnh Sơn La và Lai
Châu. Những hoạt động chính của dự án đó là: Quy hoạch sử dụng đất và giao đất,
quản lý rừng đầu nguồn và phân loại đất lâm nghiệp, cải thiện giống cây trồng trên
nương, cải tiến chăn nuôi, tăng cường dịch vụ khuyến nông và đào tạo.
Dự án phát triển nông thôn Cao Bằng, Bắc Cạn thực hiện các hoạt động quy
hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp, tăng cường kỹ năng nông lâm kết hợp cho 41
bản với 1.155 người tham gia bao gồm các kỹ thuật viên nông nghiệp, quản lý trồng
trọt và lập kế hoạch phát triển thôn bản, đồng thời phát triển được 612 mô hình ở
Bắc Cạn và 89 mô hình ở Cao Bằng.
Trong những năm gần đây, các chương trình và dự án nông lâm nghiệp như
dự án PAM, dự án trồng rừng Việt - Đức (KWF) tại Lạng sơn, Bắc Giang, Thanh
Hoá, Quảng Ninh….do GTZ tài trợ cũng đã sử dụng triệt để phương pháp đánh giá
nông thôn có sự tham gia. Về mặt lý luận, một số đề tài nghiên cứu của Đinh Văn
Đề, Nguyễn Hữu Tân, Nguyễn Bá Ngãi [19], Nguyễn Phúc Cường….cũng đã tiến hành ở
một số địa phương, có những đánh giá và kết quả có ý nghĩa thực tiễn nhất định.
Các nhà khoa học trong và ngoài nước đều cho rằng quan điểm quy hoạch sử
dụng đất nông lâm nghiệp cấp địa phương nên đi theo hướng sau:
- Tiến hành nghiên cứu khả năng chuyển từ quy hoạch nông lâm nghiệp chủ
yếu dựa trên chức năng sử dụng đất sang dựa trên tiềm năng đất đai.


18

- Rà soát và xem lại hệ thống chính sách nhằm hướng tới đa mục đích sử
dụng đất bằng đa dạng hoá các hoạt động sản xuất trong mỗi bản quy hoạch của
cộng đồng.
- Gắn 2 quá trình quy hoạch và giao đất và coi đó là hai bộ phận có quan hệ
chặt chẽ để làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp ở mỗi địa
phương và cộng đồng.
- Nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp cùng tham gia trong quá trình quy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status