đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
NGUYN THANH TUN
NGHIấN CU N D VI CC NHểM T
LIấN QUAN N NGễI NH THEO L THUYT
NGễN NG HC TRI NHN
(Cú i chiu so sỏnh hai ngụn ng Anh - Vit)
Chuyên ngành
: Ngôn ngữ học
Mã số
: 60.22.01
Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: GS - TS. Nguyn c Tn
Hà nội - 2009
1
MỤC LỤC
Phần mở đầu ...................................................................................................... 4
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................. 4
2. Môc ®Ých nghiªn cøu ..................................................................................... 4
trong tiếng Việt từ góc độ tri nhận ................................................ 23
2
2.1. Ngữ nghĩa và sự phát triển ẩn dụ của từ “nhà” ........................................ 23
2.2. Ngữ nghĩa và sự phát triển ẩn dụ của các từ liên quan đến kết
cấu ngôi nhà ............................................................................................. 26
2.2.1. Móng nhà ....................................................................................... 27
2.2.2. Tường nhà ....................................................................................... 28
2.2.3. Vách nhà ......................................................................................... 28
2.2.4. Mái nhà ........................................................................................... 29
2.2.5. Trần nhà .......................................................................................... 29
2.2.6. Nóc nhà ........................................................................................... 30
2.2.7. Sàn nhà ............................................................................................ 30
2.2.8. Cột ( trụ ) nhà .................................................................................. 31
2.2.9. Bậc ( cầu thang ) ............................................................................. 31
2.2.10. Bếp ................................................................................................ 32
2.2.11. Phòng ............................................................................................ 32
2.3. Ngữ nghĩa và sự phát triển ẩn dụ của các từ chỉ các phần bên
ngoài ngôi nhà ........................................................................................ 33
2.3.1. Cửa .................................................................................................. 33
2.3.2. Hàng rào .......................................................................................... 34
2.3.3. Vườn ............................................................................................... 36
2.3.4. Sân .................................................................................................. 38
2.3.5. Hành lang ……………………………………………………39
2.4. Ngữ nghĩa và sự phát triển ẩn dụ của các động từ liên quan
đến ngôi nhà ........................................................................................... 40
2.4.1. Đào .................................................................................................. 41
2.4.2. Đổ .................................................................................................... 42
2.4.3. Xây/xây dựng/dựng xây ................................................................. 42
ngụi nh .................................................................................................. 64
3.4.1. o (Dig ) ....................................................................................... 64
3.4.2. (Cast ) ........................................................................................ 65
3.4.3. Xõy (Build ) .................................................................................... 65
3.4.4. Quột ( Sweep ) ................................................................................ 66
3.5. Tiu kt .................................................................................................... 67
Phn kt lun ..................................................................................................... 68
Ti liu tham kho ............................................................................................ 71
Phần Mở Đầu
1. Lý do chọn đề tài
ẩn dụ đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong mỗi hệ thống
ngôn ngữ cũng nh- trong đời sống giao tiếp hàng ngày. Trong hệ
thống ngôn ngữ, ẩn dụ là một trong hai ph-ơng thức quan trọng để tạo
thêm những nghĩa mới cho từ ngữ, phát triển tính đa nghĩa của từ.
Trong giao tiếp hiện thực sống động, ẩn dụ càng tỏ ra đắc lực hơn
4
trong việc giúp con ng-ời có thể diễn tả một cách tế vi nhất hoặc khéo
léo nhất những nội dung của đời sống xã hội. Nghiên cứu ẩn dụ trên
thế giới cũng nh- ở Việt Nam đã có một lịch sử khá lâu dài, song thời
gian gần đây, với sự phát triển nở rộ của khuynh h-ớng nghiên cứu
ngôn ngữ theo lý thuyết tri nhận thì những nghiên cứu mới về ẩn dụ
đứng từ góc độ tri nhận xuất hiện ch-a phải là nhiều. Đứng tr-ớc tình
hình trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: Nghiên cứu ẩn dụ của các nhóm
từ liên quan đến ngôi nhà theo lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận
(có so sánh đối chiếu với tiếng Anh) với mong muốn tiếp cận việc
nghiên cứu ẩn dụ theo một h-ớng đi còn mới mẻ, thông qua một đối
t-ợng quen thuộc gần gũi với tất cả mọi dân tộc là ngôi nhà, từ đó có
5. Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội
dung chính của luận văn đ-ợc chia làm 3 ch-ơng nh- sau:
Ch-ơng 1: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài
Ch-ơng 2: Khảo sát ẩn dụ đối với các nhóm từ liên quan đến
ngôi nhà theo lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận
Ch-ơng 3: So sánh đối chiếu ẩn dụ đối với các nhóm từ liên
quan đến ngôi nhà trong tiếng Anh và tiếng Việt theo lí thuyết ngôn
ngữ học tri nhận.
Ch-ơng 1
CƠ Sở Lí LUậN LIÊN QUAN ĐếN Đề TàI
1.1. Một số khái niệm cơ sở của tri nhận và hoạt động tri nhận
1.1.1. Tri nhận là gì?
Khái niệm tri nhận (cognition) có nguồn gốc từ tiếng La tinh
trong sự kết hợp nghĩa của hai từ cognition (nhận thức) và cogitation
(t- duy, suy nghĩ). Nó biểu hiện một quá trình nhận thức hoặc là tổng
thể những quá trình tâm lí (tinh thần, t- duy), tri giác, phạm trù hoá, lời
6
nói..phục vụ cho việc xử lí và chế biến thông tin. Nó bao gồm cả việc
con ng-ời nhận thức và đánh giá bản thân mình trong thế giới xung
quanh và xây dựng bức tranh thế giới đặc biệt - tất cả những cái tạo
thành cơ sở cho hành vi của con ng-ời.
Tri nhận là tất cả những quá trình trong đó những dữ liệu cảm
tính đ-ợc cải biến khi truyền vào trong não d-ới dạng những biểu
t-ợng tinh thần (hình ảnh, mệnh đề, khung, cảnh ) để có thể l-u lại
trong trí nhớ con ng-ời.
thuộc cấp độ cảm tính của quá trình nhận thức. Quan hệ giữa tri nhận
và tri giác là quan hệ có tính nhân quả, theo đó con đ-ờng từ tri giác
tới tri nhận là con đ-ờng tất yếu để con ng-ời nắm bắt về thế giới
khách quan, bắt đầu từ những cứ liệu quan trọng do tri giác cảm tính
cung cấp.
Tri giác có 3 đặc điểm:
1. Tri giác luôn luôn cụ thể, nó cung cấp những thuộc tính riêng
lẻ, cụ thể của sự vật và không phân biệt những thuc tính cơ bản và
không cơ bản.
2. Tri giác không tồn tại riêng lẻ, chúng có thể hợp tác với nhau
và trong những tr-ờng hợp nhất định, có thể thay thế cho nhau. Có thể
thấy điều này qua những cách nói trong đời sống giao tiếp hàng ngày
của ng-ời Việt nh-: nếm trải mùi đời, cái vali trông nặng nhỉ, bát phở
trông ngon quá, đã nghe rét m-ớt luồn trong gió.
3. Tri giác có khả năng biến những sự kiện, sự vật trừu t-ợng
hoặc không thể quan sát trực tiếp đ-ợc thành những sự vật gần gũi,
có thể tri giác một cách dễ dàng hơn. Có thể thấy điều này qua những
cách nói trong đời sống hàng ngày nh-: t-ơng lai mờ mịt, tình yêu
cháy bỏng, suy nghĩ đắng cay
Tri giác vốn là đối t-ợng đã đ-ợc bàn nhiều đến trong tâm lí học
và triết học, song trong ngôn ngữ học tiền tri nhận thì nó ít đ-ợc chú ý
8
tới do sự quan tâm quá nhiều của giới ngôn ngữ học đối với vấn đề
hình thái.
một quyết định và/hoặc một sự hiểu biết nhất định. Tóm lại, đó là hoạt
động t- duy dẫn đến chỗ thông hiểu (thuyết giải) một cái gì đó. Kết
quả của hoạt động tri nhận là sự tạo ra một hệ thống những ý niệm
giúp con ng-ời hiểu biết, giả định, suy nghĩ và/hoặc t-ởng t-ợng về
các đối t-ợng của thế giới hiện thực và các thế giới khả dĩ. Điều đó
thuộc về hệ thống ý niệm của con ng-ời.
Hoạt động tri nhận của con ng-ời có quan hệ trực tiếp với môi
tr-ờng sống nên nó mang đặc thù văn hoá dân tộc. Hoạt động tri nhận
là một bộ phận cấu thành của ý thức con ng-ời, nó đ-ợc triển khai
trong những điều kiện văn hoá nhất định và có khả năng phản ánh
những tiêu chuẩn đạo đức, những nguyên tắc chính trị, tôn giáo và
những thành tố khác của văn hoá. Do đó, có quan niệm rằng hoạt
động tri nhận nh- một tập hợp những quy trình chuyển đổi một hiện
thực này sang một hiện thực khác.
Tham gia vào hoạt động tri nhận có những hệ thống xử lí thông
tin khác nhau vì thế những cấu trúc ý thức đ-ợc tạo ra không đồng
nhất và phụ thuộc vào kênh theo đó thông tin đ-ợc truyền đến cho
con ng-ời.
1.1.5. Tri thức, hay sự hiểu biết
Tri thức là thuật ngữ đ-ợc dùng rất phổ biến trong khoa học tri
nhận. Nó liên quan đến những vấn đề sau: a) Cái gì sinh ra tri thức?;
b) Sự phát triển của tri thức xảy ra nh- thế nào?; c) Có thể có những
loại tri thức nào đối lập nhau?; d) Những cơ chế và/hoặc quy trình nào
xác định đ-ợc tính chất của việc thu nhận tri thức và trong những qúa
trình nào xuất hiện tri thức?; e) D-ới dạng nào, ở đâu và trong những
cấu trúc nào tri thức đ-ợc trình diện cho trí tuệ con ng-ời, những hệ
thống trình diện tri thức nào tồn tại và chúng t-ơng tác với nhau nhthế nào?; g) Vấn đề chủng loại và bản thể của tri thức; h) Vấn đề về
sử dụng tri thức trong các quá trình t- duy và hoạt động lời nói.
10
h-ớng nghiên cứu từ cấu trúc của ngôn ngữ sang cấu trúc của quá
trình tinh thần.
Phân tích ngữ nghĩa tri nhận tr-ớc hết là phân tích ý niệm
(concept)- đơn vị trung tâm của ngôn ngữ học tri nhận. Yu.S.
Stepanov quan niệm về ý niệm như sau: í niệm tựa nh- một khối kết
đông của nền văn hoá trong ý thức con ng-ời; d-ới dạng của nó, nền
văn hoá đi vào thế giới ý thức (t- duy) của con ng-ời, và, mặt khác, ý
niệm là cái mà nhờ đó, con ng-ời - ng-ời bình th-ờng, không phải là
người sáng tạo ra những giá trị văn hoá (mà) chính con người đó đi
vào văn hoá, và trong một số tr-ờng hợp nhất định có tác động đến
văn hoá. í niệm đ-ợc coi là đơn vị của t- duy, là yếu tố của ý thức, nó
là sự kiện của lời nói, gắn chặt với ng-ời nói và luôn định h-ớng đến
ng-ời nghe. í niệm mang tính chủ quan với nghĩa nó là một mảng của
bức tranh thế giới, thế nên nó phản ánh lăng kính của ý thức ngôn ngữ
dân tộc và mang tính dân tộc một cách sâu sắc. Tóm lại, ý niệm chứa
đựng 3 thành tố: thành tố khái niệm, thành tố cảm xúc - hình t-ợng và
thành tố văn hoá. Ngoài ra, còn phải bàn đến hệ thống ý niệm - đ-ợc
hiểu là tổng hoà tất cả những ý niệm có trong trí tuệ của con ng-ời.
1.1.8. Khung
Khung (frame) đ-ợc hiểu là ph-ơng thức l-u trữ các biểu t-ợng
trong bộ nhớ. Nó là đơn vị của tri thức đ-ợc tổ chức xung quanh một
khái niệm nào đó và chứa đựng những dữ liệu về cái cơ bản, cái điển
hình và cái khả dĩ đối với khái niệm đó. Khung cho biết cụ thể cái gì là
đặc tr-ng và điển hình trong một nền văn hoá nhất định, cái gì không
phải thế. Khung đặc biệt quan trọng đối với những tình tiết nhất định
của mối t-ơng tác xã hội, nó tổ chức sự thông hiểu của chúng ta đối
với thế giới nói chung, đồng thời tổ chức cả hành vi th-ờng nhật của
mỗi cá thể. Liên quan với mỗi khung có các dạng của thông tin: về
1.1.10. Tri nhận và phục chế tri nhận
13
Khái niệm phục chế th-ờng đ-ợc hiểu nh- sự khôi phục lại cái
cũ đã bị h- hỏng qua thời gian sử dụng. Trong ngôn ngữ học, có hiện
t-ợng phục chế một ngôn ngữ bị lãng quên, thậm chí phục chế một
phạm trù nào đó của ngữ pháp, từ vựng. Do đó, phục chế mang tính
chất lịch sử và thuộc về lịch đại. Ngôn ngữ học tri nhận chủ tr-ơng
dùng phục chế với nghĩa tái tạo lại quá trình tri nhận hoặc một khâu
nào đó trong quá trình này. Thực chất đây là sự thuyết giải ý nghĩa
những từ, cụm từ chứa nội dung tri nhận, tìm ra những biểu t-ợng tinh
thần trong nó. Đơn vị phục chế biểu t-ợng tinh thần là ý niệm và bức
tranh ngôn ngữ về thế giới với t- cách là không gian tồn tại của ý
niệm. Phục chế một ý niệm nào đó là vẽ ra một bức tranh bằng chất
liệu ngôn ngữ về nội dung của ý niệm đó, trình bày sự hiểu biết của
mình về ý niệm đó. Bức tranh ngôn ngữ về thế giới chính là sự phục
chế một mảng nào đó của thế giới mà con ng-ời tri nhận.
1.2. Ngôn ngữ học tri nhận
1.2.1.Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận trên thế giới
và Việt Nam.
Muốn tìm về sự ra đời của ngôn ngữ hoc tri nhận, ta phải ng-ợc
dòng thời gian trở về những năm 60 của thế kỷ XX và bắt đầu từ ngữ
pháp cải biến và ngữ pháp tạo sinh với vai trò của nhà ngôn ngữ học
toán học Noam Chomsky. Bằng việc xuất bản cuốn sách Các cấu trúc
cú pháp (1957), Chomsky đã kêu gọi ngôn ngữ học phải trở thành một
bộ phân của tâm lí học tri nhận, phải coi ngôn ngữ là một hệ thống tri
nhận, mục tiêu tối th-ợng của ngôn ngữ học là tìm hiểu cái cơ chế phổ
quát của ngôn ngữ tiềm ẩn trong trí não con ng-ời. Việc sáng lập ra lí
nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh nghiệm và sự cảm thụ của
con ng-ời về thế giới khách quan cũng nh- cái cách thức mà con
ng-ời tri giác và ý niệm hoá các sự vật và sự tình của thế giới khách
quan đó.( Lý Toàn Thắng, [18,15-16])
15
Trên thực tế có hai cách nhìn nhận về phạm vi nghiên cứu của
ngôn ngữ học tri nhận. Theo nghĩa hẹp, ngôn ngữ học tri nhận chủ
yếu là ngữ nghĩa học tri nhận Mỹ (của Lakoff và Johnson) và ngữ
pháp học tri nhận Mỹ (của Langacker) cùng với một số nghiên cứu
khác của các học giả châu Âu nh- Rudzka- Ostyn, Taylor, Geeraerts,
Haiman. Theo nghĩa rộng, ngôn ngữ học tri nhận bao gồm nhiều
đ-ờng h-ớng nghiên cứu khác nhau nh-: ngữ nghĩa học khung và ngữ
nghĩa kết cấu của Fillmore, loại hình học tri nhận của Talmy, Hawkins,
Croft, lí thuyết ngữ nghĩa của Wierzbicka, lí luận không gian tinh thần
của Fauconnier.
Việt Nam, ngôn ngữ học tri nhận vẫn còn là một lĩnh vực t-ơng
đối mới mẻ, mới bắt đầu đ-ợc quan tâm khoảng hơn chục năm trở lại
đây. Một trong những ng-ời đi tiên phong cần đ-ợc kể đến đầu tiên có
lẽ là Nguyn c Tn, tác giả của một số bài báo đã đ-ợc công bố từ
những năm 90 của thế kỷ tr-ớc c bit l tỏc phm: Tìm hiểu đặc
tr-ng văn hoá dân tộc của ngôn ngữ và t- duy của ng-ời Việt (trong
sự so sánh với những dân tộc khác) (NXB ĐHQGHN, 2002). Sau đó,
Lớ Ton Thng đã cho xuất bản chuyên luận bn về ngôn ngữ học
tri nhận ở Việt Nam với tên gọi Ngôn ngữ học tri nhận - từ lý thuyết đại
c-ơng đến thực tiễn tiếng Việt ( NXBKHXH, HN, 2005). Chuyên luận
tip theo phải kể đến là cuốn Ngôn ngữ học tri nhận (Ghi chép và suy
nghĩ ) của Trần Văn Cơ (NXBKHXH, HN, 2007). Một số công trình
khác tuy không nhắc đến ngôn ngữ học tri nhận nh-ng tinh thần và
vật, sự tình của thế giới khách quan. Chính ở chỗ này, có một khái
niệm quan trọng cần đ-ợc làm rõ, đó là mô hình (hay bức tranh) về thế
giới - cái khung đầu tiên để phân biệt s hình dung khác nhau của mỗi
cộng đồng về thế giới.
Mô hình (hay bức tranh) về thế giới (world view/ picture) có
những nguyên lí cơ bản nh- sau:
17
1. Hình ảnh thế giới là sự ánh xạ của thế gii sự vật trong tâm lí
con ng-ời, đ-ợc môi giới bởi các ý nghĩa sự vật và các sơ đồ tri nhận
t-ơng ứng và chịu sự chi phối của phản xạ có ý thức.
Thế giới đ-ợc trình ra cho mỗi con ng-ời riêng biệt thông qua
các ý nghĩa sự vật vốn d-ờng nh- đ-ợc đặt chồng lên trên sự tri giác
về thế giới ấy. Con người không định danh các hình ảnh cảm tính về
sự vật - ý nghĩa s vật chỉ là thành tố của các hình ảnh này, là cái gắn
kết chúng lại cho con ng-ời, là cái làm cho bản thân sự tồn tại của
những hình ảnh này trở nên có thể.
2. Mô hình (hay bức tranh) thế giới là hạt nhân hay thành tố cơ
sở của thế giới quan con ng-ời. Trong các ngôn ngữ, bức tranh này có
thể biến đổi bởi mỗi bức tranh ngôn ngữ đều liên quan đến một logic
nhìn nhận thế giới, tri giác và nhận thức thế giới riêng biệt của ng-ời
bản ngữ. Nh- vậy, nhiệm vụ sau cùng của việc nghiên cứu bức tranh
thế giới là làm sáng tỏ mối quan hệ giữa con ng-ời và thế giới của nó,
chỉ ra đ-ợc nhữung đặc tr-ng bản sắc dân tộc của mỗi mô hình thế
giới trên mỗi ngữ liệu cụ thể của mỗi cộng đồng. Cuối cùng, phải phát
hiện ra những nhân tố tiềm ẩn đứng đằng sau những sự khác biệt
1.3.1. ẩn dụ theo quan niệm truyền thống
Theo cách nhìn truyền thống trong giới Việt ngữ học, ẩn dụ đ-ợc
coi là một ph-ơng thức phát triển nghĩa mới của từ hoặc sử dụng từ
theo chức năng tu từ.
Về việc coi ẩn dụ nh- một ph-ơng thức phát triển nghĩa của từ,
các tác giả nh- Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp đã có những phân
tích, nhận định t-ơng đối kỹ l-ỡng. Trong giáo trình Từ vựng học tiếng
Việt, Nguyễn Thiện Giáp đã chỉ ra bản chất của ph-ơng thức phát
triển nghĩa ẩn dụ là dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hiện t-ợng
đ-ợc đem ra so sánh với nhau. Chẳng hạn, căn cứ vào sự giống nhau
về hình thức để từ mũi (bộ phận cơ thể) phái sinh thành mũi dao, mũi
thuyền, mũi đất. Căn cứ vào sự giống nhau về màu sắc để có các từ
chỉ màu nh-: màu da trời, màu cánh sen, màu cỏ úa. Căn cứ vào sự
19
giống nhau một thuộc tính, tính chất nào đó để có các cách nói: tình
cảm khô, lời nói khô.v.v.
Về quan niệm coi ẩn dụ nh- một biện pháp tu từ, có rất nhiều
tác giả đi tr-ớc đã từng bàn tới, nh-: Nguyễn Văn Tu, Đinh Trọng Lạc,
Cù Đình Tú, Nguyễn Phan Cảnh, Đào Thản, Nguyễn Hữu Đạt. Và gần
đây hơn nữa là Hoàng Văn Hành, Nguyễn Thế Lịch, Hà Quang
Năng... Trong một quan niệm phổ thông, gần gũi với việc giáo dục
trong nhà tr-ờng, ẩn dụ đ-ợc nhìn nhận nh- một phép so sánh ngầm,
trong đó giấu đi vế đ-ợc so sánh mà chỉ nêu ra vế so sánh. Môi tr-ờng
đặc tr-ng nhất của ẩn dụ là thi ca và nhờ ẩn dụ mà các diễn đạt văn
học trở nên bóng bẩy hơn, chau chuốt hơn, gợi hình và gợi cảm. Trong
một cái nhìn sâu sắc hơn, tác giả Nguyễn Đức Tồn qua bài viết Bản
chất của ẩn dụ (Tạp chí Ngôn ngữ số 10+11/2007) đã hệ thống và
từ vùng nguồn sang vùng đích, từ đó lí giải vùng đích. Theo Trần Văn
Cơ, n dụ tri nhận là một trong những hình thức ý niệm hoá, một quá
trình có chức năng biểu hiện và hình thành những khái niệm mới và
không có nó thì không thể nhận đ-ợc những tri thức mới. V ngun
gc, n d tri nhn ỏp ng nng lc ca con ngi nm bt v to ra
s ging nhau gia nhng cỏ th v nhng lp i tng khỏc nhau [1,
293]. Những thí dụ kinh điển và dễ hình dung nhất về ẩn dụ tri nhận
trong tiếng Việt th-ờng đ-ợc các nhà Việt ngữ dẫn ra nh-: sự phát
hiện ra điểm t-ơng đồng giữa thời gian và tiền bạc dẫn đến các cách
nói có sự t-ơng ứng giữa hai phạm trù này: lãng phí thời gian - lãng phí
tiền bạc, tiết kiệm thời gian - tiết kiệm tiền bạc, mất tiền - mất thời
gian, dành tiền cho con, dành thời gian cho con; hay sự phát hiện ra
điểm t-ơng đồng giữa thời gian và dòng n-ớc/dòng sông dẫn đến các
cách nói có loạt t-ơng ứng nh-: thời gian nh- ngừng trôi -dòng sông
nh- ngừng trôi, ng-ợc dòng thời gian - ng-ợc dòng n-ớc.
Lakoff và Johnson (1980) đã phân ra 4 loại ẩn dụ tri nhận là ẩn
dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ kênh liên lạc/ truyền tin và ẩn dụ
định h-ớng.
21
ẩn dụ cấu trúc là loại ẩn dụ khi nghĩa (hoặc giá trị) của một từ
(hay một biểu thức) đ-ợc hiểu (đ-ợc đánh giá) thông qua cấu trúc của
một từ (hay một biểu thức) khác. Kiểu ẩn dụ này th-ờng sử dụng kết
quả của quá trình biểu tr-ng hoá (vật thể và ngôn ngữ ) và của sự liên
t-ởng. Chẳng hạn, con cáo là biểu t-ợng cho sự tinh ranh và khôn
ngoan, con đại bàng biểu tr-ng cho lòng kiêu hãnh và dũng cảm.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Tồn và cộng sự, trong tất cả các
thành ngữ ẩn dụ hoá tiếng Việt chỉ có một loại ẩn dụ tri nhận làm cơ
sở, chính là loại ẩn dụ cấu trúc này. Theo chúng tôi, đây cũng là kiểu
trăng, các vì sao, không khí, nắng, gió, mây. Ng-ợc lại, những sự vật
theo chiều ng-ợc lại sẽ có xu h-ớng đ-ợc biểu tr-ng nhiều hơn cho
những điều tiêu cực, chẳng hạn: địa ngục, cỏ dại, đầm lầy, bùn, ốc
sên, bụi, cát sỏi
1.4. Tiểu kết
Trong ch-ơng thứ nhất của luận văn, chúng tôi muốn bàn tới
những vấn đề cơ sở nhất của khoa học tri nhận nói chung cũng nhngôn ngữ học tri nhận và ẩn dụ tri nhận nói riêng, đ-a ra những bộ
khái niệm mang tính chất công cụ cần thiết để tiếp tục thực hiện các
phần nội dung quan trọng tiếp theo của luận văn.
Nh- vậy, đứng từ một góc nhìn mới mẻ của ẩn dụ - ẩn dụ tri
nhận, nhiệm vụ chính mà luận văn sẽ tiếp tục thực hiện trong các
ch-ơng tiếp theo là: qua một sự vật, hiện t-ợng rất gần gũi trong đời
sống của con ng-ời là ngôi nhà, luận văn sẽ khai thác, phân tích tất cả
các nhóm từ liên quan đến ngôi nhà, mà ở đó, có sự hiện diện của ẩn
dụ tri nhận, nh- một ph-ơng thức t- duy đã ăn sâu vào tiềm thức ngôn
ngữ của cộng đồng, từ đó có thể bật ra những cách cảm, cách nghĩ,
những điểm giống và khác nhau trong lối t- duy của hai dân tộc.
23
Ch-ơng 2
Khảo sát ẩn dụ đối với các nhóm từ
liên quan đến ngôi nhà trong tiếng Việt
từ góc độ tri nhận
Ngôi nhà - có thể nói là một vật thể văn hoá gần gũi và vô cùng
quen thuộc với mọi dân tộc, mọi cộng đồng. Sự hiện hữu của ngôi nhà
cũng đồng thời là một dấu hiệu chứng tỏ b-ớc phát triển trong đời
sống vật chất và tri thức của một dân tộc, là một trong những điểm
thêm một câu thành ngữ chỉ việc sung s-ớng thành đạt về tiện nghi
vật chất của một ai đó:
TàI LIệU THAM KHảO
Tiếng Việt
1. Dip Quang Ban (2008), Tri nhn hay nhn tri, T/c Ngụn ng, s
2/2008.
2. Trần Văn Cơ (2007), Ngôn ngữ học tri nhận (Ghi chép và suy
nghĩ), Nxb KHXH, HN.
3. Trần Văn Cơ (2006), Ngôn ngữ học tri nhận là gì, T/c Ngôn ngữ,
số 1/2006.
4. Hữu Đạt (2007), Thử áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận vào
phân tích nhóm từ đồng nghĩa chỉ vận động rời chỗ trong tiếng Việt,
T/c Ngôn ngữ, số 11/2007.
5. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo
dục, HN.
6. Đỗ Thị Hằng (2005), Khảo sát và đánh giá giá trị biểu đạt các kiểu
ẩn dụ bổ xung trong thơ và văn xuôi Việt Nam từ 1930 đến nay, T/c Ngôn
ngữ, số 9/2005.
7. Nguyễn Hoà (2007), Sự tri nhận và biểu đạt thời gian trong tiếng
Việt qua các ẩn dụ không gian, T/c Ngôn ngữ, số 7/2007.
8. Nguyễn Quốc Hùng (2001), Một vài đặc điểm đáng lưu ý vế tư
duy ngôn ngữ ở người Anh, T/c Ngôn ngữ, số 8/2001.
25