®¹i häc quèc gia hµ néi
Tr-êng ®¹i häc khoa häc x· héi vµ nh©n v¨n
NGUYỄN THANH TUẤN
NGHIÊN CỨU ẨN DỤ VỚI CÁC NHÓM TỪ
LIÊN QUAN ĐẾN NGÔI NHÀ THEO LÍ THUYẾT NGÔN
NGỮ HỌC TRI NHẬN
(Có đối chiếu so sánh hai ngôn ngữ Anh - Việt)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Hà nội - 2009
1
MỤC LỤC
Phần mở đầu 4
1. Lí do chọn đề tài 4
2. Mục đích nghiên cứu 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
3.1. Đối tượng nghiên cứu 5
3.2. Phạm vi nghiên cứu 5
4. Phương pháp nghiên cứu 5
5. Bố cục luận văn 5
Chương 1. Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài 6
1.1. Một số khái niệm cơ sở của tri nhận và hoạt động tri nhận 6
1.1.1. Tri nhận là gì? 6
1.1.2. Tri nhận và tri giác 7
1.1.3. Khoa học tri nhận 8
1.1.4. Hoạt động tri nhận 9
1.1.5. Tri thức hay sự hiểu biết 9
1.1.6. Thông tin 10
1.1.7. Phân tích ngữ nghĩa tri nhận 10
1.1.8. Khung 11
1.1.9. Tri nhận và biểu trưng hóa 12
1.1.10. Tri nhận và phục chế tri nhận 13
1.2. Ngôn ngữ học tri nhận 13
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận trên thế giới
và Việt Nam 13
1.2.2. Mô hình ( hay bức tranh ) về thế giới của ngôn ngữ học tri
2.3.3. Vườn 36
2.3.4. Sân 38
2.3.5. Hành lang ……………………………………………………39
2.4. Ngữ nghĩa và sự phát triển ẩn dụ của các động từ liên quan
đến ngôi nhà 40
2.4.1. Đào 41
2.4.2. Đổ 42
2.4.3. Xây/xây dựng/dựng xây 42
2.4.4. Quét 44
2.5. Tiểu kết 45
3
Chương 3. Khảo sát ẩn dụ đối với các nhóm từ liên quan đến ngôi nhà
trong tiếng Anh từ góc độ tri nhận ( có đối chiếu với tiếng
Việt ) 46
3.1. Ngữ nghĩa và ẩn dụ của từ “nhà” trong tiếng Anh 46
3.2. Ngữ nghĩa và sự phát triển ẩn dụ của các từ liên quan đến kết
cấu ngôi nhà trong tiếng Anh 52
3.2.1. Giới thiệu về kết cấu ngôi nhà của người Anh 52
3.2.2. Ngữ nghĩa và sự phát triển ẩn dụ của các từ liên quan
đến kết cấu ngôi nhà 55
3.2.2.1. Móng nhà (Foundation ) 55
3.2.2.2. Tường nhà ( Wall ) 56
3.2.2.3. Mái nhà, nóc nhà ( House – top, roof ) 56
3.2.2.4. Trần nhà ( Ceiling ) 57
3.2.2.5. Sàn nhà ( Floor, parquet ) 58
3.2.2.6. Cột ( The pillar ) 58
3.2.2.7. Cửa và cửa sổ ( Door and Window )……… 59
3.3. Ngữ nghĩa và sự phát triển ẩn dụ của cỏc từ chỉ các phần bên
ngoài ngôi nhà 60
hình trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: Nghiên cứu ẩn dụ của các nhóm từ
liên quan đến ngôi nhà theo lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận (có so sánh
đối chiếu với tiếng Anh) với mong muốn tiếp cận việc nghiên cứu ẩn dụ
theo một hướng đi còn mới mẻ, thông qua một đối tượng quen thuộc gần gũi
với tất cả mọi dân tộc là ngôi nhà, từ đó có thể thấy được những nét đặc thù
trong tư duy và ngôn ngữ của mỗi dân tộc khi tri nhận về thế giới.
2. Mục đích nghiên cứu
Qua luận văn, chúng tôi muốn xác lập một bức tranh về ẩn dụ hoá qua
lớp từ ngữ liên quan đến ngôi nhà trong tiếng Việt. Đồng thời, bằng sự so
sánh đối chiếu với một ngôn ngữ khác là tiếng Anh, luận văn hy vọng sẽ chỉ
ra được những khác biệt mang tính đặc thù về tư duy và ngôn ngữ của hai
dân tộc trong cách cảm, cách nghĩ về cùng một sự vật, hiện tượng rất gần gũi
là ngôi nhà.
5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là lớp từ ngữ trong tiếng Việt (có
đối chiếu với tiếng Anh) liên quan đến ngôi nhà (từ lúc bắt đầu xây dựng
nhà cho đến khi ngôi nhà hoàn chỉnh như một hiện thực). Lớp từ ngữ kể trên
sẽ được phân tích ngữ nghĩa từ góc độ ẩn dụ tri nhận trong sự đối chiếu hai
ngôn ngữ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các lớp từ ngữ liên quan đến ngôi
nhà trong các cuốn từ điển có uy tín của hai ngôn ngữ Việt và Anh, đồng
thời kết hợp với sự mẫn cảm ngôn ngữ của một người bản ngữ sử dụng tiếng
Việt. Ngoài ra luận văn còn khai thác các tài liệu có liên quan khác trong
phạm vi hai ngôn ngữ Anh - Việt.
4. Phương pháp nghiên cứu
Hai phương pháp ngôn ngữ học chủ đạo được luận văn sử dụng là
người.
Theo Trần Văn Cơ, đôi khi tri nhận còn được định nghĩa như là sự
tính toán (computation), nghĩa là xử lí thông tin dưới dạng những kí hiệu, cải
biến nó từ dạng này sang dạng khác, thành mật mã khác, cấu trúc khác.
Trong Anh ngữ đương đại, cognition được ghi nhận có ba nghĩa.
Nghĩa thứ nhất chỉ hành động nhận thức, nghĩa thứ hai chỉ cái nhận thức
được, nghĩa thứ ba được ghi bằng từ knowledge có nghĩa là “hiểu biết”
nhưng từ này ngày nay đã gần như không còn được dùng.
Trong tiếng Pháp, từ cognition được ghi nhận từ thế kỷ XIV và dùng
trong triết học, ý nghĩa của nó được ghi là tương đương với từ
connaissance, có nghĩa là sự/điều hiểu biết.
7
Trong cách dùng của giới Việt ngữ học hiện nay, tri nhận là một
thuật ngữ được vay mượn từ tiếng Hán nhưng có sư biến đổi, bởi như Diệp
Quang Ban đã chỉ ra trong một bài viết gần đây, trong các cuốn từ điển Hán
Việt hoàn toàn không có từ tri nhận mà chỉ có từ nhận tri. Từ nhận tri có
thể được hiểu tương đương với từ nhận biết và một lần nữa có thể diễn đạt
bằng một từ dân dã của tiếng Việt: từ nhận thức.Chính vì thế, tác giả Diệp
Quang Ban đề nghị dùng khái niệm ngôn ngữ học nhận thức thay cho
ngôn ngữ học tri nhận. (tạp chớ Ngụn ngữ số 2/2008).
1.1.2. Tri nhận và tri giác
Sau khi đã làm rõ về khái niệm tri nhận, chúng ta cần phân biệt khái
niệm tri nhận với một khái niệm gần gũi, có nhiều liên quan và đôi khi có
thế gây ra sự lầm lẫn đối với một số người, đó là khái niệm tri giác.
Nếu như tri nhận là quá trình xử lí thông tin, chế biến thông tin để tạo
ra kiến thức, tri thức của con người thì tri giác (perception) lại thuộc cấp độ
cảm tính của quá trình nhận thức. Quan hệ giữa tri nhận và tri giác là quan
hệ có tính nhân quả, theo đó con đường từ tri giác tới tri nhận là con đường
tất yếu để con người nắm bắt về thế giới khách quan, bắt đầu từ những cứ
science) đã được hình thành vào những thập niên 60 - 70 của thế kỷ trước
trên cơ sở một môn khoa học được biết đến với tên gọi “trí tuệ nhân tạo”.
Đây là môn khoa học có nhiệm vụ nghiên cứu và mô hình hoá các quá trình
trí tuệ của con người. Nhờ đó người ta nghĩ rằng cần phải nghiên cứu những
phương thức nào đó giúp cho việc “mổ xẻ” kiến thức. Từ đó, khoa học tri
nhận ra đời.
Nếu ngược dòng lịch sử một cách xa xưa hơn, tri nhận luận đã có cội
nguồn từ thời cổ đại qua các nghiên cứu về logic học, triết học, tâm lí học,
9
sinh lí học. Triết học cổ đại đã có một chương riêng với tên gọi nhận thức
luận (gnosiology)
1.1.4. Hoạt động tri nhận
Hoạt động tri nhận (coginitive activity) được hiểu là quá trình thiết
định giá trị (nghĩa) của biểu thức ngôn ngữ, nghĩa là tính thông tin của nó.
Nói rộng ra, hoạt động tri nhận tạo cho con người khả năng đi đến
một quyết định và/hoặc một sự hiểu biết nhất định. Tóm lại, đó là hoạt động
tư duy dẫn đến chỗ thông hiểu (thuyết giải) một cái gì đó. Kết quả của hoạt
động tri nhận là sự tạo ra một hệ thống những ý niệm giúp con người hiểu
biết, giả định, suy nghĩ và/hoặc tưởng tượng về các đối tượng của thế giới
hiện thực và các thế giới khả dĩ. Điều đó thuộc về hệ thống ý niệm của con
người.
Hoạt động tri nhận của con người có quan hệ trực tiếp với môi trường
sống nên nó mang đặc thù văn hoá dân tộc. Hoạt động tri nhận là một bộ
phận cấu thành của ý thức con người, nó được triển khai trong những điều
kiện văn hoá nhất định và có khả năng phản ánh những tiêu chuẩn đạo đức,
những nguyên tắc chính trị, tôn giáo và những thành tố khác của văn hoá.
Do đó, có quan niệm rằng hoạt động tri nhận như một tập hợp những quy
trình chuyển đổi một hiện thực này sang một hiện thực khác.
Tham gia vào hoạt động tri nhận có những hệ thống xử lí thông tin
chủ đích.
Loại thứ ba là thông tin ý niệm, được xem như kết quả của hoạt động
tri nhận của con người do con người xử lí và cấu trúc hoá thành tri thức.
Thông tin ý niệm có thể cung cấp những tin tức về sự tình khách quan trong
thế giới và những tin tức về các thế giới khả hữu với những sự tình trong các
thế giới đó.
11
1.1.7. Phân tích ngữ nghĩa tri nhận
Lịch sử phát triển của ngôn ngữ học có thể được hiểu như là sự thay
thế các hệ hình khoa học, nghĩa là thay đổi những quan điểm xuất phát về
đối tượng và phương pháp luận nghiên cứu. Hệ hình tri nhận, trong khi cùng
tồn tại với những hình hệ khoa học khác trong khoa học về ngôn ngữ, nó chỉ
rõ một khuynh hướng nghiên cứu mới lấy nguyên lí “dĩ nhân vi trung” làm
cơ sở phương pháp luận chuyển hướng nghiên cứu từ cấu trúc của ngôn ngữ
sang cấu trúc của quá trình tinh thần.
Phân tích ngữ nghĩa tri nhận trước hết là phân tích ý niệm (concept)-
đơn vị trung tâm của ngôn ngữ học tri nhận. Yu.S. Stepanov quan niệm về ý
niệm như sau: “í niệm tựa như một khối kết đông của nền văn hoá trong ý
thức con người; dưới dạng của nó, nền văn hoá đi vào thế giới ý thức (tư
duy) của con người, và, mặt khác, ý niệm là cái mà nhờ đó, con người -
người bình thường, không phải là “người sáng tạo ra những giá trị văn hoá”
(mà) chính con người đó đi vào văn hoá, và trong một số trường hợp nhất
định có tác động đến văn hoá. í niệm được coi là đơn vị của tư duy, là yếu tố
của ý thức, nó là sự kiện của lời nói, gắn chặt với người nói và luôn định
hướng đến người nghe. í niệm mang tính chủ quan với nghĩa nó là một mảng
của bức tranh thế giới, thế nên nó phản ánh lăng kính của ý thức ngôn ngữ
dân tộc và mang tính dân tộc một cách sâu sắc. Tóm lại, ý niệm chứa đựng 3
thành tố: thành tố khái niệm, thành tố cảm xúc - hình tượng và thành tố văn
hoá. Ngoài ra, còn phải bàn đến hệ thống ý niệm - được hiểu là tổng hoà tất
Biểu trưng hoá ngôn ngữ là quá trình con người sử dụng ngôn ngữ để
biểu hiện nghĩa biểu trưng. Những biểu thức ngôn ngữ chứa đựng nghĩa biểu
trưng thường là cái biểu hiện những khái niệm trừu tượng, những sự kiện
không quan sát trực tiếp được. Sự hiện diện điển hình của biểu trưng hoá
13
ngôn ngữ có thể dễ dàng tìm thấy trong kho tàng thành ngữ, tục ngữ, ca dao.
Chẳng hạn, biểu trưng của liễu, đào trong liễu yếu đào tơ; khói, lửa trong
không có lửa sao có khói. 1.1.10. Tri nhận và phục chế tri nhận
Khái niệm phục chế thường được hiểu như sự khôi phục lại cái cũ đã
bị hư hỏng qua thời gian sử dụng. Trong ngôn ngữ học, có hiện tượng phục
chế một ngôn ngữ bị lãng quên, thậm chí phục chế một phạm trù nào đó của
ngữ pháp, từ vựng. Do đó, phục chế mang tính chất lịch sử và thuộc về lịch
đại. Ngôn ngữ học tri nhận chủ trương dùng phục chế với nghĩa “tái tạo lại
quá trình tri nhận hoặc một khâu nào đó trong quá trình này”. Thực chất đây
là sự thuyết giải ý nghĩa những từ, cụm từ chứa nội dung tri nhận, tìm ra
những biểu tượng tinh thần trong nó. Đơn vị phục chế biểu tượng tinh thần
là ý niệm và bức tranh ngôn ngữ về thế giới với tư cách là không gian tồn tại
của ý niệm. Phục chế một ý niệm nào đó là “vẽ” ra một bức tranh bằng chất
liệu ngôn ngữ về nội dung của ý niệm đó, trình bày sự hiểu biết của mình về
ý niệm đó. Bức tranh ngôn ngữ về thế giới chính là sự phục chế một mảng
nào đó của thế giới mà con người tri nhận.
1.2. NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN
1.2.1.Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận trên thế giới và
Việt Nam.
Muốn tìm về sự ra đời của ngôn ngữ hoc tri nhận, ta phải ngược dòng
thời gian trở về những năm 60 của thế kỷ XX và bắt đầu từ ngữ pháp cải
Trong vòng 20 năm qua, ngôn ngữ học tri nhận đã dần xác định được đối
tượng và phạm vi nghiên cứu của mình, các tư tưởng và khái niệm then chốt,
15
các nguyên lí và phương pháp chủ đạo. Có thể đưa ra một quan niệm sơ bộ
về ngôn ngữ học tri nhận như sau: Đó là một khuynh hướng mới của ngôn
ngữ học hiện đại, tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh
nghiệm và sự cảm thụ của con người về thế giới khách quan cũng như cái
cách thức mà con người tri giác và ý niệm hoá các sự vật và sự tình của thế
giới khách quan đó.( Lý Toàn Thắng, [18,15-16])
Trên thực tế có hai cách nhìn nhận về phạm vi nghiên cứu của ngôn
ngữ học tri nhận. Theo nghĩa hẹp, ngôn ngữ học tri nhận chủ yếu là ngữ
nghĩa học tri nhận Mỹ (của Lakoff và Johnson) và ngữ pháp học tri nhận Mỹ
(của Langacker) cùng với một số nghiên cứu khác của các học giả châu Âu
như Rudzka- Ostyn, Taylor, Geeraerts, Haiman. Theo nghĩa rộng, ngôn ngữ
học tri nhận bao gồm nhiều đường hướng nghiên cứu khác nhau như: ngữ
nghĩa học khung và ngữ nghĩa kết cấu của Fillmore, loại hình học tri nhận
của Talmy, Hawkins, Croft, lí thuyết ngữ nghĩa của Wierzbicka, lí luận
không gian tinh thần của Fauconnier.
Ở Việt Nam, ngôn ngữ học tri nhận vẫn còn là một lĩnh vực tương đối
mới mẻ, mới bắt đầu được quan tâm khoảng hơn chục năm trở lại đây. Một
trong những người đi tiên phong cần được kể đến đầu tiên có lẽ là Nguyễn
Đức Tồn, tác giả của một số bài báo đã được công bố từ những năm 90 của
thế kỷ trước đặc biệt là tác phẩm: Tìm hiểu đặc trưng văn hoá dân tộc của
ngôn ngữ và tư duy của người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc
khác) (NXB ĐHQGHN, 2002). Sau đó, Lớ Toàn Thắng đã cho xuất bản
chuyên luận bàn về ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam với tên gọi Ngôn ngữ
học tri nhận - từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt ( NXBKHXH,
HN, 2005). Chuyên luận tiếp theo phải kể đến là cuốn Ngôn ngữ học tri
nhận (Ghi chép và suy nghĩ ) của Trần Văn Cơ (NXBKHXH, HN, 2007).
17
Mô hình (hay bức tranh) về thế giới (world view/ picture) có những
nguyên lí cơ bản như sau:
1. Hình ảnh thế giới là sự ánh xạ của thế giới sự vật trong tâm lí con
người, được môi giới bởi các ý nghĩa sự vật và các sơ đồ tri nhận tương ứng
và chịu sự chi phối của phản xạ có ý thức.
Thế giới được trình ra cho mỗi con người riêng biệt thông qua các ý
nghĩa sự vật vốn dường như được đặt chồng lên trên sự tri giác về thế giới
ấy. Con người không “định danh” các hình ảnh cảm tính về sự vật - ý nghĩa
sự vật chỉ là thành tố của các hình ảnh này, là cái gắn kết chúng lại cho con
người, là cái làm cho bản thân sự tồn tại của những hình ảnh này trở nên có
thể.
2. Mô hình (hay bức tranh) thế giới là hạt nhân hay thành tố cơ sở của
thế giới quan con người. Trong các ngôn ngữ, bức tranh này có thể biến đổi
bởi mỗi bức tranh ngôn ngữ đều liên quan đến một logic nhìn nhận thế giới,
tri giác và nhận thức thế giới riêng biệt của người bản ngữ. Như vậy, nhiệm
vụ sau cùng của việc nghiên cứu bức tranh thế giới là làm sáng tỏ mối quan
hệ giữa con người và thế giới của nó, chỉ ra được nhữung đặc trưng bản sắc
dân tộc của mỗi mô hình thế giới trên mỗi ngữ liệu cụ thể của mỗi cộng
đồng. Cuối cùng, phải phát hiện ra những nhân tố tiềm ẩn đứng đằng sau
những sự khác biệt trong cách nhìn thế giới của mỗi ngôn ngữ.
1.2/3. Đối tượng và nhiệm vụ của ngôn ngữ học tri nhận
1.2.3.1. Đối tượng
Đối tượng của ngôn ngữ học tri nhận là ngôn ngữ tự nhiên của con
người trong mối quan hệ với con người, thực hiện chức năng làm công cụ
của tư duy, công cụ xử lí và chế biến thông tin để tạo ra tri thức và xúc cảm
cho con người. Với đối tượng như trên, ngôn ngữ học tri nhận có những
nguyên lí sau đây
về màu sắc để có các từ chỉ màu như: màu da trời, màu cánh sen, màu cỏ
úa. Căn cứ vào sự giống nhau một thuộc tính, tính chất nào đó để có các
cách nói: tình cảm khô, lời nói khô.v.v.
Về quan niệm coi ẩn dụ như một biện pháp tu từ, có rất nhiều tác giả
đi trước đã từng bàn tới, như: Nguyễn Văn Tu, Đinh Trọng Lạc, Cù Đình
Tú, Nguyễn Phan Cảnh, Đào Thản, Nguyễn Hữu Đạt. Và gần đây hơn nữa là
Hoàng Văn Hành, Nguyễn Thế Lịch, Hà Quang Năng Trong một quan
niệm phổ thông, gần gũi với việc giáo dục trong nhà trường, ẩn dụ được
nhìn nhận như một phép so sánh ngầm, trong đó giấu đi vế được so sánh mà
chỉ nêu ra vế so sánh. Môi trường đặc trưng nhất của ẩn dụ là thi ca và nhờ
ẩn dụ mà các diễn đạt văn học trở nên bóng bẩy hơn, chau chuốt hơn, gợi
hình và gợi cảm. Trong một cái nhìn sâu sắc hơn, tác giả Nguyễn Đức Tồn
qua bài viết Bản chất của ẩn dụ (Tạp chí Ngôn ngữ số 10+11/2007) đã hệ
thống và khái quát lại khái niệm ẩn dụ như sau: ẩn dụ là phép thay thế tên
gọi hoặc chuyển đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tượng này sang sự
vật, hiện tượng khác loại dựa trên cơ sở sự liên tưởng đồng nhất hoá chúng
theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng.
2. Ẩn dụ tri nhận
Trong nghiên cứu Việt ngữ học, ẩn dụ tri nhận là một khái niệm còn
tương đối mới mẻ, có lẽ nó chỉ xuất hiện khi/cùng những nghiên cứu về
ngôn ngữ học tri nhận dần được khẳng định ở Việt Nam. Trong tác phẩm
của Lí Toàn Thắng (2005), dường như vì trọng tâm của cuốn sách là vấn đề
tri nhận không gian nên ông chưa dành một vị trí xứng đáng cho khái niệm
ẩn dụ tri nhận cũng như những khảo sát bước đầu về nó. Trong chuyên luận
tiếp theo về ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam là cuốn của Trần Văn Cơ
(2007), tác giả đã dành từ trang 292 đến 326 để bàn về ẩn dụ tri nhận. Sau
đó cũng chính tác giả Trần Văn Cơ đã dành riêng hẳn cả một chuyên khảo
20
đề nghiên cứu về hiện tượng này với nhan đề “Khảo luận ẩn dụ tri nhận”,
một biểu thức) được hiểu (được đánh giá) thông qua cấu trúc của một từ
(hay một biểu thức) khác. Kiểu ẩn dụ này thường sử dụng kết quả của quá
trình biểu trưng hoá (vật thể và ngôn ngữ ) và của sự liên tưởng. Chẳng hạn,
con cáo là biểu tượng cho sự tinh ranh và khôn ngoan, con đại bàng biểu
trưng cho lòng kiêu hãnh và dũng cảm. Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức
Tồn và cộng sự, trong tất cả các thành ngữ ẩn dụ hoá tiếng Việt chỉ có một
loại ẩn dụ tri nhận làm cơ sở, chính là loại ẩn dụ cấu trúc này. Theo chúng
tôi, đây cũng là kiểu loại ẩn dụ gần gũi nhất với tư duy của người Việt,
chúng được thể hiện một cách tự nhiên và phong phú trong đời sống hàng
ngày, trong các tác phẩm văn học nghệ thuật, thành ngữ, tục ngữ, ca dao.
Tác giả Trần Văn Cơ đã dẫn ra 6 nguồn cứ liệu trong tiếng Việt, nơi mà các
ẩn dụ tri nhận loại cấu trúc hoạt động một cách điển hình và hiệu quả. 6
nguồn cứ liệu đó gồm: thành ngữ, ca dao, câu bình thường, câu đố, truyện cổ
tích, ngụ ngôn.
Ẩn dụ bản thể là sự phạm trù hoá những bản thể trừu tượng bằng
cách vạch ranh giới của chúng trong không gian. Các loại ẩn dụ bản thể (hay
ẩn dụ vật chứa) gồm: không gian hạn chế, trường thị giác, sự kiện, hành
động, công việc, trạng thái. Chẳng hạn, trường thị giác được ngữ nghĩa hoá
như một vật chứa, cho ta các cách nói như: nỗi buồn trong mắt em, mắt mẹ
chan chứa niềm vui.
Ẩn dụ kênh liên lạc/truyền tin là quá trình giao tiếp như sự vận động
của nghĩa làm đầy các biểu thức ngôn ngữ (vật chứa) theo “kênh” nối người
nói với người nghe. Ví dụ: Mọi người truyền tai nhau những lời đàm tiếu.
22
Ẩn dụ định hướng là loại ẩn dụ cấu trúc hoá một số miền và tạo nên
một hệ thống ý niệm hoá chung cho chúng, chúng liên quan đến việc định
hướng trong không gian với những đối lập kiểu như: lên - xuống; vào - ra;
sâu - cạn, trung tâm - ngoại vi, v.v. Chẳng hạn, đối với người Việt, trạng thái
tình cảm tích cực là “ở trên”, còn trạng thái tiêu cực là “ở dưới”. Đây là cơ
LIÊN QUAN ĐẾN NGÔI NHÀ TRONG TIẾNG VIỆT
TỪ GÓC ĐỘ TRI NHẬN
Ngôi nhà - có thể nói là một vật thể văn hoá gần gũi và vô cùng quen
thuộc với mọi dân tộc, mọi cộng đồng. Sự hiện hữu của ngôi nhà cũng đồng
thời là một dấu hiệu chứng tỏ bước phát triển trong đời sống vật chất và tri
thức của một dân tộc, là một trong những điểm mốc đánh dấu hành trình đi
từ dã man đến văn minh của con người. Chúng tôi sẽ lần lượt đi vào khảo sát
những nhóm từ có ý nghĩa liên quan đến ngôi nhà một cách toàn diện, được
chia thành 4 khu vực chính: ẩn dụ của từ nhà (nói chung), ẩn dụ của các từ
liên quan đến kết cấu ngôi nhà, ẩn dụ của các từ chỉ các bộ phận bên ngoài
ngôi nhà và ẩn dụ của các động từ chỉ các hoạt động liên quan đến ngôi nhà.
2.1. NGỮ NGHĨA VÀ SỰ PHÁT TRIỂN ẨN DỤ CỦA TỪ “NHÀ”
Từ “nhà” với nghĩa gốc (nguyên bản) được Từ điển tiếng Việt
(Vietlex, 2009) định nghĩa: “ Công trình xây dựng có mái, có tường vách để
ở hay để sử dụng vào một việc nào đó”. Trong đời sống sinh hoạt và văn hoá
của người Việt, có thể nói có rất nhiều loại nhà như một loạt các quy chiếu
chỉ vật tương ứng với định nghĩa trên. Về loại nhà để ở, có thể có các loại
như: nhà tranh, nhà lá, nhà ngói, nhà ba gian, nhà gác, nhà lầu, nhà tầng,
nhà chung cư, nhà tập thể. Trong đó, một “tiến trình” như vừa liệt kê cũng