Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý bảo vệ rừng tại xã bản mù, huyện trạm tấu, tỉnh yên bái - Pdf 43

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc
lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn
gốc rõ ràng.

Yên Bái, ngày tháng năm 2016
Tác giả

Trần Xuân Dưỡng


ii

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện làm luận văn tốt nghiệp trong
chương trình đào tạo Thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp, chuyên ngành Quản lý tài
nguyên rừng và Môi trường tại Khoa Đào tạo sau đại học trường Đại học Lâm
nghiệp, tôi luôn nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ nhiệt tình quý báu của các
thầy cô giáo, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè.
Nhân dịp này cho tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các cơ
quan, tổ chức và cá nhân sau:
 Khoa Đào tạo sau đại học, Ban giám hiệu và toàn thể các thầy cô giáo
Trường Đại học Lâm nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành khoá đào tạo;
 TS. Đồng Thanh Hải, giáo viên hướng dẫn khoa học của luận văn đã
định hướng và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn;
 Ban quản lý Rừng phòng hộ huyện Trạm Tấu, Hạt Kiểm lâm huyện
Trạm Tấu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện luận văn;
 Uỷ ban nhân dân xã Bản Mù và người dân của các khu hành chính đã

2.1.1. Mục tiêu tổng quát .............................................................................. 12
2.1.2. Mục tiêu cụ thể ................................................................................... 12
2.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ............................................................. 12
2.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 12
2.4. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 13
2.4.1. Phương pháp luận ............................................................................... 13
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu .................................................................... 17
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN DÂN SINH KINH TẾ XÃ HỘI ........... 20
3.1.1. Vị trí địa lý ......................................................................................... 20
3.1.2. Địa hình, địa chất, đất đai ................................................................... 21
3.1.3. Khí hậu, thủy văn ............................................................................... 21
3.2. Đặc điểm kinh tế xã hội ......................................................................... 22


iv

3.2.1. Dân tộc, dân số và lao động ................................................................ 22
3.2.2. Cơ sở hạ tầng ...................................................................................... 23
3.2.3. Tình hình phát triển kinh tế................................................................. 24
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................ 25
4.1. Đặc điểm tài nguyên rừng và công tác quản lý bảo vệ rừng ................... 25
4.1.1. Đặc điểm tài nguyên rừng ................................................................... 25
4.1.2. Thực trạng công tác QLBVR tại xã Bản Mù ....................................... 27
4.2. Một số nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân địa phương
trong công tác quản lý bảo vệ rừng tại xã Bản Mù, huyện Trạm Tấu ............ 33
4.2.1. Những nhân tố thúc đẩy người dân địa phương tham gia công tác
QLBVR. ....................................................................................................... 33
4.2.2. Những nhân tố gây khó khăn cho người dân địa phương trong
công tác QLBVR. ......................................................................................... 35
4.3. Vai trò của cộng đồng đối với công tác QLBVR tại xã Bản Mù ............ 38


Quản lý bảo vệ rừng

BVPTR

Bảo vệ phát triển rừng

PCCCR

Phòng cháy chữa cháy rừng

HGĐ

Hộ gia đình

BQL

Ban quản lý

PRA

Đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân

RRA

Đánh giá nhanh nông thôn

UBND

Uỷ ban nhân dân

4.2

Thực trạng công tác giao khoán bảo vệ rừng tại xã
Bản Mù

27

Tổng hợp diện tích,kinh phí nhân công của các hộ
4.3

dân tham gia nhận khoán các hạng mục công trình

48

năm 2014 – xã Bản Mù
4.4

Phân tích ma trận SWOT về công tác QLBVR

49


vii

DANH MỤC CÁC HÌNH

STT

Tên hình


30

4.5

Sơ đồ mô hình tổ chức quản lý bảo vệ rừng của xã

31


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ rất lâu, trong các cộng đồng dân tộc khác nhau ở Việt Nam các hình
thức quản lý rừng trực tiếp bởi chính những cộng đồng đó đã xuất hiện, được
thể hiện ở những lệ tục giữ rừng, trồng cây, xây dựng hương ước, luật tục bảo
vệ rừng, bảo vệ cây cối. Do đó để quản lý tài nguyên rừng một cách hiệu quả
và bền vững, không thể bỏ qua việc phát huy vai trò của cộng đồng người dân
sống gần rừng trong việc quản lý, bảo vệ rừng. Phát huy vai trò tham gia của
các cộng đồng trong việc quản lý tài nguyên rừng vừa mang ý nghĩa phát huy
truyền thống dân tộc vừa giúp công tác quản lý rừng có hiệu quả và bền vững
hơn.
Bản Mù là một xã vùng cao của huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái với
tổng diện tích tự nhiên là 12.237,9 ha. Tổng số có 8 thôn bản và 785 hộ gia
đình, 5158 nhân khẩu là dân tộc Mông sinh sống ven sườn núi còn lại là dân
tộc khác. Nơi ở, tập quán canh tác, truyền thống văn hóa, khai thác sử dụng
sản phẩm phụ thuộc vào rừng là chủ yếu.
Xã Bản Mù có nhiệm vụ quản lý rừng phòng hộ và phát triển rừng đầu
nguồn của huyện Trạm Tấu là chủ yếu. Mục đích bảo vệ diện tích rừng hiện
có và phát triển rừng nâng cao độ che phủ của rừng, bảo vệ tài nguyên rừng.
Trong những năm qua Đảng, Nhà nước có nhiều công trình nghiên cứu, dự án

Cộng đồng (Commune) theo tổ chức FAO (1990) định nghĩa là
“Những người sống tại một chỗ trong tổng thể hoặc là một nhóm người sinh
sống tại cùng một nơi theo những luật lệ chung”.
Ở Việt Nam, cộng đồng được hiểu là những người sống trong cùng
ranh giới hành chính như cộng đồng thôn, cộng đồng bản. Ranh giới hành
chính các thôn, bản đều được thành lập dựa trên lịch sử lâu đời, vì vậy, cộng
đồng tại các thôn, bản luôn có mối liên kết mật thiết, người đứng đầu (trưởng
thôn, trưởng bản) có hương ước, quy ước xây dựng lâu đời và được người dân
rất tôn trọng, tuân thủ nghiêm ngặt.
Quản lý rừng cộng đồng (Community Forest Management – CFM)
cũng theo FAO định nghĩa là “Tất cả các hoạt động lâm nghiệp mà cộng
đồng người dân tham gia, bảo tồn nhưng hoạt động nhỏ lẻ ở các khu vườn,
đến thu hái các sản phẩm lâm nghiệp cho nhu cầu cuộc sống của người dân
và đến việc trồng cây ở các trang trại hàng hóa, sản xuất chế biến các sản
phẩm lâm nghiệp ở quy mô hộ gia đình, hợp tác xã để tăng thu nhập cho
những cộng đồng sống trong rừng”.
Quản lý rừng bền vững theo ITTO (Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế), là
quá trình quản lý những lâm phần ổn định nhăm đạt được một hoặc nhiều hơn


4

những mục tiêu quản lý rừng đã đề ra một cách rõ ràng, như đảm bảo sản xuất
liên tục những sản phẩm và dịch vụ mong muốn mà không làm giảm đáng kể
những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những
tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội.
Còn theo tiến trình Hensinki, Quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) là sự quản
lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng
sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng
của rừng trong quá trình thực hiện, và trong tương lai, các chức năng sinh

sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định.
Nhìn chung các KBT/ VQG đều được thiết lập vì mục đích chung của
các Quốc gia, mà ít nghĩ đến các nhu cầu và mong muốn của người dân địa
phương. Phương thức quản lý của nhiều VQG và KBT chủ yếu bao gồm việc
ngăn cấm người dân địa phương xâm nhập vào KBT và khai thác tài nguyên
rừng (TNR). Tại các nước Đông Nam Á, phương thức này tỏ ra không thích
hợp vì để duy trì sự đa dạng sinh học thì người dân địa phương bị mất quyền
tiếp cận với nguồn TNR, trong khi sự phụ thuộc của họ vào TNR là rất lớn.
Các tác giả Dorji, D.C. Chavada, B. Thinley và Wangchuks (2005), cho
rằng: Rừng chủ yếu là nguồn cung cấp gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung
cấp củi, nơi chăn thả và chuồng trại cho gia súc. Chúng cũng cung cấp một
phần lớn những yêu cầu về thức ăn gia súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng
vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất và nước ở vùng đất dốc.
Theo Gadgil và VP. Vartok, người dân địa phương ở Ấn Độ đã bảo vệ
được các diện tích rừng từ dưới 0,5ha đến 10 ha dưới dạng lùm cây thiêng để
thờ các vị thần của lùm cây. Việc lấy ra bất cứ sản phẩm nào đều bị cấm kỵ.
Với nạn phá rừng ngày càng tăng, những lùm cây đó đã trở thành những di
sản còn lại của rừng tự nhiên và do đó đã trở nên quan trọng trong việc thu
lượm một số sản phẩm như: Cây thuốc, lá rụng, gỗ khô…Việc khai thác gỗ đã
bị cấm nhưng đôi khi vẫn xảy ra tình trạng khai thác gỗ trộm.


6

Các tác giả Apple Gate, G.B và Gilmour, D.A 1987, khi nghiên cứu
kinh nghiệm tác nghiệp trong việc quản lý phát triển rừng tại vùng đồi Nêpan
đã nhận thấy có mối quan hệ giữa rừng và các hệ canh tác hỗn hợp ở trung du
miền núi. Tác giả cho rằng các hệ canh tác phụ thuộc nhiều vào rừng đang bị
suy thoái nhanh. Sự bền vững lâu dài của các hệ canh tác phụ thuộc vào việc
gia tăng về diện tích dưới bất cứ các dạng che phủ thực vật nào.

thời kỳ đó, ¼ diện tích rừng toàn quốc đã được chuyển giao từ quản lý quốc
doanh sang các hộ gia đình và cá nhân. Đến cuối thế kỷ XX đầu XXI, nhà
nước bắt đầu thử nghiệm các mô hình Quản lý rừng cộng đồng trong khuôn
khổ các chương trình dự án cấp Quốc gia. Đến năm 2004 ban hành luật Bảo
vệ và phát triển rừng thì các cấp quản lý rừng ở thôn bản mới thực sự được
công nhận về mặt pháp lý.
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Bá Ngãi (2005; 2009) tiến trình
hình thành và phát triển chính sách lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam có thể
phân chia thành các giai đoạn:
- Trước năm 1954: Thừa nhận sự tồn tại của rừng cộng đồng.
- Giai đoạn 1954-1975: Không quan tâm đến rừng cộng đồng nhưng
tôn trọng cộng đồng đang quản lý những khu rừng theo truyền thống.
- Giai đoạn 1976-1985: Tập trung và kế hoạch hóa cao độ lâm nghiệp
quốc doanh và tập thể, rừng do cộng đồng quản lý bị thu hẹp.
- Giai đoạn 1986-1992: Lần đầu tiên đề cập làng bản là chủ rừng hợp
pháp đối với rừng truyền thống của làng bản.
- Giai đoạn 1993-2002: Tăng cường quá trình phi tập trung hóa trong
quản lý rừng, quan tâm đến xã hội hóa nghề rừng nhưng chính sách đổi với
Lâm nghiệp cộng đồng chưa rõ ràng.
- Từ 2003 đến nay: hình thành khung pháp lý cơ bản cho Lâm nghiệp
cộng đồng.


8

Tính đến hiện tại, đã có không ít những nghiên cứu của các tác giả
trong và ngoài nước đề cập đến việc dung hoà mối quan hệ giữa bảo tồn tài
nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội của người dân địa phương ở
Việt Nam, như:
Các tác giả Donovan D., Rambo A.T, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức

thể và cộng đồng, hỗ trợ quy hoạch sử dụng đất, xây dựng các quy ước quản
lý bảo vệ rừng thôn bản. Tiếp sau đó, một bước đột phá trong hoạt động quản
lý rừng cộng đồng là dự án đã tiến hành xây dựng và áp dụng “Phương pháp
đánh giá tài nguyên rừng có sự tham gia và lập kế hoạch quản lý rừng cộng
đồng” cho các thôn bản trong vùng dự án. Đây là phương pháp được các nhà
khoa học đầu ngành đánh giá là rất tốt cho việc quản lý sử dụng rừng trên các
diện tích đã giao quyền sử dụng cho các hộ, các tổ chức và cộng đồng.
Vũ Hoài Minh và Hans Warfvinge (2002), đã tiến hành đánh giá về
thực trạng quản lý rừng tự nhiên bởi các hộ gia đình và cộng đồng địa phương
ở 3 tỉnh Hoà Bình, Nghệ An và Thừa Thiên Huế. Các tác giả đã tiến hành tìm
hiểu về sự hình thành, các lợi ích đạt được và những vấn đề hưởng lợi, quyền
sở hữu và các chính sách liên quan đến hình thức quản lý này. Trong 5 mô
hình quản lý rừng cộng đồng có 4 hình thức là tự phát của cộng đồng địa
phương (hình thức quản lý của các đồng bào dân tộc thiểu số như Mường,
Thái) và được chính quyền địa phương chấp thuận: Họ tự đề ra các quy định,
quản lý, sử dụng lâm sản cũng như các hoạt động xây dựng và phát triển rừng.
Hình thức quản lý ở Thuỷ Yên Thượng (cộng đồng ở đây là người dân tộc
kinh) được xây dựng dựa trên sự hợp tác giữa chính quyền địa phương (tỉnh,
huyện, xã) với sự hỗ trợ của dự án quốc tế.
Trong hội thảo “Mạng lưới lâm nghiệp Châu Á” (Asia Forest Network)
tháng 9/2003 tại Cao Bằng, Việt Nam. Các nước thành viên đã thảo luận về
các bước lập kế hoạch và xây dựng quy ước quản lý rừng cộng đồng (đánh giá
tài nguyên có sự tham gia, các chương trình quản lý tài nguyên rừng dựa trên


10

cơ sở cộng đồng, thu nhập qua quản lý rừng cộng đồng, chương trình đánh giá
và giám sát, các chính sách về quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng…) các nước
thành viên tham dự đi đến thống nhất các hoạt động thảo luận và đi đến thoả

bảo vệ, phát triển rừng cần có sự tham gia của người dân và chính quyền xã
Bản Mù và các ngành các cấp trên địa bàn huyện Trạm Tấu, cần có những
công trình nghiên cứu, giải pháp cụ thể để công tác quản lý bảo vệ, phát triển
rừng bền vững.


12

Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG,
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu tổng quát
Nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng tại xã Bản Mù, huyện
Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định được thực trạng công tác quản lý rừng tại xã Bản Mù, huyện
Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái.
- Xác định nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của cộng đồng trong
công tác quản lý bảo vệ rừng tại khu vực nghiên cứu.
- Xác định được vai trò của cộng đồng; những khó khăn, thuận lợi, cơ
hội, thách thức đối với công tác quản lý bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng
đồng tại xã Bản Mù, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái.
- Đề xuất một số giải pháp bảo vệ rừng hiệu quả dựa vào cộng đồng
cho khu vực nghiên cứu.
2.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Rừng tự nhiên
Cộng đồng người dân tộc H’mông, tại xã Bản Mù, huyện Trạm Tấu,
tỉnh Yên Bái.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu tại xã Bản Mù, huyện Trạm

Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động trong hệ
thống kinh tế, bởi mức độ tác động của người dân địa phương gắn liền với các
hoạt động kinh tế của con người như: sử dụng đất rừng canh tác, khai thác
lâm sản, chăn thả gia súc…Sự tác động này cũng phụ thuộc vào sinh kế, mức
sống, nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợi nhuận trước mắt và hiệu quả


14

kinh tế thường quyết định tới hình thức sử dụng TNR của người dân địa
phương. Ngược lại, mức độ giàu có và đa dạng của TNR cũng tác động mạnh
mẽ tới nguồn thu của người dân địa phương. Chính vì mối quan hệ chặt chẽ
giữa những tác động của người dân địa phương đến TNR với các yếu tố kinh
tế nên có thể làm giảm thiểu tác động bất lợi tới TNR bằng cách tác động vào
những yếu tố kinh tế. Đây là lý do đề tài nghiên cứu các nguyên nhân kinh tế
dẫn tới những tác động bất lợi của người dân địa phương đến TNR và nghiên
cứu đề xuất giải pháp kinh tế để giảm thiểu sự tác động bất lợi này.
Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động xã hội vì
các hoạt động này là của con người. Sự tác động này bị chi phối bởi nhiều yếu
tố xã hội như nhận thức của người dân về tầm quan trọng của TNR, ý thức về
luật pháp, trách nhiệm của cộng đồng, những thói quen sử dụng TNR tại xã
Bản Mù, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái. Sự tác động của người dân địa
phương đến TNR còn phụ thuộc vào những vấn đề về thể chế và chính sách
như chính sách đối với người dân trong KBTTN, hệ thống quản lý TNR, việc
thực thi luật bảo vệ phát triển rừng (BVPTR). Sự hiện diện của chúng sẽ hỗ
trợ Nhà nước trong việc tuyên truyền các chính sách, gắn kết người dân thành
cộng đồng thống nhất trong việc thực thi quản lý bảo vệ TNR. Những tác
động của người dân địa phương đến TNR liên quan chặt chẽ với các yếu tố xã
hội.
TNR là một hệ thống tự nhiên, trong đó các thành phần có mối quan hệ

thái và đảm bảo được các yếu tố về kinh tế và xã hội của người dân địa
phương.
2.4.1.3. Quan điểm bảo tồn - phát triển
Theo Gilmour D.A và Nguyễn Văn Sản (1999) [4], quan điểm bảo tồn
và phát triển là để liên kết việc bảo tồn tài nguyên và những nhu cầu phát
triển địa phương, bao gồm 3 thành phần chính (cách tiếp cận) như sau:


16

- Thứ nhất là nếu nhu cầu phát triển cộng đồng tại địa phương đó có thể
được đáp ứng bởi các nguồn thay thế khác thì ảnh hưởng của nó lên tài
nguyên sẽ được giảm bớt và tài nguyên được bảo tồn: Cách tiếp cận các giải
pháp thay thế sinh kế.
- Thứ hai là nếu cộng đồng rất khó khăn về mặt kinh tế, không thể nào
quan tâm đến việc bảo tồn được vì những nhu cầu thiết yếu của cộng sống vẫn
còn chưa được đáp ứng thì trước hết cần phải nỗ lực cải thiện nền kinh tế - xã
hội của họ đủ tốt để họ có thể quan tâm hơn đến việc bảo tồn tài nguyên:
Cách tiếp cận phát triển kinh tế.
- Thứ ba là cộng đồng địa phương đó cũng đồng ý với việc bảo tồn tài
nguyên thiên nhiên nếu như họ có thể được tham gia một cách tích cực vào
việc quy hoạch và quản lý sử dụng tài nguyên và được chia sẻ lợi nhuận từ tài
nguyên đó. Theo cách này, tài nguyên có thể được bảo tồn trong khi một số
nhu cầu cơ bản của người dân địa phương được đáp ứng thông qua việc sử
dụng và khai thác tài nguyên một cách hợp lý và bền vững: Cách tiếp cận
tham gia quy hoạch.
2.4.1.4. Tiếp cận có sự tham gia trong nghiên cứu
Sự tham gia được định nghĩa như là một quá trình, thông qua đó các
chủ thể cùng tác động và chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng quyết
định. Điều quan trọng là người dân địa phương có khả năng trao đổi các triển

khó khăn đó (Ngân hàng Thế giới) [4].
- Phỏng vấn Ban quản lý các thôn, bản của các cộng đồng nghiên cứu:
Công cụ này được thực hiện đầu tiên khi tới thôn, bản, nhằm tìm hiểu tình
hình chung về kinh tế - xã hội của thôn, bản như: Dân số, mức sống, dân trí,
các loại đất đai, các hỗ trợ từ bên ngoài, các hình thức sử dụng tài nguyên
rừng...
- Phân loại hộ gia đình (HGĐ): Đây là công cụ nhằm đánh giá tình hình
kinh tế HGĐ. Kết quả phân loại làm cơ sở cho việc phỏng vấn HGĐ để thuận


18

lợi cho việc đánh giá, giám sát và ảnh hưởng của các nhóm hộ đến tài nguyên
rừng.Cơ sở để phân loại hộ: Giầu nghèo là một khái niệm tương đối và rất
khác nhau ở từng cộng đồng. Cơ sở phân loại chủ yếu dựa trên sự hiểu biết,
quan sát thực tế giữa người dân trong cộng đồng. Sử dụng phiếu để phân loại
dựa trên cơ sở mà người dân đưa ra.
- Phỏng vấn hộ gia đình:
Số hộ được phỏng vấn 60 HGĐ/xã/ với đầy đủ các nhóm hộ khá, trung
bình, nghèo và có ở tất cả các thành phần dân tộc trong thôn, xã đó chủ yếu
tập trung dân tộc H’mông (kết quả phỏng vấn trình bày trong phụ lục). Nội
dung phỏng vấn là các vấn đề liên quan đến các nguồn thu nhập, sinh kế của
cộng đồng địa phương, các hình thức và nguyên nhân tác động của cộng đồng
vào TNR, đồng thời cũng tìm hiểu các giải pháp giải quyết mối quan hệ giữa
bảo tồn và phát triển do chính cộng đồng đưa ra.
- Thảo luận nhóm: Phương pháp này được thực hiện sau khi thực hiện
công cụ phỏng vấn HGĐ. Các cuộc thảo luận được tiến hành dựa trên khung
thảo luận chuẩn bị sẵn. Nhóm thảo luận gồm 5 - 7 người, gồm đại diện các hộ
nhóm hộ gia đình, lãnh đạo thôn, đoàn thể. Thảo luận nhóm nhằm bổ sung và
thống nhất về các hình thức, mức độ tác động của người dân vào rừng và đất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status