1i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ luận văn của một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn
gốc.
Tác giả
Nguyễn Thị Như Mai
2ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự quan
tâm, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi của Ban giám hiệu Trường Đại
học Lâm nghiệp; Khoa đào tạo sau đại học; Các thầy giáo, cô giáo Trường
Đại học Lâm nghiệp; tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước sự quan
tâm và giúp đỡ quý báu đó.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến cô giáo TS. Nguyễn Thi
Yến, cùng thầy giáo TS. Đặng Văn Hà, người trực tiếp hướng dẫn khoa học,
đã tận tình chỉ bảo, truyền đạt kinh nghiệm quý báu và giúp đỡ tôi trong thời
gian học tập cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn. Tôi xin chân
thành cảm ơn Ban lãnh đạo và cán bộ Công ty TNHH một thành viên Môi
Trường và Công trình Đô thị Thái Bình cùng gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng và nỗ lực của bản thân nhưng chắc chắn
luận văn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Rất mong nhận
được những ý kiến đóng góp quý báu của các nhà khoa học, các thầy cô giáo
defined.
3. Nghiên cứu và phát triển cây xanh đường phố ở Việt Nam ................ Error!
Bookmark not defined.
4. Những quy định về trồng cây xanh đường phố.Error!
Bookmark
not
defined.
Chương 2 MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP
......................................................................... Error! Bookmark not defined.
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............ Error! Bookmark not defined.
2.2. Mục tiêu nghiên cứu................................. Error! Bookmark not defined.
2.3. Nội dung nghiên cứu ................................ Error! Bookmark not defined.
2.3.1. Đánh giá hiện trạng và phân loại hệ thống đường phố của thành phố
Thái Bình ......................................................... Error! Bookmark not defined.
4
2.3.2. Đánh giá hiện trạng cây trồng và hình thức tổ chức trồng cây trên các
đường phố đã xây dựng trong khu vực thành phố Thái Bình. ................. Error!
Bookmark not defined.
2.3.3. Đề xuất giải pháp phát triển cây xanh đường phố trong khu vực nghiên
cứu ................................................................... Error! Bookmark not defined.
2.4. Phương pháp nghiên cứu .......................... Error! Bookmark not defined.
2.4.1. Hiện trạng và các chỉ tiêu kỹ thuật hệ thống đường phố thành phố Thái
Bình ................................................................. Error! Bookmark not defined.
Bookmark
not
defined.
4.2.1. Hiện trạng và thành phần loài cây đường phốError! Bookmark not
defined.
4.2.1.1. Đường Lê Lợi ..................................... Error! Bookmark not defined.
4.2.1.2. Đường Trần Thái Tông ...................... Error! Bookmark not defined.
4.2.1.3. Đường Quang Trung .......................... Error! Bookmark not defined.
4.2.1.4. Đường Lý Bôn ................................... Error! Bookmark not defined.
4.2.1.5. Đuờng Lý Thuờng Kiệt ...................... Error! Bookmark not defined.
4.2.1.6. Đường Trần Hưng Đạo ...................... Error! Bookmark not defined.
4.2.1.7. Đường Lê Đại Hành. .......................... Error! Bookmark not defined.
4.2.1.8. Đường Trần Thánh Tông ................... Error! Bookmark not defined.
v
4.2.2. Đánh giá sinh trưởng và chất lượng của cây xanh đường phố ...... Error!
Bookmark not defined.
4.2.2.1 Ảnh hưởng môi trường đến sinh trưởng của cây xanh. ............... Error!
Bookmark not defined.
4.2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng của cây xanh đường phốError! Bookmark not
defined.
4.2.3. Đánh giá tổ chức các loài cây đường phốError!
Bookmark
not
defined.
4.3. Xác định tiêu chí để lựa chọn tập đoàn cây trồng cho hệ thống cây đương
Ký hiệu
TP
Giải thích
Thành phố
2
QĐ
Quyết định
3
BXD
Bộ xây dựng
4
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
5
NĐ-CP
Nghị định- Chính Phủ
11
THPT
Trung học phổ thông
12
THCS
Trung học cơ sở
13
1,3
Đường kính trung bình ở vị trí cách gốc 1,3m
14
vn
Chiều cao vút ngọn trung bình
15
t
Đường tán trung bình
8
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng
TT
4.1
4.2
Trang
Bảng thông số về mạng lưới giao thông Thái Bình
28
Danh sách loài cây xanh đường phố được trồng tại thành phố Thái
30
Bình
4.3
Hiện trạng cây xanh đường phố trên đường phố Lê Lợi
33
4.9
Hiện trạng cây xanh đường phố trên đường phố Lý Thường Kiệt
43
4.10
Thành phần loài cây trang trí tầng thấp trên đường Lý Thường Kiệt
44
4.11
Hiện trạng cây xanh đường phố trên đường Trần Hưng Đạo
47
4.12
Hiện trạng cây xanh đường phố trên đường Lê Đại Hành
49
4.13
Hiện trạng cây xanh đường phố trên đường Trần Thánh Tông
51
4.3
Đoạn 1 đường Trần Thái Tông
35
4.4
36
4.5
Đoạn 2 đường Trần Thái Tông
Đường Quang Trung
4.6
Cây xanh bị nghiêng đổ trên đường Quang Trung
39
4.7
Đoạn đường không có cây xanh trên đường Lý Bôn
42
Một số ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trên đường
48
4.14 Cây xanh còn thiếu trên đường Lê Đại Hành
50
4.15
Không gian sống hạn hẹp của cây xanh trên đường Lê
50
Đại Hành
4.16 Đường Trần Thánh Tông
50
4.17 Các công trình kỹ thuật trên đường Trần Thánh Tông
54
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây xanh là một trong những thành phần không thể thiếu của cấu trúc đô
thị, có vai trò quan trọng đối với đời sống con nguời, là một nhân bộ phậnn
quan trọng của hệ sinh thái tự nhiên. Nó không chỉ có tác dụng như một hệ
tỉnh. Là một thành phố có biển nên cũng bị ảnh hưởng của gió, bão, sâu bệnh
nên cây xanh đường phố Thái Bình cũng chịu nhiều tác động khác nhau, quá
trình đô thị hóa khiến hệ thống cây xanh bị suy giảm về số lượng lẫn chất
lượng, ý thức gây trồng chăm sóc và bảo vệ cây xanh của người dân không
còn tích cực như xưa, việc trồng cây xanh trên các tuyến đường, tại các công
trình công cộng của thành phố còn nhiều bất cập, cây được trồng có cấu trúc
thường không phù hợp với từng khu vực của thành phố cho nên khả năng phát
huy tác dụng chưa cao, làm ảnh hưởng không nhỏ tới cảnh quan đô thị.
Xuất phát từ thực tế đó, việc nghiên cứu chọn loài cây trồng thích hơp và
tìm giải pháp tốt để phát triển hệ thống cây xanh đường phố Thành phố Thái
Bình là cần thiết, không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực
tiễn thiết thực. Đây là lý do chính tôi chọn đề tài “ Đánh giá hiện trạng và đề
xuất giải pháp phát triển cây đường phố cho thành phố Thái Bình”
3
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Nghiên cứu và phát triển cây xanh đường phố trên Thế giới
Từ thời kỳ sơ khai của nền văn minh nhân loại, cây xanh luôn giữ vai
trò quan trọng. Người Trung hoa, La Mã đã sử dụng cây xanh để trang trí nhà
cửa, lăng miếu, đền thờ, tượng đài..Qua các thời kỳ phát triển của xã hội loài
người, đô thị dần được hình thành và không ngừng phát triển. Cùng với sự
phát triển đó là sự ra đời và phát triển của hệ thống cây xanh trong đô thị
trong có cây xanh đường phố nhằm nâng cao môi trường sống và cải tạo cảnh
quan đô thị
Giai đoạn TCN cây xanh mang đậm chất kinh tế và tâm linh. Với các
đô thị đời sớm như như Ai Cập, La Mã…cây xanh chủ yếu là những loại cho
hiệu quả kinh tế như chà là, cọ, cây ăn quả….hoặc những loài cây lớn như
tuyến đường chính trong cả nước với mục đích là bổ sung nguồn gỗ cung cấp
cho các hoạt động quân sự.[19]
Ở Liên Xô cũ (trước khi giải thể năm 1991) công tác phát triển cây đường
phố cũng đạt được nhiều thành tựu, cả về lý luận lẫn thực tiễn đều rất phát triển,
đặc biệt là những năm sau cách mạng tháng 10 Nga thành công[23]. Trong hệ
thống cây đường phố nhấn mạnh việc kết hợp giữa những đường bóng mát, các
dải rừng phòng hộ để tạo thành những hành lang xanh trong đô thị. Số lượng
đường bóng mát đã tăng lên đáng kể ở Matxcova từ 40 tuyến từ những năm
1967 lên 100 tuyến đường năm 1973. Những tuyến đường này đã góp phần bảo
vệ và cải thiện môi trường của thành phố.
Trong các công trình nghiên cứu của L.B.Lunx A.C. Xalatyn, L.X.
Dalexcaia và nhiều nhà nghiên cứu khác đã tìm tòi về tỉ trọng cây xanh đường
phố thích hợp, đề ra những nguyên tắc cơ bản và các vẫn đề thiết kế cây xanh
5
đường phố, kết quả của các công trình nghiên cứu đã được vận dụng trong
thực tiễn xây dựng ở Liên Xô, Đức, Mỹ, Anh, Pháp.
Ở Pháp, từ thời vua Henry IV (Henry Navarre 1579-1610), ông đã cho
thiết kế lại các đường quốc lộ với những hàng cây rợp bóng mát. Sau khi ông
bị ám sát, Hoàng hậu Marie De Medici đã cho làm con đường dài đầu tiên
trong thành phố Paris có hàng cây hai bên để đi dạo. Từ đó, như là mốt thời
thượng, con đường rợp bóng cây đua nhau xuất hiện, trở thành nền tảng cho
sự phát triển cây xanh đường phố của Paris. Cho đến đời Napoleon III, các
hàng cây xanh mướt khắp các con phố Paris mới được gây dựng quy mô lớn
và phát triển thành Thủ đô Paris hoa lệ như ngày hôm nay.
Mặc dù châu Âu đã có một lịch sử lâu dài và phong phú của các thiết kế
không gian xanh, quản lý cây xanh [20]. Nhưng lâm nghiệp đô thị chính thức
là một lĩnh vực khoa học được nghiên cứu ở châu Âu trong thập niên 1980
Tại quốc đảo Singapore, mỗi đường phố của đảo quốc này trồng một loại
cây với chiều cao được khống chế và cắt tỉa tạo dáng phù hợp. Cây xanh thân
gỗ che bóng mát, dây leo, cây bụi và các loại hoa được trồng trên những con
phố, công viên, các công trình công cộng, khu bảo tồn thiên nhiên đã tạo nên
không gian xanh mát của quốc gia này. Dọc theo những đại lộ chính của
Singapore là những hàng cây me Tây đã nhiều tuổi, có độ che phủ và tỏa
bóng rộng đến 30 mét đường kính. [18]
Những thành tựu nghiên cứu về đô thị xanh, đô thị này đã được hình
thành trên thế giới là những kinh nghiệm rất quý báu và là mẫu hình cho Việt
Nam học tập.
2. Vai trò của cây xanh đối với môi trường đô thị
Đối với môi trường không khí và khí hậu
Người ta thường ví cây xanh đối với môi trường đô thi tương tự như là lá
phổi hô hấp của con người
7
Khi gió thổi không khí xuyên qua cây xanh, hàm lượng bụi trong
không khí sẽ được các lá cây giữ lại phần lớn, làm cho không khí trong sạch
hơn. Tổng lượng bụi được bám giữ trên 1 cây có tán lá lớn, rậm có thể đạt tới
từ 10-30kg. Nồng độ bụi trong không khí thổi qua cây xanh có thể giảm đi từ
20-60%. Cây xanh hai bên đường phố có thể giảm lượng bụi trong không khí
đối với các tầng trên của nhà phố từ 30-60%.
Dưới tác dụng của bức xạ mặt trời, cây xanh sẽ được hút nước từ đất,
hấp thụ nhiệt bức xạ mặt trời và hấp thụ khí CO2 từ không khí để tiến hành
lục diệp hóa và nhả ra khí O2- rất hữu ích đối với sức khỏe con người và
giảm thiểu khí “nhà kính”. Nhiệt độ không khí ở vùng cây xanh ban ngày thấp
hơn từ 1-3 độ C. Hàm lượng O2 trong không khí lớn hơn tới 20% và hàm
lượng C02 ít hơn, đồng thời làm giảm sự chói chang trong những ngày nắng
của các công trình kiến trúc, các đài kỷ niệm, các danh lam thắng cảnh. Các
vườn hoa, công viên cây xanh, không gian xanh và nước là một thành tố
không thể thiếu được của đô thị, phục vụ cho nhu cầu giải trí, nghỉ ngơi, đi
dạo và ngoạn mục của nhân dân đô thị, cũng như các khách vãng lai và khách
du lịch.[2]
3. Nghiên cứu và phát triển cây xanh đường phố ở Việt Nam
Việt Nam tốc độ đô thị hóa chậm so với thế giới và khu vực bởi phải
qua một thời kì chiến tranh dài, kinh tế kiệt quệ không kể sự kìm hãm của
phong kiến phương Bắc trong hơn 1000 năm đô hộ. Tuy nhiên, vấn đề đô thị
hóa ở Việt Nam không thể tách rời khỏi phạm vi này của Châu Á nói chung
và Đông Nam Á nói riêng (B.K.Thế 1996).
Công tác trồng cây xanh ở các đô thị đã được tiến hành từ hàng trăm
năm trước. Từ xa xưa, cha ông ta khi xây dựng các công trình kiến trúc cũng
đã chú ý tới việc trồng cây xanh. Những tài liệu lưu lại không còn nhưng
9
những thành quả của việc trồng cây xanh còn lại đến ngày nay thể hiện ở các
đình, đề, chùa hoặc các công trình lăng tẩm và đây cũng thể hiện truyền thống
và bản sắc dân tộc riêng của Việt Nam. Đặc biệt tại thành phố Huế, vào thời
kỳ Triều Nguyễn cây xanh đã được chú trọng trồng trên các con đường, trong
mỗi vườn nhà tạo nên nét đặc trưng riêng.
Đó là sự phát triển không liên tục, khắc hẳn với một số đô thị ở Rome,
paris…Theo số liệu của cục thống kê năm 2009, Việt Nam có gần 90 triệu
dân và hơn 30% dân số sống trong các đô thị, như thế việc hình thành các khu
dân cư trong đô thị là tất yếu xảy ra, đặt yêu cầu gia tăng diện tích cây xanh
nhằm góp phần giữ gìn, cân bằng môi trường sinh thái đô thị.
Nhiều công trình nghiên cứu và bài viết liên quan đến quy hoạch đô thị,
phát triển cây xanh và quản lý trong môi trường đô thị, kiến trúc cảnh quan đô
của giặc Mỹ, công tác cải tạo và xây dựng đô thị bị đình đốn, công tác cây
xanh không phát triển. Nơi nào nhận thức được lợi ích của cây xanh đô thị và
quan tâm chỉ đạo thì phong trào trồng cây đường phố, bảo vệ cây và các công
viên, vườn hoa làm tốt, điển hình như Hà Nội, Hải Phòng. Nhiều nơi công tác
cây xanh không được chú ý, không có tổ chức chuyên trách, thiếu kế hoạch
ươm và trồng. Nhiều nơi đã trồng cây một cách tuỳ tiện và cây trồng không
đúng tiêu chuẩn quy phạm xây dựng đô thị đã làm hư hỏng nhà cửa và các hệ
thống công trình ngầm, hạn chế ánh sáng và gió mát. Nhưng từ những nỗ lực
ban đầu đó, kết quả đã trồng được nhiều cây bóng mát, cây phong cảnh được
những đai cây xanh ở ngoại ô có tác dụng phòng hộ cho thành phố, diện tích
cây xanh đô thị được tăng lên so với thời gian trước khi miền Bắc giải phóng
Theo sự đánh giá của Bộ Tài Nguyên và Môi trường (2010) việc trồng
cây xanh đường phố ở đô thị ở Việt Nam còn rất ít và chưa đạt tiêu chuẩn về
độ che phủ cũng như cân bằng sinh thái. Theo “Tạp chí kiến trúc” có nêu thì
hiện nay thành phố Huế là thành phố có nhiều cây xanh nhất cả nuớc bao gồm
nhiều chủng loại gồm 87 sắc mộc thuộc 33 họ thực vật khác nhau; khu vực
11
Đồng Bằng sông Củư Long có thành phố Trà Vinh nổi tiếng là thành phố
xanh với trên 1000 cây cổ thụ và bóng mát.
Tại Việt Nam cây xanh chưa đạt tiêu chuẩn về độ che phủ cũng như cân
bằng sinh tháiQuá trình đô thị hóa nhanh đang diễn ra trên cả nước đã và đang
tác động mạnh mẽ đến tỷ lệ cây xanh đô thị. Diện tích cây xanh/người dân đô
thị tại một số thành phố lớn như: Hà nội 1,65m2/người (toàn đô thị là
11,2m2/người), Thành phố Hồ Chí Minh 1,9m2/người, Đà Nẵng
5,02m2/người.
Ở hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh diện tích
cây xanh đô thị đạt không quá 2cây xanh/người, chỏ bằng 1/10 chỉ tiêu cây
lý cây xanh đô thị, có phân công, phân cấp trách nhiệm theo quy định của
pháp luật; nhà nước có trách nhiệm đầu tư, phát triển cây xanh đô thị nhằm
mục đích phục vụ lợi ích cộng đồng; khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi để
các tổ chức, cá nhân tham gia quy hoạch, trồng, chăm sóc, ươm cây, bảo vệ
cây xanh đô thị.
- Thông tư của Bộ xây dựng số 20/2005/TT-BXD ngày 20 tháng 12 năm
2005 hướng dẫn quản lý cây xanh độ thị.
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 9257:2012 của Bộ Khoa học và Công
nghệ về quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị - Tiêu chuẩn
thiết kế
Nhiều công trình nghiên cứu và bài viết liên quan đến quy hoạch xây
dựng đô thị, phát triển cây xanh và quản lý trong môi trường đô thị, kiến trúc
cảnh quan đô thị, chủng loại cây xanh đô thị…đã được các tác giả như Hàn
Tất Ngạn, Phạm Kim Giao, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Trần Hợp, Nguyễn Thế
Bá, Chế Đình Lý…công bố. Những công trình này cung cấp thêm cho các nhà
quản lý, các nhà khoa học những kiến thức nhất định trong việc quy hoạch
chung đô thị hay quản lý cây xanh trong môi trường đô thị. Điều đáng chú ý,
13
các nghiên cứu bước đầu chỉ mới tập trung ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, Đà
Nẵng ,Huế như các nghiên cứu và đề tài:
- Lê Trung Ngọc,2014 “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp bảo
tồn, phát triển hệ thống cây xanh đô thị trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố
Hà Nội”.
-Đỗ Ngọc Hoàng, Ý kiến phát biểu tại buổi làm việc với sở xây dựng và
các chuyên gia về kiến trúc cảnh quan và cây xanh đô thị, ngày 25 tháng 6
năm 2015 tại Sở xây dựng Hà Nội.
- Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội, “ Quy hoạch hệ thống cây xanh,
14/5/2010.
4. Những quy định về trồng cây xanh đường phố.
Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 9257:2012 của Bộ Khoa học và
Công nghệ về quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị - Tiêu
chuẩn thiết kế:
- Đối với các tuyến đường lớn có chiều rộng hè phố trên 5m nên trồng
các cây trung mộc hoặc cây đại mộc theo quy định phân loại cây đô thị tại địa
phương.
- Đối với các tuyến đường trung bình có chiều rộng hè phố từ 3m đến
5m nên trồng các cây tiểu mộc hoặc cây trung mộc theo quy định phân loại
cây đô thị tại địa phương.
- Đối với các tuyến đường nhỏ có chiều rộng hè phố hẹp dưới 3m,
đường cải tạo, bị khống chế về mặt bằng và không gian thì cần tận dụng
những cây hiện có hoặc trồng tại những vị trí thưa công trình, ít vướng đường
dây trên không và không gây hư hại các công trình sẵn có, có thể trồng dây
leo theo trụ hoặc đặt chậu cây.
- Khoảng cách giữa các cây trồng được quy định tuỳ thuộc vào việc
phân loại cây hoặc theo từng vị trí cụ thể của quy hoạch trên khu vực, đoạn
đường. Chú ý trồng cây ở khoảng trước tường ngăn giữa hai nhà phố, tránh
15
trồng giữa cổng hoặc trước chính diện nhà dân đối với những nơi có chiều
rộng hè phố dưới 5m.
- Khoảng cách các cây được trồng tính từ mép lề đường từ 0,6m đến
1,0m căn cứ theo tiêu chuẩn phân loại cây .
- Cây xanh đường phố và các dải cây phải hình thành một hệ thống cây
xanh liên tục và hoàn chỉnh, không trồng quá nhiều loại cây trên một tuyến
phố. Trồng từ một đến hai loại cây xanh đối với các tuyến đường, phố có
- Xung quanh ô đất trồng cây trên đường phố hoặc khu vực sở hữu
công cộng (có hè đường) phải được xây bó vỉa có cao độ cùng với cao độ của
hè phố nhằm giữ đất tránh làm bẩn hè phố hoặc các hình thức thiết kế khác để
bảo vệ cây và tạo hình thức trang trí.
- Tận dụng các ô đất trồng cây bố trí trồng cỏ, cây bụi, hoa tạo thành
khóm xung quanh gốc cây hoặc thành dải xanh để tăng vẻ đẹp cảnh quan đô
thị.[16]