HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
ĐỒNG THỊ HẠNH NGUYÊN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỊCH VỤ
NGÂN HÀNG (NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN TẠI
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN CHI NHÁNH HÀ TÂY)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
HÀ NỘI, THÁNG 11 NĂM 2016
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
ĐỒNG THỊ HẠNH NGUYÊN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỊCH VỤ
NGÂN HÀNG (NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN TẠI
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN CHI NHÁNH HÀ TÂY)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN VĂN SỬ
iii
MỤC LỤC
iv
DANH MỤC VIẾT TẮT
Agribank
CP XDGT
CPĐTPTXD
DTBB
DTBB
HĐTC
HĐTV
HMTD
HND
HPN
HTX
KH
KH
KTKSNB
KTTT
NHL3
NHNN
NHNo
NHNo&PTNT
NHTM
NHTMVN
NXB
QLNN
SXKD
Ngân hàng thương mại Việt Nam
Nhà xuất bản
Quản lư nhà nước
Sản xuất kinh doanh
Tổ chức tín dụng
Trách nhiệm hữu hạn Lvà D
Tài sản bảo đảm
Tài sản đảm bảo
Ủy ban nhân dân
Ủy nhiệm chi
Việt Nam
Việt Nam đồng
Vốn tự có
v
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
BẢNG
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong gần 30 năm qua, hoạt động của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam
(NHTMVN) đã có những đóng góp đáng kể vào quá trình đổi mới và thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. Hoạt động của các NHTM không chỉ tiếp tục khẳng định là một
kênh dẫn vốn quan trọng cho nền kinh tế, mà còn góp phần ổn định sức mua đồng
tiền, cung cấp ngày càng đa dạng phong phú các dịch vụ hiện đại, tiện ích cho cá
nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong nền kinh tế.
lưới rộng khắp trên toàn quốc với 2.300 chi nhánh và phòng giao dịch được kết nối
trực tuyến.
Agribank luôn chú trọng đầu tư đổi mới và ứng dụng công nghệ ngân hàng
phục vụ đắc lực cho công tác quản trị kinh doanh và phát triển màng lưới dịch vụ
ngân hàng tiên tiến.
Tuy nhiên thời gian vừa qua nhiều vụ án gây thất thoát tài sản cho ngân hàng
và khách hàng đang nổi cộm tại Agribank gây ra hậu quả to lớn cho khách hàng,
làm mất uy tín và lòng tin của khách hàng vào sự hoạt động, quản lý của ngân hàng.
Để góp phần thúc đẩy Ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn nói riêng hoạt động an toàn, lành mạnh, làm tốt vai
trò trung gian tài chính, đẩy mạnh huy động nguồn vốn để cung ứng vốn cho nền
kinh tế, cần thiết nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước nói chung,
trong đó có vai trò quản lý, giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
(NHNNVN) đối với hoạt động của các NHTM.
Xuất phát từ các lý do nói trên, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu :
“Quản lý nhà nước đối với dịch vụ ngân hàng (nghiên cứu thực tiễn tại ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây)”.
2. Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến đề tài nghiên cứu đã có những công trình khoa học, các bài
nghiên cứu về hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại nói chung,
NHNo&PTNT Việt Nam nói riêng được công bố, như :
- Chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, NXB Phương Đông.
3
- Báo cáo phân tích, đánh giá thực trạng các sản phẩm dịch vụ hiện đang áp
dụng trong hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam.(2008)
- Đề tài “Hoạt động giám sát của Ngân hàng nhà nước đối với NHTM của
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Đi sâu nghiên cứu, kế thừa, hệ thống hóa những căn cứ lý luận, thực tiễn về
phát triển đa dạng các dịch vụ của NHTM nói chung và dịch vụ tín dụng Agribank
nói riêng.
- Phân tích, đánh giá thực trạng, chỉ ra những mặt được và những hạn chế, yếu
kém trong hoạt động dịch vụ tín dụng tại Agribank chi nhánh Hà Tây.
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
nhà nước đối với dịch vụ tín dụng cho vay đối với Agribank chi nhánh Hà Tây
4. Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá được thực trạng quản lý nhà nước đối với dịch vụ ngân hàng qua
nghiên cứu thực tiễn tại Agribank chi nhánh Hà Tây. Chỉ ra được một số ưu điểm,
hạn chế và nguyên nhân kết quả đạt được.
- Đề xuất được một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý nhà
nước đối với dịch vụ ngân hàng thương mại nói chung và tại Agribank chi nhánh Hà
Tây nói riêng.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu:
Dịch vụ ngân hàng có nội hàm rộng, ngoài những nghiên cứu chung, để phù
hợp với môi trường công tác và khả năng nghiên cứu, không làm mất tính tổng quát,
học viên tập trung vào nghiên cứu dịch vụ tín dụng cho vay tại Ngân hàng nông
nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây.
Chủ thể quản lý nhà nước đối với NHTM rất rộng, bao gồm: Quốc hội, Chính
phủ, NHTW, Bộ Tài chính, Ủy ban chứng khoán nhà nước,... nhằm quản lý, giám
5
sát hoạt động tài chính – tiền tệ, đảm bảo cho thị trường hoạt động được an toàn và
hiệu quả. Trong đó NHTW có vai trò rất quan trọng và là chủ thể tác động trực tiếp
nhất tới hệ thống NHTM nói chung. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài là tại chi
cho vay.
+ Các báo cáo về tình hình tài chính của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Chi Nhánh Hà Tây
Nguồn nội bộ được thu thập từ các báo cáo quý, báo cáo thường niên của bộ
phận tín dụng, giao dịch…
Nguồn dữ liệu thu thập từ bên ngoài: Khách hàng, Nhà cung cấp, Tổ chức tư
vấn, Internet, sách báo.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục sơ đồ, bảng biểu và phụ lục,
luận văn được kết cấu thành ba chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với dịch vụ ngân hàng.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với dịch vụ ngân hàng tại ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Hà Tây.
Chương 3: Định hướngmột số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối
với dịch vụ ngân hàng tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi
nhánh Hà Tây.
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỊCH VỤ
NGÂN HÀNG
1.1 Khái niệm về dịch vụ ngân hàng, phân loại và vai trò
của dịch vụ ngân hàng
1.1.1 Khái niệm về dịch vụ ngân hàng
“Ngân hàng đối với hầu hết chúng ta không phải là một từ ngữ xa lạ. Nó đã
quen thuộc đối với mọi cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế. Ngân hàng là một loại
hình kinh doanh trong nền kinh tế, song nó có vai trò vô cùng quan trọng đối với
chính nền kinh tế. Có người coi ngân hàng cùng với tiền tệ là một trong những phát
dụng; thanh toán và ngân quỹ; và các hoạt động khác. Tuy nhiên, trong nghiên cứu
lý luận và hoạt động thực tiễn ở Việt Nam, đã có những quan điểm khác nhau về
dịch vụ ngân hàng, nhưng chung nhất dịch vụ ngân hàng được quan niệm là những
công việc do ngân hàng thực hiện để tìm kiếm lợi nhuận.
Thực tế vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm và nội hàm dịch vụ
ngân hàng. Có không ít quan điểm cho rằng chỉ những hoạt động không thuộc phạm
vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng theo chức năng của một
trung gian tài chính (huy động tiền gửi, cho vay…) thì mới gọi là dịch vụ ngân hàng
(như dịch vụ môi giới, uỷ thác, tư vấn, chuyển tiền…). Quan niệm này đã “đông
cứng” hoạt động ngân hàng theo nghĩa truyền thống, việc chỉ coi các hoạt động kinh
doanh khác của ngân hàng thuộc về “dịch vụ”, làm cho nó bị coi như “kinh doanh
phụ”, ngoài ngành (trong khi thực tế nhiều hoạt động có thể mang lại hiệu quả khá
cao). Ngược lại có đa số quan điểm xem xét khái niệm dịch vụ ngân hàng dưới góc
độ rộng hơn khi cho rằng lĩnh vực dịch vụ ngân hàng bao hàm tất cả các hoạt động
tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối của hệ thống ngân hàng đối với khách hàng
là doanh nghiệp và cá nhân. Quan niệm này đáp ứng xu hướng hội nhập và đa dạng
hóa sản phẩm được thực tế chấp nhận.
Khi nói lĩnh vực dịch vụ ngân hàng đối với nền kinh tế, các nước đều quan
niệm dịch vụ ngân hàng theo nghĩa rộng. Ở những nước phát triển các ngân hàng
bán lẻ lớn có thể cung cấp đến vài trăm dịch vụ ngân hàng khác nhau cho khách
hàng là cá nhân và doanh nghiệp. Dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển và đa
9
dạng không có giới hạn khi nền kinh tế ngày càng phát triển, khi nhu cầu của con
người ngày càng đa dạng và ngày một nâng cao.
Theo tổ chức thương mại quốc tế (WTO), một dịch vụ tài chính là bất kỳ một
dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung
cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo
thức tiền gửi có kỳ hạn thường cao hơn hình thức tiền gửi không kỳ hạn.
Hiện nay, các Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam đang áp dụng hai hình
thức tiền gửi có kỳ hạn đó là: Tiền gửi có kỳ hạn: 1 tuần, 1 tháng, 2 tháng…đến 36
tháng; và tiền gửi dưới hình thức phát hành kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi.
• Theo mục đích sử dụng: Tiền gửi giao dịch và Tiền gửi tiết kiệm
- Tiền gửi giao dịch hay còn gọi là tiền gửi thanh toán.
- Tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm hiện có hai loại chính sau:
+ Tiền gửi tiết kiệm theo tài khoản có thông tri: tức tiền gửi không có thời gian
đáo hạn mà người gửi tiền khi rút ra phải thông báo trước cho ngân hàng một
khoảng thời gian theo quy định. Tuy nhiên, ngày nay các ngân hàng thường cho
phép các khách hàng rút tiền mà không cần báo trước.
+ Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để tiết
kiệm tích luỹ nhằm mục đích mua nhà, mua xe…Đối với khách hàng gửi tiền theo
hình thức này ngân hàng thường cấp tín dụng để bù đắp phần thiếu hụt khi sử dụng
theo mục đích cùa tiền gửi.
Ở Việt Nam hiện nay các Ngân hàng thương mại cũng áp dụng các hình thức
tiền gửi tiết kiệm hết sức đa dạng như: tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết
kiệm an cư, tiền gửi tiết kiệm tích luỹ thưởng….
1.1.2.2 Tín dụng
Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một
khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho
thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác.
Nghiệp vụ tín dụng bao gồm các loại dịch vụ sau;
* Cho vay
Cho vay là hoạt động sinh lời chủ yếu của ngân hàng, nó là một loại hình tìn
dụng được hiểu như một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay
11
12
1.1.2.3 Dịch vụ thanh toán
Ngân hàng cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.Khi các
doanh nhân gửi tiền vào Ngân hàng, họ nhận thấy Ngân hàng không chỉ bảo quản
mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của họ.Thanh toán qua Ngân hàng
đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiết kiệm không
cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách, khách
hàng mang giấy đến Ngân hàng sẽ nhận được tiền. Hiện nay, các ngân hàng thương
mại cung cấp hai dịch vụ thanh toán sau:
* Thanh toán trong nước
Có rất nhiều phương thức thanh toán qua hệ thống ngân hàng như: Thanh toán
bằng uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, bằng séc, thanh toán qua thẻ, chuyển khoản thanh
khoản định kỳ v.v…
Công cuộc đổi mới công nghệ, hiện đại hoá hoạt động ngân hàng đã dẫn đến
sự ra đời của hàng loạt các dịch vụ ngân hàng hiện đại và tiện ích như: Mobile
banking, Home banking, Internet banking, Phone banking v.v…Việc ứng dụng các
dịch vụ ngân hàng điện tử trong hoạt động kinh doanh hiện nay của các Ngân hàng
thương mại là một lợi thế cạnh tranh. Có thể nói, các dịch vụ ngân hàng điện tử ra
đời càng làm tăng thêm nhiều tiện ích cho các hoạt động thanh toán qua ngân hàng
và đây một trong những yếu tố quan trọng quyết định trong xu hướng phát triển
dịch vụ ngân hàng bán lẻ trong tương lai.
* Thanh toán quốc tế
Quan hệ thanh toán quốc tế được tiến hành thông qua các phương thức chính
như: phương thức chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng bộ chứng từ.
- Chuyển tiền là phương thức thanh toán đơn giản nhất trong thanh toán quốc
tế, trong đó một khách hàng (người mua hàng, người nhập khẩu v.v…) yêu cầu
ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người
bán, người xuất khẩu, người cung ứng dịch vụ v.v…) ở một địa điểm nhất định.
được lưu trữ các chi tiết tài chính cá nhân của người cầm thẻ. Các ngân hàng khác
nhau thì vận hành các loại máy khác nhau. Khi đưa thẻ vào máy, hành động này kết
nối máy ATM với máy tính của Ngân hàng. Thông qua thông tin lưu trữ trên dải từ
tính của thẻ, máy tính có thẻ tra cứu tài khoản của khách hàng. Máy rút tiền sau đó
có thể đưa ra số tiềnmặt mà người cầm thẻ muốn rút với một giới hạn nào đó, chỉ có
14
chủ thẻ mới biết số dư trong tài khoản của mình, giúp chủ thẻ đặt sổ séc hay một
lệnh thanh toán chuyển khoản với điều kiện phải chi tiết về Ngân hàng của người
được thanh toán.
Trong một số trường hợp, giữa các Ngân hàng có sự hợp tác với nhau, theo đó
một thẻ ATM của Ngân hàng này có thẻ được dùng với máy rút tiền của Ngân hàng
khác trong khi vẫn có thể ghi nợ vào đúng tài khoản.
* Kinh doanh ngoại tệ
Khi thực hiện việc mua bán ngoại tệ ngân hàng sẽ nhận được một khoản phí
dịch vụ. Trong thị trường tài chính phát triển, hoạt động này đã phát triển với các
giao dịch phức tạp hơn: swap, giao ngay, tương lai, quyền chọn, kỳ hạn…và với
khối lượng lớn vì thế hoạt động này thường chỉ do các ngân hàng lớn thực hiện bởi
những giao dịch này có độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình độ nghiệp vụ
chuyên môn cao. Các ngân hàng nhỏ chỉ thực hiện các giao dịch nhỏ cho cá nhân.
* Dịch vụ ngân hàng tại gia
Trong khi ATM cung cấp dịch vụ Ngân hàng điện tử thì ngân hàng tại gia lại
mạng đến lợi ích khác. Sử dụng hệ thống này, một người có tài khoản có thể hoặc gửi
thông tin vào máy tính của ngân hàng qua điện thoại hoặc nối 1 chiếc ti vi hay man
hình tại nhà với máy tính của ngân hàng qua điện thoại. Theo cách này, các giao dịch
ngân hàngcó thể thực hiện 24/24h, suốt 7 ngày trong tuần. Thông thường thì các chủ tài
khoản vãng lai, tài khoản tiền gửi, tài khoản ngân quỹ và tài khoản đa năng có thể được
sử dụng dịch vụ này. Để phòng chống việc sử dụng không được phép, mỗi chủ tài
liên tục trong đầu tư. Đối với khách hàng là doanh nghiệp, ngân hàng có những
chính sách quản lý đầu tư đặc biệt riêng.
* Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm
Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó
đảm bảo cho việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, bị tàn phế hay gặp
rủi ro trong hoạt động kinh doanh, mất khả năng thanh toán.
Những nghiệp vụ trên là những nghiệp vụ cơ bản của các ngân hàng bên cạnh
các ngân hàng đó các ngân hàng còn có các nghiệp vụ khác: dịch vụ uỷ thác đầu tư
dịch vụ bảo hiểm, dịch tư vấn tài chính, môi giới chứng khoán, cho thuê két, bảo
quản vật có giá…
16
1.1.3 Vai trò của dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tê
Tới nay, nhiều nghiên cứu đã đánh giá cao vai trò của dịch vụ ngân hàng, cụ thể:
Đối với nền kinh tế, ngân hàng cung cấp các dịch vụ thanh toán giúp hoạt
động kinh tế trở nên thuận lợi, nhanh chóng và an toàn hơn, đồng thời hạn chế lưu
thông tiền mặt trong nền kinh tế, giúp giảm đáng kể chi phí in ấn, vận chuyển, bảo
quản. Hoạt động ngân hàng thúc đẩy huy động tối đa nguồn lực tiền tệ trong cộng
đồng để phục vụ đầu tư phát triển kinh tế. Có thể nói hoạt động ngân hàng tác động
trực tiếp hoặc gián tiếp tới hầu hết các khía cạnh của nền kinh tế.
Đối với ngân hàng thương mại: Dịch vụ ngân hàng mang lại lợi nhuận cho
ngân hàng thông qua thu phí dịch vụ. Đây là nguồn thu ổn định và an toàn của ngân
hàng. Đa dạng các loại hình dịch vụ giúp ngân hàng hạn chế rủi ro, đa dạng hóa
nguồn thu. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc đa dạng và phát triển
các dịch vụ ngân hàng sẽ đem lại ưu thế vượt trội, nâng cao khả năng cạnh tranh của
ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng hiện đại, phong phú, đáp ứng tối đa nhu cầu của
khách hàng sẽ thu hút được khách hàng đến với mình.
1.2 Quản lý nhà nước đối với dịch vụ ngân hàng
để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Quản lýnhà nước có thể phân
thành: Quản lý nhà nước trung ương và quản lý nhà nước địa phương.
Quản lý nhà nước trung ương là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền
của cơ quan quản lý cấp trung ương lên các mặt đời sống xã hội của đất nước nhằm
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đề ra. Đây là quản lý
mang tính quyền lực cao nhất, làm cơ sở cho quản lý nhà nước địa phương thực
hiện theo.
Quản lý nhà nước địa phương là quá trình chính quyền địa phương triển khai thực
hiện các quy định do cơ quan quản lý cấp trung ương ban hành, đồng thời ban hành các
văn bản quy định về cơ chế chính sách liên quan đến hoạt động cần quản lý theo thẩm
quyền sao cho phù hợp tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
1.2.2 Khái niệm và sự cần thiêt quản lý nhà nước đối với dịch vụ ngân hàng
1.2.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với dịch vụ ngân hàng:
Xuất phát từ việc tìm hiểu khái niệm về quản lý, quản lý nhà nước, ta có khái
niệm quản lý nhà nước về dịch vụ ngân hàng như sau:
18
Quản lý nhà nước đối với dịch vụ ngân hàng là quá trình tác động và điều
chỉnh của nhà nước đến hoạt động dịch vụ ngân hàng nhằm làm cho hoạt động dịch
vụ ngân hàng được hình thành và hoạt động đúng pháp luật nhà nước, phù hợp
thông lệ quốc tế thúc đẩy dịch vụ tại các ngân hàng thương mại phát triển an toàn và
hiệu quả, phù hợp với chính sách tiền tệ quốc gia, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của
các chủ thể khi tham gia dịch vụ ngân hàng.
1.2.3 Mục tiêu, yêu cầu, công cụ, phương pháp quản lý nhà nước đối với
dịch vụ ngân hàng
1.2.3.1 Mục tiêu cơ bản của quản lý nhà nước đối với dịch vụ ngân hàng của
các ngân hàng thương mại bao gồm
- Nhà nước định hướng phát triển cho hoạt động của NHTM nói chung và dịch