TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
ĐỖ THỊ PHƯƠNG THẢO
GIÁ TRỊ THƠ VỊNH SỬ
TRONG HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP
CỦA LÊ THÁNH TÔNG VÀ HỘI TAO ĐÀN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
Th.S. An Thị Thuý
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận này, tôi đã nhận được sự hướng
dẫn nhiệt tình của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn – trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Văn học Việt Nam và ThS.
An Thị Thúy là người hướng dẫn trực tiếp.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến các
thầy cô!
Hà Nội, ngày 10 tháng 04 năm 2017
Tác giả khóa luận
Đỗ Thị Phương Thảo
TRONG HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP .................................................. 18
2.1. Thống kê và phân loại .............................................................................. 18
2.2. Thơ vịnh sử trong Hồng Đức quốc âm thi tập nhìn từ phương diện nội
dung ............................................................................................................... 19
2.2.1. Thơ vịnh về các nhân vật lịch sử ........................................................... 19
2.2.2. Thơ vịnh về các nhân vật truyền thuyết ................................................ 30
2.2.3. Thơ vịnh về di tích lịch sử ..................................................................... 39
2.3. Thơ vịnh sử trong Hồng Đức quốc âm thi tập nhìn từ phương diện nghệ
thuật. ............................................................................................................... 42
2.3.1. Thể thơ.................................................................................................. 42
2.3.2. Giọng điệu ............................................................................................. 46
2.3.3 Sử dụng điển tích, điển cố ...................................................................... 48
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thời đại Hồng Đức không những đánh dấu một giai đoạn cực thịnh trong
xã hội phong kiến Việt Nam mà còn ghi lại một mốc lớn trên con đường phát
triển của lịch sử văn học dân tộc với sự ra đời của tập thơ Hồng Đức quốc âm
thi tập. Tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập do những nhân sĩ của hội Tao Đàn
sáng tác dưới sự chủ xướng của vua Lê Thánh Tông. Tuy sáng tác còn nặng
lối cung đình tuy nhiên tập thơ đã đem đến cho văn học những vần thơ hết sức
thi vị. Có thể thấy ở tập thơ này, về mặt nội dung rất phong phú, có sự kế thừa
và tiếp thu những tinh hoa nghệ thuật của thơ Nôm trước đó.
Từ trước đến nay đã có nhiều độc giả đón nhận và khai thác tập thơ
Hồng Đức quốc âm thi tập không chỉ để hiểu rõ cái hay về nội dung và nghệ
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hồng Đức quốc âm thi tập là tập thơ lớn của Lê Thánh Tông và hội Tao
Đàn ở thế kỉ thứ XV. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tập thơ nổi
tiếng này. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu đều dừng lại ở việc phân tích
khái quát tập thơ, chứ chưa đi vào từng khía cạnh cụ thể. Riêng với đề tài
“Giá trị thơ vịnh sử trong Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông
và hội Tao Đàn” thì ít tác giả đề cập đến, nếu có thì các tác giả cũng chỉ nói
một cách chung chung mà chưa nói đến những giá trị cụ thể của thơ vịnh sử
được thể hiện trong tập thơ.
Trong lời giới thiệu về tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập của tác giả
Phạm Trọng Điền và tác giả Bùi Văn Nguyên (phiên âm – chú giải – giới
thiệu) có viết “ nếu như tình thơ của tác giả chan chứa trước cảnh trí thiên
nhiên trong mục (Thiên đạo môn), thì tình thơ của tác giả cũng tha thiết đối
với vận mệnh đất nước, cũng tràn đầy tự hào dân tộc trong mục ( Nhân đạo
môn ), và các mục khác …. Nhưng đọc những vần thơ vịnh sử ta mới thấy ý
2
kiến trên được diễn ra đầy đủ hơn…” [3, tr21]. Song những ý kiến này chỉ
dừng lại ở những nhận xét ban đầu chưa đi vào vấn đề cụ thể.
Trong cuốn Văn học trung đại Việt Nam (tập 1) của tác giả Nuyễn Đăng
Na (chủ biên), Lã Nhâm Thìn – Định Thị Khang đã phân tích những nội dung
cơ bản về nội dung và nghệ thuật của tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập.
Trong giáo trình này, các tác giả đã đề cập đến thơ vịnh sử trong Hồng Đức
quốc âm thi tập “ Lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc còn thể hiện qua mảng
thơ viết về đề tài lịch sử. Có thể nói đây là một trong những mảng thơ đặc sắc
nhất của Hồng Đức quốc âm thi tập” [7, tr153] .Tuy nhiên, việc nghiên cứu
chỉ dừng lại ở việc khảo sát chứ chưa thực sự đi sâu phân tích cụ thể giá trị
của thơ vịnh sử trong tập thơ.
Việt Nam, đặc biệt là trong tập thơ Hồng đức quốc âm thi tập.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nêu được những nét khái quát nhất về thơ vịnh sử trong văn học trung
đại.
- Thấy được giá trị của thơ vịnh sử trong Hồng Đức quốc âm thi tập trên
cả hai phương diện nôi dung và nghệ thuật.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Với khuôn khổ của một khóa luận và khả năng làm chủ tư liệu có hạn,
đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những bài thơ viết về những nhân vật
và sự kiện lịch sử trong cuốn Hồng đức quốc âm thi tập do tác giả Phạm
Trọng Điền và Bùi Văn Nguyên phiêm âm, chú giải và giới thiệu.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn phạm vi nghiên cứu của khóa luận là chỉ tập trung nghiên cứu
một khía cạnh của tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập, cụ thể là “giá trị của
thơ vịnh sử” được thể hiện trong tập thơ.
4
5. Phương pháp nghiên cứu
Để khai thác để khai thác được đề tài này, chúng tôi sử dụng một số
phương pháp chính sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích, bình giảng
- Phương pháp đối chiếu, so sánh
- Phương pháp tổng hợp
6. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung
của khóa luận gồm hai chương chính.
3.
Ngô Luân, (Tam Sơn - Từ Sơn - Bắc Ninh), Đông các hiệu thư.
4.
Ngô Hoán, (Tượng Đáp - Nam Sách - Hai Dương), Đông các hiệu thư
5.
Lưu Hưng Hiếu, (Hà Lương - Quảng Hóa - Hưng Hóa), Hàn lâm viện thị
độc tham trưởng viện sự.
6.
Nguyễn Xung Xác, (Kim Đôi - Võ Giàng - Bắc Ninh), Hàn lâm viện thi
độc tham trưởng viện sự.
7.
Nguyễn Quang Bật (Bình Ngô - Gia Bình - Bắc Ninh), Hàn lâm viện thị
thư.
6
8.
Nguyễn Đức Huấn, (Yên Định - Chí Linh - Hải Dương), Hàn lâm viện
7
26. Lưu Dịch, (Lãi Xuyên - Kim Thành - Hải Dương), Hàn lâm viện kiểm
thảo.
27. Đàm Nhuận Huy, (Hương Mặc - Từ Sơn - Bắc Ninh), Hàn lâm viện
kiểm thảo.
28. Phạm Đạo Phú, (Nghĩa Hưng - Sơn Nam - Nam Định), Hàn lâm viện
kiểm thảo.
29. Chu Huân, (Ngọc Đô - Võ Giàng - Bắc Ninh), Hàn lâm viện kiểm thảo.
Theo sách Thoái thực kí văn còn có thêm hai người nữa gọi là sái phu:
Lương Thế Vinh (Cao Hưng - Nghĩa Hưng - Nam Định) và Thái Thuận (Liễu
Lâm - Thuận Thàn - Bắc Ninh).
Hội viên Tao Đàn thường làm thơ chữ Hán, hoặc quốc âm để xướng họa
cùng nhau, hay nói dùng hơn là họa những bài xướng của Lê Thánh Tông.
Lê Thánh Tông là người đứng đầu hội Tao Đàn và là người đứng ra
thành lập hội.
Lê Thánh Tông sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442), mất ngày
30/1 năm Đinh Tỵ (1497), có tên là Tư Thành, là con trai út của vua Thái
Tông. Thân Mẫu là bà Ngô Thị Ngọc Dao con gái của Thái Bảo Ngô Từ, một
trong những công thần khai quốc nhà Lê, người làng Động Bàng, huyện Yên
Định (Thanh Hóa). Vua Lê Thánh Tông là vị vua không chỉ có tài trị quốc mà
còn là vị vua có tâm hồn thi sĩ, học sĩ Đào Cử đã nói về Lê Thánh Tông một
cách hết sức tôn kính như sau: “Từ khi đức vua lên ngôi, trong ngoài đều
phục, mưa nắng thuận hòa , dân yên, vật thịnh. Trong khi nhàn rỗi nhà vua
thường bỏ hết thú vui như đàn hát, săn bắn, khiến cho sạch lòng, dục ít. Như
cây ngay từ gốc, nước trong từ nguồn…, biểu hiện ở lời ngâm vịnh. Ngài chỉ
phóng bút một lúc chín bài xong ngay. Trước thì vịnh thời tiết thuận năm
được mùa …. Nghĩa lý thật cao xa, lời lẽ thật mạnh mẽ, thiện ý khuyên răn,
giờ. Đây cũng chính là tiền đề quan trọng cho sự phục hưng văn hóa, văn học
thế kỉ thứ XV nói chung và nửa sau thế kỉ thứ XV nói riêng.
9
Công cuộc phục hưng văn hóa thế kỉ thứ XV xuất phát xuất phát từ hoàn
cảnh lịch sử những năm đầu thế kỉ. Có thể khẳng định: công cuộc phục hưng
văn hóa thời Hậu Lê được tiến hành đồng bộ qua cánh ứng xử với văn hóa vật
chất, chú ý nâng cao văn hóa – tổ chức đời sống xã hội và phát triển mạnh văn
hóa giáo dục. Bên cạnh đó, sự phát triển của Nho giáo đã đồng thời khích lệ
sự phát triển của văn hóa, văn học… Môi trường xã hội ấy là những tiền đề
quan trọng cho việc phát triển một nền văn hóa, văn học rực rỡ. Vì thế văn
học nửa sau thế kỉ thứ XV đã kế tục xuất sắc những thành tựu văn học của
thời đại Lý – Trần, văn học nửa đầu thế kỉ tiếp nối và phát triển dòng thơ
Nôm Đường luật với một đội ngũ sáng tác đông đảo, đứng đầu là Lê Thánh
Tông. Hồng Đức quốc âm thi tập đã ra đời trong không khí xã hội ấy.
Không chỉ có vậy, sự ra đời của Hồng Đức quốc âm thi tập còn chịu ảnh
hưởng sâu sắc của dòng văn học chữ Nôm trước đó. Đặc biệt là tập Quốc âm
thi tập của Nguyễn Trãi.
Có thể khẳng định rằng, Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi là một cột
mốc lớn, ở vị trí hàng đầu của chặng đường phát triển tiếng Việt, là tiền đề
quan trọng cho sự ra đời của Hồng Đức quốc âm thi tập, tạo nên một thời đại
thơ Nôm phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử văn học tiếng Việt thời trung đại.
Đặc biệt, tháng 11 năm Ất Mão (1495) nhân gặp tiết trời thuận hòa, mùa
màng tươi tốt, mọi việc nhàn rỗi, Lê Thánh Tông sáng tác chín khúc ca làm
thành Quỳnh uyển cửu ca, tự soạn bài tựa, tự xưng là Tao đàn nguyên súy,
chọn hai mươi tám văn thần, phong làm Tao đàn nhị thập bát cú, và truyền
họa lại đúng vần chín khúc Quỳnh Uyển cửu ca nói trên. Sự ra đời của hội
Tao đàn chính là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự ra đời của Hồng
Nhân đạo môn, gồm 46 bài.
3.
Phong cảnh môn, gồm 66 bài.
4.
Phẩm vật môn, gồm 69 bài.
5.
Nhàn ngâm chư phẩm, gồm 83 bài.
Hồng đức quốc âm thi tập cũng là một tập thơ nhiều tác giả, cho nên nội
dung cũng như nghệ thuật có nhiều hình, nhiều vẻ và khi nhận định không thể
đánh đồng nhất loạt được. Bên cạnh mặt hạn chế thì tập thơ cũng thể hiện
được những mặt tích cực và khả thủ về nội dung cũng như về hình thức ngôn
11
ngữ văn học. Đồng thời tập thơ cũng phản ánh được một số vấn đề thuộc lĩnh
vực đời sống của dân tộc trong thời bấy giờ…
1.2. Thơ vịnh sử
1.2.1. Khái niệm thơ vịnh sử
Theo Từ điển thuật ngữ văn học “ Thơ vịnh sử là thơ ca vịnh sự kiện và
nhân vật lịch sử. Bài thơ vịnh sử nổi tiếng đầu tiên trong lịch sử văn học
Trung Quốc là của Ban Cổ đời Hán, viết về sự tích nàng Đề Oanh xin chịu tội
2-
Sách sử (dã sử và chính sử), ghi chép lịch sử dân tộc, lịch sử Trung
Quốc (Bắc sử và Nam sử).
12
Dựa vào những bình diện khác nhau trong khai thác chất liệu lịch sử,
người ta chia thơ vịnh sử ra làm nhiều loại: vịnh nhân vật lịch sử, sự kiện lịch
sử… (đối với thơ vịnh nhân vật các tác giả chia làm nhiều loại nhân vật, thí
dụ Đặng Minh Khiêm trong Thoát Hiên thi tập phân thành danh thân; danh
nho; danh tướng; nữ chúa…) có khi ở dạng vịnh đền miếu, chùa quán nhưng
tính chất vịnh sử thường thể hiện rõ ở loại vịnh nhân vật, các tác giả cũng
thiên về vịnh nhân vật.
Vì là thơ vịnh nên có những đặc điểm khác thơ ca bình thường. Thơ vịnh
luôn biểu lộ thái độ, tình cảm của người làm thơ trước đối tượng được đưa ra
làm khách thể. Có thể nói, thơ vịnh sử là những áng văn chương nhằm xác định
giá trị của nhân vật hoặc sự kiện lịch sử, dưới góc độ một lý tưởng nào đó.
Người làm thơ vịnh sử có thể bộc lộ thái độ khen chê, tán thưởng hay
phê phán, tự hào, khâm phục… trước sự liện lịch sử, trước nhân vật được
nhắc tới tùy theo góc nhìn nhận.
Việc thống kê và phân tích thơ vịnh sử trong Hồng Đức quốc âm thi tập
sẽ cụ thể hóa khái niệm thơ vịnh sử của một thời kì.
1.2.2. Thơ vịnh sử trước và sau Hồng Đức quốc âm thi tập
1.2.2.1. Thơ vịnh sử trước Hồng Đức quốc âm thi tập
Dòng văn học Việt Nam được hình thành cùng với sự ra đời của quốc gia
phong kiến độc lập đầu tiên đứng đầu là vua Lý Thái Tổ (thế kỷ thứ X). Từ
thời Lý, bên cạnh loại văn học chính luận (hịch, chiếu, biểu)… đã có văn học
Trần Minh Tông)… hoặc những địa danh liên quan tới truyền thuyết như Tản
Viên Sơn, Vọng Phu Thạch…..
Đầu thế kỉ thứ XV, Lý Tử Thần có bài ca Pháp vân cổ tự kí kể về truyền
thuyết Nam Vương được coi là bài thơ vịnh sử (theo Lê Quý Đôn), Nguyễn
Trãi cũng có một số bài thơ bằng chữ Hán vịnh di tích lịch sử như Vân Đồn,
Bạch Đằng Giang, Đề Kiếm… số lượng các bài thơ là quan trọng nhưng quan
trọng hơn là ý thức của các tác giả trong sáng tác theo một “kiểu thơ” lấy đề
14
tài trong lịch sử, nó không bó hẹp ở các dạng viếng, tặng một cách trực tiếp
mà vịnh cả nhân vật xa xưa được sử sách ghi chép lưu truyền (thơ Trần Anh
Tông).
Điểm qua một số thành tựu của văn học trước Hồng Đức quốc âm thi tập
để có thể thấy rằng: xu hướng tái hiện sự kiện lịch sử của văn học bằng những
hình thức nhất định đã được hình thành từ trước thế kỉ thứ XV thời điểm ra
đời của Hồng Đức quốc âm thi tập, lịch sử (qua nhân vật lịch sử) và sự kiện
lịch sử trở thành đối tượng (đề tài) của thơ ca.
1.2.2.2. Thơ vịnh sử sau Hồng Đức quốc âm thi tập
Từ sau thế kỉ thứ XV, thơ vịnh sử đã phát triển mạnh. Bên cạnh những
bài thơ vịnh nhân vật Bắc sử còn chú trọng cả nhân vật Nam sử, nhưng từ sau
thế kỉ thứ XV, thơ vịnh sử phát triển là một biểu hiện khuynh hướng cảm thán
thời thế của các nhân sĩ trước thực trạng xã hội phong kiến suy vi, thơ vịnh sử
tiếp tục chủ nghĩa yêu nước trong văn học ở loại đề tài lịch sử. Sự phát triển
của thơ vịnh sử được đánh dấu bằng:
Thứ nhất, là những bài thơ vịnh sử có tính chất hệ thống, chuyên đề.
Ngay cùng thời với Hồng Đức quốc âm thi tập, Lê Thánh Tông bên cạnh việc
khuyến khích các văn thần xướng họa, vịnh nhân vật lịch sử, các sử gia sưu
tập sự tích chuyện dân gian để viết bộ sử nước nhà, ông còn sáng tác tập thơ
lớn của thể loại lịch sử - văn học không phải ở trữ lượng sự kiện lịch sử được
phản ánh mà đáng kể nhất là ngôn ngữ Nôm tiếp tục phát huy được vai trò
của nó trong việc tái hiện lịch sử. Thơ vịnh sử Nôm bắt đầu từ Hồng Đức
quốc âm thi tập nhưng đến thế kỉ thứ XVII các nhà thơ ít sử dụng chữ Nôm
trong thơ vịnh sử (phần lớn các bài thơ vịnh sử được viết bằng chữ Hán).
Tiếp sau Thiên Nam ngữ lục nửa cuối thế kỉ XVII, tập diễn ca lịch sử
Thiên Nam minh giám ra đời với 936 câu thơ song thất lục bát tái hiện lịch sử
dân tộc. Không phải ngẫu nhiên mà bên cạnh những bộ sử kí (chính sử) đồ sộ
lại có những truyện thơ về lịch sử, truyện thơ lịch sử (diễn ca lịch sử) không
16
những tái hiện lịch sử mà còn tái tạo lịch sử bằng hình tượng lịch sử. Nó cung
cấp không chỉ những cứ liệu lịch sử mà còn đem đến những rung cảm thẩm
mỹ đối với nhân vật và sự kiện lịch sử, diễn ca lịch sử tạo ra con đường riêng
của nghệ thuật đối với chức năng nhận thức lịch sử và phản ánh lịch sử.
Thứ ba, vào thế kỉ thứ XVIII các tác giả tiếp tục sáng tác thơ vịnh sử.
Nguyễn Du trong Bắc hành tạp lục đã vịnh các nhân vật Bắc sử (Hàn Tín,
Tào Tháo, Dương Quý Phi, Đỗ Phủ..). Thơ vịnh sử của Nguyễn Du thể hiện
cái nhìn nhân đạo của ông. Ông thường chú ý “vịnh” số phận bi kịch của con
người hơn là những phẩm chất anh hùng. So với thơ vịnh sử của các tác giả
khác cùng thời thì thơ vịnh sử của Nguyễn Du có bản sắc riêng. Cuối thế kỉ
thứ XVIII, Cao Bá Quát viết khá nhiều thơ vịnh nhân vật Bắc sử và Nam sử.
Thơ vịnh sử là nơi ông gửi gắm ý chí, phẩm cách cao khiết của mình. Thơ
vịnh sử không chỉ phản ánh lịch sử mà còn là sự thể hiện mình đối với các tác
giả từ sau Hồng Đức quốc âm thi tập thơ vịnh sử mang cảm xúc cá nhân rõ rệt
hơn. Đó cũng là sự phát triển của thơ vịnh sử qua tài năng sáng tạo của các tác
gia văn học viết.
Như vậy, cùng với sự phát triển của văn học viết, thơ vịnh sử sau Hồng
Việt
Trung
Nam
Quốc
1
Ngưu Lang Chức Nữ
3 bài
x
x
2
Thánh Gióng
1 bài
x
x
3
Chử Đồng Tử
1 bài
x
x
7
Lê Du
1 bài
x
x
8
Lương Thế Vinh
1 bài
x
x
9
Nguyễn Trực
1 bài
x
18
x
13
Vương Chiêu
Quân
3 bài
14
Tô Vũ
2 bài
x
x
15
Khổng Tử
3 bài
1 bài
x
x
19
Tào Tháo
1 bài
x
x
20
Điêu Thuyền
1 bài
x
x
21
Hán Cao Tổ
1 bài
x
x
25
Hàn Tín
1 bài
x
x
26
Mẹ Vương Bằng
1 bài
x
x
x
2.1.2. Vịnh về địa danh lịch sử
1. Bạch Đằng giang
xương máu của các thế hệ trước. Vịnh những nhân vật lịch sử Việt Nam (gắn
nhân vật với sự kiện lịch sử) chính là “nỗi niềm ưu ái”, sự trân trọng quá khứ
dân tộc của các tác giả thời Hồng Đức.
Nếu như các bài thơ vịnh nhân vật lịch sử Trung Quốc thể hiện khá rõ
tính khuôn mẫu, điền phạm của văn chương nhà Nho (sùng bái cổ nhân với
20