hệ thống chủ đề trong Bạch Vân Quốc
Ngữ Thi Tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Bàn cờ, cuộc rượu vầy hoa trúc,
Bó củi cần câu trốn nước non
Nhàn được thú vui hay mấy nả,
Bữa nhiều muối bể chứa tươi ngon.
(Bài số 32)
Ngoài những lúc nhàn dật bầu bạn với thiên nhiên, những thú chơi tao
nhã, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất quan tâm đến cuộc sống thường nhật của
người dân quê. Ông sống hòa mình với làng quê, với nếp sinh hoạt của
họ. Những ngày sống ẩn dật là những ngày vui vẻ thư thái của nhà thơ.
Nhưng Ông vẫn luôn quan tâm đến việc chính sự và sẵn sàng tham dự
vào công việc chính sự nếu thời cuộc cần đến. Đây chính là một nét rất
riêng của ẩn sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Dù đi ở ẩn nhưng ông không
ngoảnh mặt lại với cuộc đời, vẫn rất quan tâm và sẵn sàng làm mọi thứ
nếu “đời” cần đến. Chỉ cần không phải lao vào vòng danh lợi, không làm
hoen ố thanh danh của một nhà nho chí sĩ thì ông sẵn sàng làm mọi thứ
để giúp ích cho đời. Với nhân cách và phẩm chất cao đẹp của mình,
Nguyễn Bỉnh Khiêm xứng đáng là bậc cao sĩ muôn đời được ca tụng.
Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà văn hoá lớn, nhà thơ triết lý,bậc cao sĩ, nhà
hiền triết thông kim bác cổ, tài danh lỗi lạc "tác giả lớn của văn học thế
kỷ XVI và của cả giai đoạn văn học thế kỷ XVI, XVII và nửa đầu thế kỷ
XVIII" (Từ điển Văn học Việt Nam). Ông đã để lại tập thơ chữ Nôm
"Bạch Vân Quốc ngữ thi tập" "có cả ngàn bài" theo lời "Bài tựa" của
chính ông, và nhiều bài thơ chữ Hán. Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm đề
cập đến nhiều vấn đề hiện thực xã hội, là tiếng nói về đạo lý ở đời. Vũ
Khâm Lân đã khen "văn chương của tiên sinh thường bộc lộ cái tấc dạ
ưu thời mẫn thế, không cần điêu luyện mà tự nhiên, giản dị mà lưu loát,
thanh đạm mà ý vị, câu câu đều có ngụ ý răn đời" "ý nghĩa thanh cao mà
siêu thoát", Phan Huy Chú thì cho rằng đọc qua thơ ông, dù nghìn năm
Nôm, nay còn sót lại 177 bài). Thơ ông giàu chất liệu hiện thực, mang
tính triết lý sâu xa của thời cuộc. Ông phê phán gay gắt bọn tham quan ô
lại hút máu, hút mủ của dân. Thơ ông còn truyền đạt cho đời một đạo lý
đối nhân xử thế và triết lý sâu xa, thể hiện đạo lý đối nhân xử thế lấy đức
bao trùm lên tất cả, mục đích để răn dạy đời. Như: đạo vua tôi, cha con
và quan hệ bầu bạn, hàng xóm láng giềng. Đọc thơ ông ta thấy cả một
tấm lòng lo cho nước, thương đời, thương dân, và một tâm hồn suốt đời
da diết với đạo lý: "Tiên thiên hạ chi ưu phi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi
lạc" (lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ). Điều đó
thể hiện rất rõ ở trong tập thơ Bạch Vân quốc ngữ thi tập. Bạch Vân
quốc ngữ thi tập là tập thơ được viết bằng chữ nôm hiện nay còn sót lại
177 bài viết theo thể Đường luật, xen một số bài trường thiên cổ thể, một
số bài kí văn và văn tế. Tập thơ được viết theo quan niệm "thi ngôn chí";
"chí" ở đây là "sự nhàn dật", là quan niệm "hành tàng", "xuất xử", là tấm
lòng ưu thời mẫn thế của nhà thơ. Đề tài chủ yếu là vịnh thiên nhiên,
vịnh sự vật, nói đạo lí, cũng có bài lấy đề tài xã hội, ghi thoáng qua hành
trạng nhà thơ, hoặc trực tiếp thể hiện thái độ của nhà thơ trước hiện thực
của một xã hội đầy biến động. Nhà thơ thường nhìn đời một cách bình
thản, có tình nghĩa; thông cảm với nỗi khổ của dân, phê phán những tệ
lậu của chế độ phong kiến; mỉa mai, trào phúng thói đời đảo điên, đen
bạc; khuyên răn người đời. Thơ sử dụng nhiều ám dụ triết lí, đạo đức,
chính trị; nội dung có phần khô khan, ước lệ nhưng âm hưởng chung là
giản dị, lời lẽ trong thơ gần gũi với lối nói của nhân dân. Chứng tỏ ông
là người sống cạnh nhân dân hiểu những phong tục tập quán của nhân
dân và là một người đôn hậu, chứa chan tình cảm chân thành.
Trong tập thơ Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy
ông không đề tên tiêu đề cho mỗi bài thơ nhưng tài năng thiên phú về
nghệ thuật làm thơ với lối nói khẩu ngữ bình dị, tự nhiên, cách nói ẩn ý
sâu sắc, biểu trưng hoá đối tượng miêu tả thì hầu hết tất cả các bài thơ
này đều thể hiện rất rõ các chủ đề, cảm xúc mà ông muốn gửi gắm vào
Nguyễn Bỉnh Khiêm là người tiêu biểu của khuynh hướng ẩn dật trong
các thế kỷ XVI, XVII. Đọc lại thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, chúng ta
thấy đúng là có nhiều bài ca ngợi cuộc sống nhàn tản trong cảnh trăng
thanh gió mát, với bầu rượu túi thơ, còn “ sự đời mặc ai trái, ai phải
chẳng nói đến làm gì”. Khuynh hướng ấy được thể hiện rất rõ nét trong
tập “Bạch vân quốc ngữ thi tập” của tác giả.
Triết lý nhàn dật đã có một lịch sử khá lâu đời, xuất hiện đầu tiên ở
Trung Quốc và trở thành một kiểu ứng xử của các nhà Nho không thỏa
mãn với hiện thực. Có thể họ bất mãn với thể chế chính trị, chán ghét xã
hội đầy rẫy sự xấu xa giả dối; cũng có thể họ mang trong mình một khát
vọng sống riêng biệt, không màng tới công danh phú quý, cho nên họ
chọn cách sống cô đơn, khép kín để được thanh nhàn, để giữ gìn sự
trong sạch của tâm hồn. Những tên tuổi như: Bá Di, Thúc Tề, Đào
Tiềm…là những nhân vật tiêu biểu cho triết lí nhàn dật theo kiểu “lánh
đục về trong”. Nền văn hóa nước ta chịu ảnh hưởng lớn của văn hóa
Trung Hoa. Suốt thời kỳ trung đại, chúng ta không chỉ chịu sự tác động
mạnh mẽ của những tư tưởng chính thống Nho giáo mà còn có sự du
nhập các quan niệm hành xử của Nho sĩ Trung Hoa trước sự thay đổi
của thời cuộc. Từ đó, đưa đến một hệ quả, tầng lớp Nho sĩ Việt thường
có hai kiểu ứng xử cơ bản: một loại Nho sĩ hành đạo, tích cực hoạt động
để thay đổi chính sự; một loại Nho sĩ chọn con đường ẩn dật, cao đạo,
giữ gìn danh tiết. Thế kỷ XVI, với sự thăng trầm của đời sống chính trị,
chế độ phong kiến Việt Nam bước vào thời kỳ suy thoái, giai cấp phong
kiến không còn tác dụng tích cực đối với lịch sử dân tộc, các mâu thuẫn
xã hội ngày càng bộc lộ rõ, cùng với nó là sự bất lực của nhà nước
phong kiến. Đặc điểm thời đại đó tác động mạnh vào tầng lớp nho sĩ trí
thức đương thời, đặt họ trước những trăn trở lựa chọn dữ dội của nhân
cách, lối sống. Điều này chi phối và tạo nên diện mạo riêng, phong phú,
đa dạng và phức tạp của thơ văn thế kỷ XVI. Là nhà thơ lớn của giai
đoạn này, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại một sự nghiệp văn chương tiêu