Nghiên cứu tính an toàn và hiệu quả giải độc của pháp “gđ 103” trên người phơi nhiễm chất da cam dioxin (tt) - Pdf 44

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ QUỐC PHÒNG

VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN QUÂN ĐỘI

DƯƠNG QUANG HIẾN

NGHIÊN CỨU TÍNH AN TOÀN VÀ HIỆU QUẢ
GIẢI ĐỘC CỦA PHÁP “GĐ-103” TRÊN NGƯỜI
PHƠI NHIỄM CHẤT DA CAM/DIOXIN

Chuyên ngành: Y học cổ truyền
Mã số : 62720201

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

HÀ NỘI - 2017


Công trình được hoàn thành tại:

VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN QUÂN ĐỘI

Người hướng dẫn khoa học:
1. TS Đoàn Chí Cường
2. PGS.TS Lê Văn Đông
Phản biện 1: PGS.TS Phạm Vũ Khánh
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Liễu
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Trọng Thông
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện



GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1. Đặt vấn đề
Chất độc da cam/dioxin mà quân đội Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh ở miền Nam
Việt Nam có chứa dioxin, là một chất có độc lực mạnh, tồn tại lâu dài trong môi trường.
Khi con người nhiễm phải, sẽ gây tổn thương đa dạng, phức tạp và ảnh hưởng qua nhiều
thế hệ. Cho đến nay, trên thế giới cũng như trong nước chưa có thuốc điều trị đặc hiệu,
phương pháp chủ yếu vẫn là giải quyết triệu chứng bằng nhiều biện pháp khác nhau, kết
quả thu được không như mong muốn. Y học cổ truyền có những vị thuốc, bài thuốc có
tác dụng giải độc tương đối tốt. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên
cứu tính an toàn và hiệu quả giải độc của pháp “GĐ-103” trên người phơi nhiễm
chất da cam/dioxin”, với các mục tiêu sau:
1- Xác định độc tính cấp, độc tính bán trường diễn của bài thuốc uống “GĐU-103”
và phản ứng kích ứng da, niêm mạc của bài thuốc xông “GĐX-103” trên động vật thực
nghiệm.
2- Đánh giá tác dụng giải độc không đặc hiệu của bài thuốc “GĐU-103”, “GĐX103” trên người phơi nhiễm chất da cam/dioxin, thông qua một số chỉ số lâm sàng, cận
lâm sàng
2. Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, từ năm 1961 đến 1971 quân đội Mỹ đã
phun rải khoảng gần 80 triệu lít chất độc hóa học xuống miền Nam Việt Nam, trong đó
hơn 61% là chất da cam, chứa khoảng 366 kg dioxin. Nhưng đến nay, hậu quả thảm
khốc của chất da cam/dioxin đối với môi trường sống, sức khoẻ con người vẫn còn là
mối quan tâm hàng đầu không chỉ những người có lương tri mà còn của các nhà khoa
học trên thế giới và Việt Nam. Đặc điểm tổn thương cơ thể do dioxin là tổn thương đa
dạng. Cơ chế bệnh sinh cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn sáng tỏ. Bởi vậy, các biện
pháp điều trị chủ yếu vẫn là điều trị giải độc không đặc hiệu, thực chất là điều trị triệu
chứng và cân bằng các rối loạn tiềm ẩn do chất độc gây ra. Căn cứ vào cơ sở lý luận
và thực tiễn trên lâm sàng cho thấy thuốc y học cổ truyền có nhiều lợi thế trong việc
gây tăng tiết mồ hôi, tăng cường chức năng tạng phủ, nâng cao chính khí, giúp đào

Polychlorinated dibenzo-p-dioxin (PCDDs), polychlorinated dibenzofuran (PCDFs, hoặc
furan) và các polychlorinated biphenyl đồng phẳng (coplanar PCB hay dioxin- like PCBs,
dl-PCBs). Theo định nghĩa mới nhất của Tổ chức Y tế thế giới (WHO 1997), dioxin
gồm 7 đồng phân của PCDD, 10 đồng phân của PCDF và 12 PCB đồng phẳng
(coplanar PCB) có đặc điểm gây độc tương tự dioxin (dioxin-like PCB). Các đồng loại
này có thể tác động vào thụ thể hydrocarbon thơm (Aryl hydrocacbon receptor - AHR),
vì vậy chúng có khả năng gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người ở mức độ khác nhau
tùy theo hệ số độc tương ứng. Cho đến nay có nhiều đề tài, dự án của các tác giả trong
và ngoài nước nghiên cứu bệnh - chứng, đã minh chứng hậu quả xấu rất đa dạng đối
với người bị phơi nhiễm chất da cam/dioxin và con cái của họ.
1.2. Quan niệm về độc và pháp giải độc của y học cổ truyền
Y học cổ truyền đã nghiên cứu về “độc” từ rất lâu, khái niệm về “độc” đã được đề cập
sớm nhất trong cuốn “Nội kinh”. Các thế hệ y gia sau này đã không ngừng bổ sung,
hoàn thiện làm cho lý luận về “độc” ngày càng hoàn chỉnh trên các phương diện như:
khái niệm, phân loại, đặc điểm gây bệnh, biểu hiện lâm sàng và pháp giải độc.
Pháp giải độc chung của y học cổ truyền không ngoài 8 pháp điều trị cơ bản (hãn, thổ,
hạ, hòa, ôn, thanh, tiêu và bổ. Còn gọi là tám đại pháp). Nhưng thực tế bệnh cảnh của
nhiễm độc trên lâm sàng rất phức tạp, vì phụ thuộc vào tính chất của nhiễm độc (cấp
hay mạn), loại chất gây độc, đường vào của chất độc và tình trạng sức khỏe của người
bệnh. Do đó, khi vận dụng chữa trị, sử dụng linh hoạt tám đại pháp nhằm giải quyết
toàn diện các nguyên nhân phát sinh và diễn biến bệnh từ ngoài vào trong, từ nông ở
biểu đến vào sâu, tạng phủ với nhiều mức độ cấp và mạn tính khác nhau.


CHƯƠNG 2: CHẤT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PPNC
2.1. Chất liệu nghiên cứu
Gồm bài thuốc uống GĐU-103 có 16 vị, được xây dựng từ bài thuốc cổ phương « Bổ
trung ích khí thang » gia giảm và bài thuốc xông GĐX-103 gồm 6 vị; thuốc do khoa Dược
Bệnh viện Quân y 103 bào chế đảm bảo theo tiêu chuẩn dược điển Việt Nam IV, đạt tiêu
chuẩn cơ sở.


Lấy máu X.N lần 2

Sơ đồ 2.1: Quy trình nghiên cứu trên lâm sàng


- Tuyển chọn 35 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên cứu, thu dung về Bệnh viện Quân
y 103 điều trị.
- Lấy máu xét nghiệm lần 1: Thời điểm lấy máu ngay trước lần điều trị đầu tiên
của ngày thứ nhất (lần 2: ngay sau lần điều trị cuối cùng ngày thứ 25) vào buổi sáng
sớm lúc chưa ăn, dùng để xét nghiệm: công thức máu, hóa sinh máu; hoạt độ enzym
chống oxy hóa SOD, GPx, nồng độ MDA; một số chỉ tiêu về miễn dịch (IgA, IgM, IgG,
số lượng tế bào CD3, CD4, CD8); xác định nồng độ, lượng tồn dioxin trong máu cho tất
cả các bệnh nhân tham gia nghiên cứu.
- Điều trị (trong 25 ngày liền) chung cho tất cả các bệnh nhân: xông hơi toàn thân
bằng thuốc GĐX-103, ngày một lần, thời gian 60’, trên máy CLEOPATRA -2014 (Thụy
Sỹ); uống thuốc GĐU-103: mỗi lần uống 1 túi 125ml, ngày 2 lần vào lúc 9 giờ 30 và 15
giờ 30. Điều trị riêng: các bệnh lý kết hợp (nếu có).
2.3.2.3. Các chỉ tiêu theo dõi, đánh giá kết quả:
Lâm sàng: Cải thiện các triệu chứng lâm sàng sau đợt điều trị.
Cận lâm sàng: So sánh sự thay đổi các chỉ số xét nghiệm trước và sau đợt điều trị.
2.4. Phương pháp xử lý số liệu
Toàn bộ số liệu trong nghiên cứu được xử lý bằng chương trình phần mềm SPSS
22.0, tại Bộ môn Dịch tễ học, Học viện Quân y. Sự khác biệt có ý nghĩa khi p
3.2.2. Kết quả nghiên cứu về tác dụng của pháp GĐ-103
3.2.2.1. Cải thiện các triệu chứng lâm sàng
Sau khi người phơi nhiễm được điều trị hết liệu trình, tất cả các triệu chứng lâm sàng
đều được cải thiện rõ rệt so với trước. Trong đó hiệu quả tốt chiếm 37,14%, loại khá
chiếm 51,43% và trung bình là 11,43%.
3.2.2.2. Thay đổi các chỉ tiêu cận lâm sàng
- Kết quả sự thay đổi các chỉ số huyết học: Sự thay đổi giá trị trung bình số lượng hồng
cầu, tiểu cầu, lượng huyết sắc tố, số lượng bạch cầu, tỷ lệ bạch cầu neutro và lympho của
người phơi nhiễm giữa trước và sau điều trị, đều không có ý nghĩa thống kê, với p>0,05.
- Kết quả sự thay đổi các chỉ số hóa sinh máu: Sau điều trị, nồng độ ure, triglycerit máu
trung bình của người phơi nhiễm so với trước điều trị, thay đổi tăng lên có ý nghĩa
(p0,05.
- Kết quả sự thay đổi hoạt độ enzym SOD, GPx và nồng độ MDA
Bảng 3.1: Sự thay đổi hoạt độ SOD, GPx và nồng độ MDA (n = 35)
Thời điểm
Chỉ tiêu
SOD (U/gHb)
GPx (U/gHb)
MDA (µmol/l)

Trước điều trị (1)
X ± SD

1444,09 ± 286,61
29,35 ± 7,47
1,83 ± 0,49

Sau điều trị (2)

< 0,001
IgM (mg/dl)
116,89 ± 87,39
287,20 ± 248,12
IgG (mg/dl)
1087,99 ± 202,62
1107,06 ± 292,85
> 0,05
Nhận xét: Sau điều trị, nồng độ IgA và IgM trung bình trong máu của người phơi
nhiễm đều thay đổi tăng lên so với trước điều trị có ý nghĩa thống kê, với p0,05.
Bảng 3.3: Sự thay đổi về số lượng các loại tế bào miễn dịch (n = 35)
Thời điểm

Trước điều trị (1)

Sau điều trị (2)

p(1,2)
X ± SD
X ± SD
Chỉ tiêu
CD3 (tb/µl)
1370,08 ± 513,61
1608,05 ± 459,72
CD4 (tb/µl)
783,54 ± 335,07
941,88 ± 322,30
< 0,05

nghĩa thống kê, với p>0,05.
- Kết quả sự thay đổi nồng độ và lượng tồn dioxin
Bảng 3.5: Kết quả phân tích nồng độ 2,3,7,8-TCDD (pg/g mỡ) trong máu của BN
trước và sau điều trị (n=35)
Thời điểm

Trước điều trị

Sau điều trị


Nồng độ
2,3,7,8-TCDD
Từ 1 đến 10
>10 đến ≤ 50
>50 đến ≤ 100
>100 đến ≤ 200
> 200 đến ≤ 300
>300
Tổng số
Min - max

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)


100

6,35pg/g - 858,33pg/g

4,5pg/g - 373,13pg/g

(nồng độ 2,3,7,8-TCDD)
Nhận xét: Trước điều trị tất cả 35 BN nghiên cứu đều bị phơi nhiễm 2,3,7,8-TCDD.
Trong đó 34/35 BN có nồng độ 2,3,7,8-TCDD trên 10 pg/g mỡ (người bị nhất là 6,35
pg/g mỡ, cao nhất là 858,33 pg/g mỡ).
Sau đợt điều trị có 34/35 BN giảm nồng độ 2,3,7,8-TCDD trong máu (người còn thấp
nhất là 4,5 pg/g mỡ, và cao nhất là 373,13 pg/g mỡ).
Bảng 3.6: Sự thay đổi về nồng độ, tỷ lệ % của 2,3,7,8-TCDD và tổng đương lượng
độc giữa trước và sau điều trị (n=35)
Thời điểm
Chất phân tích
2,3,7,8-TCDD (pg/g mỡ)
Tỉ lệ % 2,3,7,8 -

Trước điều trị

Sau điều trị

± SD (1)
143,05 ± 195,95

± SD (2)
76,41 ± 84,99

X

X ± SD

p(1,2)


2,3,7,8 -TCDD
143,05 ± 195,95
76,41 ± 84,99
< 0,001
1,2,3,7,8-PeCDD
25,94 ± 31,38
11,84 ± 7,10
< 0,001
1,2,3,4,7,8-HxCDD
19,45 ± 30,98
7,76 ± 3,96
< 0,01
1,2,3,6,7,8-HxCDD
55,48 ± 55,96
29,52 ± 19,59
< 0,001
1,2,3,7,8,9-HxCDD
21,22 ± 32,37
9,40 ± 5,75
< 0,01
1,2,3,4,6,7,8-HpCDD
123,47 ± 194,56
59,39 ± 60,03
< 0,001
OCDD

1,2,3,6,7,8-HxCDD
12,36 ± 14,60
6,47 ± 5,33
< 0,001
1,2,3,7,8,9-HxCDD
4,88 ± 8,94
2,12 ± 1,86
< 0,01
1,2,3,4,6,7,8-HpCDD
29,01 ± 54,85
12,99 ± 13,29
< 0,001
OCDD
325,99 ± 776,74
123,68 ±118,20
< 0,001
Nhận xét: Sau đợt điều trị, lượng tồn trung bình của 7 chất đồng phân độc của nhóm

PCDD đều giảm so với trước điều trị có ý nghĩa thống kê, với p
1,2,3,4,7,8-HxCDF

37,58 ± 53,88

17,67 ± 6,26

< 0,001

1,2,3,6,7,8-HxCDF

25,29 ± 42,75

12,93 ± 9,75

< 0,001

2,3,4,6,7,8-HxCDF

13,66 ± 36,93

4,42 ± 2,84

< 0,05


1,2,3,7,8,9-HxCDF

10,36 ± 19,55

4,19 ± 2,62

Bảng 3.10: Sự thay đổi lượng tồn (ng/kg cân nặng) của 10 chất đồng phân độc
trong nhóm PCDF giữa trước và sau điều trị (n=35)
Thời điểm
Chất phân tích

Trước điều trị
X ± SD (1)

Sau điều trị
X ± SD
(2)

p(1,2)

2,3,7,8-TCDF

2,64 ± 6,33

1,83 ± 5,66

< 0,05

1,2,3,7,8-PeCDF

3,21 ± 8,14

2,29 ± 7,79

< 0,05


< 0,05

1,2,3,7,8,9-HxCDF

2,40 ± 5,34

0,88 ± 0,57

= 0,09

1,2,3,4,6,7,8-HpCDF

8,31 ± 13,38

5,43 ± 8,73

< 0,01

1,2,3,4,7,8,9-HpCDF

3,16 ± 7,23

1,10 ± 0,68

= 0,13

OCDF
6,67 ± 13,63
2,37 ± 1,70
< 0,05

nhiễm chất độc da cam/dioxin, cho kết quả: cải thiện các triệu chứng lâm sàng tương
đối tốt, đặc biệt làm giảm nồng độ dioxin trong máu, tăng cường đáp ứng miễn dịch
cho cơ thể... tuy nhiên, vẫn gặp khó khăn nhất định khi áp dụng phương pháp này do
toàn bộ số thuốc cần dùng cho người bệnh đều phải mua của nước ngoài, giá thành
cao, hơn nữa khả năng cung cấp không kịp thời.


Theo lý luận của Y học cổ truyền, các chất độc nói chung, dioxin nói riêng khi xâm
nhập vào cơ thể (bằng các con đường khác nhau), sẽ gây rối loạn công năng của tạng
phủ, hình thành sản phẩm chuyển hóa dở dang, tích lũy qua thời gian dài gây ra các
chứng bệnh khác nhau, được gọi chung trong khái niệm “Trọc khí” hay “Đàm ẩm”, là
sản phẩm bệnh lý tạo ra do rối loạn trao đổi chất và thủy dịch. Đồng thời sau khi hình
thành đàm ẩm lại trở thành nhân tố gây bệnh, tác động trở lại cơ thể gây ứ trệ khí
huyết, kinh lạc, làm rối loạn công năng của các tạng phủ nặng nề hơn, đặc biệt tạng tỳ,
phế, thận... Vì tạng tỳ có chức năng chủ vận hóa thủy cốc, thủy thấp, khi chức năng bị
rối loạn sẽ sinh ra đàm, nên người ta gọi tỳ là nguồn sinh đàm. Đàm sau khi hình thành
thường tụ lại ở phế, nên gọi phế là nơi trữ đàm. Thận kết hợp với phế điều tiết lưu
thông thủy dịch, nếu chức năng điều tiết bình thường thì không sinh đàm, khi chức
năng bị rối loạn thủy dịch ứ lại sẽ sinh ra đàm trọc. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng:
trong cơ thể dioxin tồn lưu chủ yếu ở mô mỡ và liên kết với tổ chức giàu mỡ, tức là mỡ
ở đâu thì dioxin ở đó, tồn tại song hành từ đó mà gây độc. Y học cổ truyền cho rằng
dưới da thuộc về phần biểu, tạng thuộc về phần lý. Bởi vậy, dioxin tồn lưu cả ở phần
biểu và phần lý. Từ nhận thức trên muốn giải trừ “tà bệnh” ở tạng phủ và cơ biểu, cần
phải “Biểu lý song giải”, vận dụng pháp “Nội ẩm, ngoại đồ” tức là “Trong uống, ngoài
xông”, mới thu được hiệu quả cao. Vì thế, chúng tôi vận dụng pháp này có chọn lọc để
xây dựng pháp GĐ-103, gồm bài thuốc giải độc uống (GĐU-103) và bài thuốc giải độc
xông hơi toàn thân (GĐX-103), dùng điều trị giải độc không đặc hiệu cho người phơi
nhiễm chất da cam/dioxin (nhằm giải trừ “Bệnh tà” ở cả phần biểu và phần lý).
4.2. Kết quả nghiên cứu trên thực nghiệm
Độc tính cấp của bài thuốc GĐU-103: Chưa xác định được liều gây độc tính cấp

nguy hiểm có liên quan đến chất da cam/dioxin là rất cao. Mặc dù số lượng người phơi
nhiễm trong nghiên cứu này của chúng tôi còn khiêm tốn, nhưng trong cơ cấu bệnh
cũng gặp một số bệnh thuộc danh mục bệnh quy định năm 2009 của Bộ Y và cũng
tương đồng với kết quả của một số tác giả khác khi nghiên cứu về cơ cấu bệnh của nạn
nhân phơi nhiễm chất da cam/dixin.


4.3.2. Kết quả nghiên cứu về tác dụng giải độc của pháp GĐ-103
4.3.2.1. Cải thiện các triệu chứng lâm sàng
Sau khi người phơi nhiễm được điều trị đủ liệu trình, kết quả thu được cho thấy tất
cả các triệu chứng lâm sàng đều được cải thiện rõ rệt so với trước điều trị. Cụ thể,
mức giảm điểm thấp nhất ở triệu chứng tê bì chân tay là 50%, mức giảm cao nhất đạt
92,06% là triệu chứng về thần. Đánh giá hiệu quả cải thiện các triệu chứng lâm sàng
chung đạt 100%, trong đó hiệu quả tốt đạt 37,14%, loại khá chiếm 51,43% và trung
bình là 11,43%. Kết quả trong nghiên cứu này của chúng tôi cũng tương đồng với kết
quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hoàng Thanh và cs khi dùng phương pháp
Hubbard; Nguyễn Thị Ngọc Dao, Trần Mạnh Hùng và cs khi dùng chế phẩm
Naturenz điều trị cho các cựu chiến binh và các nạn nhân bị phơi nhiễm chất da
cam/dioxin. Như vậy, có thể kết luận rằng pháp GĐ-103 có tác dụng cải thiện tương
đối tốt các triệu chứng lâm sàng của người bị phơi nhiễm chất da cam/dioxin.
4.3.2.2. Thay đổi các chỉ tiêu cận lâm sàng
*Thay đổi hoạt độ enzym SOD, GPx và nồng độ MDA
Superoxid dismutase (SOD) là một enzym chống oxy hóa có chứa kim loại thuộc
lớp Oxidoreductase có tác dụng cải thiện khả năng chống oxy hóa nội bào, do thực
hiện chức năng xúc tác phản ứng chuyển hóa gốc superoxide (O 2-) thành O2 và H2O2:
2O2- + 2H+ → 2H2O + O2. Vì vậy, enzym SOD dường như đóng vai trò chính trong cơ
chế bảo vệ cơ thể trước sự tấn công của gốc tự do. Kết quả bảng 3.1 cho thấy sau điều
trị hoạt độ SOD trung bình của các BN thay đổi giảm so với trước có ý nghĩa thống kê,
với p
thể giảm, hệ thống phòng thủ chống oxy hóa được tăng cường. Có lẽ, đây chính là tác
dụng giải độc của pháp GĐ-103.
Kết quả về hoạt độ enzym SOD, GPx và nồng độ MDA mà chúng tôi thu được trong
nghiên cứu này cũng tương tự kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Thanh và cs khi
dùng Belaf hoặc phương pháp giải độc Hubbard điều trị cho bệnh nhân phơi nhiễm chất
da cam/dioxin.


*Thay đổi một số chỉ tiêu về miễn dịch
IgM là lớp kháng thể được tạo ra sớm nhất trong môi trường miễn dịch, cũng là
lớp kháng thể được biến đổi sớm nhất khi có sự thay đổi quá trình tạo kháng thể của
cơ thể. Kết quả thu được từ nghiên cứu này cho thấy nồng độ IgM trong máu thay
đổi tăng lên có ý nghĩa thống kê, còn nồng độ IgG thay đổi theo chiều hướng cũng
tăng lên nhưng chưa có ý nghĩa thống kê. Điều này có thể lý giải do thời gian theo dõi
chưa đủ dài để có thể thấy được biến đổi rõ rệt về nồng độ IgG trong máu - lớp kháng
thể xuất hiện muộn hơn so với IgM. IgA là lớp kháng thể chế tiết, chủ yếu có trong
các dịch tiết của cơ thể bao gồm: dịch tiết của niêm mạc đường hô hấp và tiêu hóa.
Mặc dù trong nghiên cứu này không định lượng nồng độ IgA trong các dịch tiết nói
trên nhưng sự tăng nồng độ IgA trong máu cũng là nguồn gốc và dấu hiệu tương đồng
với tăng nồng độ IgA trong các dịch tiết. Pháp GĐ-103 dùng bài thuốc uống GĐU103 tác động trực tiếp lên niêm mạc đường tiêu hóa và bài thuốc xông GĐX-103 tác
động trực tiếp lên đường hô hấp là những cơ quan chính tổng hợp và bài tiết IgA.
Điều này cho thấy cách tiếp cận trực tiếp vào hai cơ quan hô hấp và tiêu hóa của pháp
GĐ-103 là cách tiếp cận hợp lý, không chỉ thúc đẩy quá trình giải độc mà còn kích
thích cơ quan sinh tổng hợp IgA, có tác dụng bảo vệ cơ thể trước hai cửa ngõ chính
mà các tác nhân gây bệnh (tà bệnh) có thể xâm nhập vào cơ thể là đường hô hấp và
tiêu hóa. Mặt khác, kết quả thu được cũng cho thấy nồng độ IgA ở các bệnh nhân
nghiên cứu cũng chỉ tăng ở mức từ dưới nồng độ bình thường lên nồng độ bình
thường, thể hiện khả năng kích thích miễn dịch mà không gây quá mẫn cho các bệnh
nhân. Điều này cũng phù hợp với các quan sát trên lâm sàng, không thấy bệnh nhân
nào có biểu hiện các triệu chứng của phản ứng quá mẫn. Kết quả nghiên cứu thu được

sau đó tại các điểm nóng về ô nhiễm dioxin, là những số liệu có ý nghĩa cực kỳ quan
trọng. Rất nhiều năm sau chiến tranh, các nghiên cứu đều cho thấy nồng độ dioxin trong
cơ thể người dân sống tại vùng “nóng” bị ô nhiễm chất da cam/dioxin như khu vực
quanh sân bay Biên Hòa vẫn còn rất cao, cá biệt có người khi xét nhiệm cho thấy nồng
độ dioxin trong máu lên tới 413 pg/g mỡ, trong nghiên cứu này chúng tôi đã phát hiện
người có nồng độ dioxin trong máu rất cao, lên tới 858,33 pg/g mỡ. Từ kết quả thu
được trong bảng 3.8 và 3.10 cho thấy: lượng tồn trung bình của 15/17 chất đồng phân
độc của nhóm PCDD, PCDF trong cơ thể người phơi nhiễm chất da cam/dioxin giảm


so với trước điều trị đều có ý nghĩa thống kê, với p
truyền gọi là “Nội ẩm, ngoại đồ”, nhằm tăng cường tác dụng bài tiết mồ hôi, đồng
thời giúp đào thải trọc khí tích tụ ở phần cơ biểu ra ngoài được tốt hơn.
Từ cơ sở lý luận về tác dụng kiện tỳ, trừ thấp và tiêu đàm nói trên của pháp GĐ-103 (theo
quan điểm của y học cổ truyền), có lẽ đây cũng chính là tác dụng làm biến đổi hoạt độ enzym
chống oxy hóa SOD, GPx và nồng độ MDA (theo y học hiện đại) theo hướng có lợi cho cơ thể,
khi bị phơi nhiễm chất da cam/dioxin; đồng thời tác dụng hành khí hoạt huyết, bổ khí huyết
(nâng cao chính khí của cơ thể) cũng chính là tác dụng tăng cường đáp ứng miễn dịch của cơ
thể. Khi pháp GĐ -103 có tác dụng làm giảm gốc tự do, tăng cường đáp ứng miễn dịch, tăng
cường sức khỏe nói chung, điều này có thể lý giải đây cũng chính là tác dụng làm giảm nồng
độ, giảm lượng tồn dioxin trong cơ thể của người bị phơi nhiễm chất da cam/dioxin (vì dioxin
tích tụ trong cơ thể cũng thuộc phạm trù “đàm ẩm” theo y học cổ truyền).
KẾT LUẬN
1. Trên thực nghiệm


Chưa xác định được liều độc cấp LD 50 trên chuột nhắt trắng qua đường uống với
liều 160g/kg thể trọng và độc tính bán trường diễn trên thỏ với liều 15g/kg và 45g/kg
thể trọng ngày, trong 45 ngày liền của bài thuốc GĐU-103. Thuốc xông GĐX-103
không gây kích ứng da thỏ, niêm mạc đường hô hấp chuột nhắt trắng.
2. Tác dụng giải độc của pháp GĐ-103 trên người phơi nhiễm chất da cam/dioxin
2.1. Cải thiện các triệu chứng lâm sàng
Sau đợt điều trị giải độc dùng pháp GĐ-103, tất cả các triệu chứng lâm sàng của
người phơi nhiễm đều được cải thiện tốt (tỷ lệ cao nhất đạt 92,06%, thấp nhất là
50%), hiệu quả lâm sàng chung đạt 100% trong đó đạt hiệu quả tốt chiếm 37,14%,
loại khá chiếm 51,43%.
2.2. Thay đổi các chỉ tiêu cận lâm sàng
Sự thay đổi nồng độ, lượng tồn dioxin: Pháp GĐ-103 có tác dụng làm giảm nồng
độ, đặc biệt giảm lượng tồn trung bình của 15/17 chất chất đồng loại độc của PCDDs
và PCDFs trên người phơi nhiễm chất da cam/dioxin có ý nghĩa thống kê (P


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status