Nghiên cứu xây dựng các giải pháp quản lý cháy rừng tại thị xã uông bí, tỉnh quảng ninh - Pdf 44

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

TRỊNH PHÚ THUẬN

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG
CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHÁY RỪNG TẠI
THỊ XÃ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

Chuyªn ngµnh: Qu¶n lý b¶o VỆ TÀI NGUYÊN rõng.

M· sè: 60 62 68

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, năm 2010


1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rừng là nguồn tài nguyên quí giá đối với Việt Nam cũng như bất cứ quốc
gia nào trên thế giới. Rừng có vai trò rất lớn đối với sự phát triển kinh tế xã
hội của các địa phương nhất là những vùng núi nơi người dân chủ yếu sống
dựa vào rừng. Ngoài giá trị kinh tế cao, rừng còn đóng vai trò quan trọng đối
với việc bảo vệ môi trường sinh thái.
Mặc dù vậy, trong nhiều thập kỷ gần đây diện tích rừng trên thế giới cũng
như ở Việt Nam đang bị suy giảm nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng.
Sự suy giảm này là một trong những nguyên nhân gây nên biến đổi khí hậu,

tiết, thì nguy cơ cháy rừng luôn tiềm ẩn. Chỉ tính riêng từ năm 2002 đến năm
2009, (theo số liệu của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh) [9] trên địa bàn
toàn tỉnh đã xảy ra 336 vụ cháy thiệt hại 2019.96ha, chủ yếu là rừng trồng với
diện tích là 2003,91ha (chiếm 99.2% tổng diện tích rừng bị cháy). Thực tế cho
thấy công tác PCCCR vẫn còn nhiều bất cập, việc dự báo, cảnh báo nguy cơ
cháy rừng và phát hiện sớm điểm cháy rừng triển khai chưa hiệu quả kịp thời,
các công trình PCCCR chưa được xây dựng đủ cả về số lượng và chất lượng.
Một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho cháy rừng vẫn xảy ra
trên thị xã Uông Bí nói riêng và tỉnh Quảng Ninh nói chung là do thiếu những
nghiên cứu cơ bản về công tác quản lý cháy rừng. Xuất phát từ những thực
tế đó chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu xây dựng các giải pháp quản lý
cháy rừng tại thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh” nhằm góp phần khắc phục
những tồn tại trong công tác PCCCR tại địa phương cũng như nâng cao hơn
nữa công tác quản lý cháy rừng trên địa bàn.


3

Chương 1 : TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.Trên thế giới
Trước những nguy cơ to lớn về cháy rừng và những tổn thất của nó gây ra
đã có nhiều nghiên cứu về phòng cháy chữa cháy rừng, dự báo nguy cơ cháy
rừng... Những công trình nghiên cứu của Mỹ, Nga, Thụy Điển, Nhật Bản,
Trung Quốc... về phòng cháy chữa cháy rừng, phương pháp dự báo cháy rừng
đều dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa các yếu tố khí tượng với nguồn vật liệu
cháy hoặc giữa các yếu tố khí tượng với số vụ cháy xảy ra trong nhiều năm.
Các nghiên cứu chủ yếu hướng vào làm suy giảm 3 thành phần của tam giác
lửa: (1) - Giảm nguồn lửa bằng cách tuyên truyền vận động không mang lửa
vào rừng, dập tắt than sau khi dùng lửa... (2) - Giảm khối lượng vật liệu cháy

nhiệt độ cao nhất trong ngày có quan hệ chặt chẽ với nhau, để từ đó đưa ra
mối quan hệ giữa hàm lượng nước của VLC và khả năng cháy rừng để dự báo
nguy cơ cháy rừng như bảng 1.1 [4].
Bảng 1.1: Hàm lượng nước của VLC với mức độ nguy hiểm của cháy rừng
Cấp cháy Hàm lượng nước của VLC (%)

Mức nguy hiểm của cháy rừng

I

> 25

Không phát sinh

II

15 – 25

Khó phát sinh

III

13 – 15

Dễ phát sinh

IV

10 – 13



Trong đó:
K: Hệ số điều chỉnh lượng mưa được xác định như sau:
Lượng mưa
(mm)
Hệ số K

0

0.1- 0.9

1 - 2.9

3 - 5.9

6 - 14.9

1

0.8

0.6

0.4

0.2

15 - 19.9 > 20
0.1



≤ 200

Không nguy hiểm

II

301 - 500

201 – 450

Ít nguy hiểm

III

501 - 1000

451 – 900

Nguy hiểm

IV

1001 - 4000

901 – 2000

Rất nguy hiểm

V

Trong đó: Te - Hàm lượng nước tính theo trọng lượng tươi của vật liệu
Công trình nghiên cứu của ông còn chỉ ra rằng chiều cao của ngọn lửa tỷ lệ
thuận với tốc độ cháy lan và chiều cao thực bì được tính theo công thức:


7

Lf = 12.33 × Vp0.428 × H0.477 với r = 0.83

(1.5)

Trong đó: Lf - Chiều cao ngọn lửa (cm)
Ở Thụy Điển dự báo cháy rừng dựa trên cơ sở chỉ số Angstrom [4]:
I=

(1.6)

Trong đó: I - Là chỉ số Angstrom để xác định khả năng cháy rừng
R - Độ ẩm không khí thấp nhất trong ngày (%)
T - Nhiệt độ không khí cao nhất trong ngày (0C)
Sau khi tính được chỉ số I theo công thức trên, tiến hành phân mức nguy
cơ cháy rừng theo các cấp như bảng 1.3.
Bảng 1.3: Phân cấp nguy cơ cháy rừng theo chỉ số Angstrom
Cấp cháy

Chỉ số I

Mức nguy cơ cháy rừng

I

Theo nghiên cứu của Byram [8], [16], khối lượng vật liệu cháy ảnh hưởng
đến cường độ đám cháy thể hiện qua công thức:
I=

(1.7)

Trong đó: I - Cường độ cháy (KW/m)


8

H - Nhiệt lượng cháy của vật liệu cháy (KJ/kg)
W - Khối lượng vật liệu cháy có sẵn (tấn/ha)
R - Tốc độ cháy lan của ngọn lửa phía trước (m/phút)
Cường độ cháy được chia thành 4 cấp theo bảng 1.4.
Bảng 1.4: Phân cấp cường độ cháy theo Byram
Cấp

Cường độ cháy (KW/m)

Chiều cao ngọn lửa lớn nhất (m)

Thấp

I < 500

1.5

Trung bình


liệu cháy.
Cho đến những năm đầu của thế kỷ XX, nhiều chuyên gia về lửa rừng ở


9

các nước trên thế giới đã bắt đầu quan tâm đến việc xây dựng các công trình
nhằm hạn chế tác hại của lửa rừng như: làm đường băng trắng, đường băng
xanh cản lửa; đốt trước vật liệu cháy có kiểm soát ở những nơi có nguy cơ
cháy rừng cao…nhằm hạn chế tối đa những thiệt hại mà lửa rừng gây ra cho
nền kinh tế cũng như môi trường sinh thái và tính đa dạng sinh học trong mỗi
hệ sinh thái rừng.
Đến những năm 70 của thế kỷ XX trở lại đây ở các nước đi đầu trong lĩnh
vực quản lý lửa rừng như: Mỹ, Nga, Canada, Phần Lan…đã nghiên cứu và
đưa ra những quy trình đốt trước cho các khu rừng trồng thuần loài có nguy
cơ cháy cao [36]. Đốt trước có kiểm soát được sử dụng phổ biến ở những
nước này và được coi là một biện pháp quản lý rừng hiệu quả.
Năm 1995, ở Trung Quốc, Wu Deyou cùng một số tác giả khác đã tiến
hành nghiên cứu các biện pháp đốt trước có điều khiển dưới rừng Thông đuôi
ngựa, Thông ba lá và Thông vân sam để làm giảm lượng VLC [38]. Theo các
tác giả, khi tiến hành đốt trước cần quan tâm đến 4 nhân tố chính ảnh hưởng
đến khả năng cháy rừng đó là: chiều cao dưới cành, loại vật liệu cháy bề mặt,
sự tích lũy vật liệu cháy và chỉ số khô hạn. Bên cạnh những yếu tố đó thì địa
hình và độ dốc cũng là những nhân tố cần được quan tâm khi thực hiện biện
pháp đốt trước VLC. Kết quả nghiên cứu cho thấy giữa chiều cao bị cháy xém
của cây và tỷ lệ cây bị chết có quan hệ với nhau. Từ đó tác giả đưa ra một số
quy định về việc đốt trước có điều khiển cho các loại rừng trên ở Trung Quốc.
Đây được coi là công trình đầu tiên của Trung Quốc về vấn đề đốt trước VLC
có điều khiển với quy mô lớn.
Nhìn chung có thể thấy rằng các nghiên cứu về dự báo cháy rừng, quản lý

Sau đó tác giả dựa vào kết quả phân tích mối quan hệ giữa chỉ tiêu P với
số vụ cháy đã xảy ra trong10 năm để chỉnh lý ngưỡng của các cấp dự báo
cháy rừng ở Quảng Ninh, kết quả được ghi ở bảng 1.5.


11

Bảng 1.5: Phân cấp cháy rừng Thông theo chỉ tiêu P ( Phạm Ngọc Hưng)
Cấp cháy

Độ lớn của P

Khả năng cháy rừng

I



Khi tốc độ gió lớn hơn 25km/h

P ×3

Sau khi tính chỉ tiêu P thì giá trị P mới (Pm) cho Việt Nam từ đó ông phân
cấp nguy cơ cháy rừng thành 4 cấp theo bảng 1.6.
Bảng 1.6: Cấp cháy cho rừng Thông của Việt Nam (theo A.N. Cooper, 1991)
Cấp cháy

Đặc trưng cấp cháy

Chỉ số P

Chỉ thị theo màu

< 4000

Xanh

I

Có nguy hiểm cháy thấp

II

Có nguy hiểm cháy trung bình

4001 - 12000


Tuy nhiên, đây là một công trình nghiên cứu chưa toàn diện vì tác giả chưa đề
cập đến những yếu tố như: khí tượng, địa hình có ảnh hưởng đến cháy rừng.
Đồng thời biện pháp này đòi hỏi nhiều công sức và kinh phí thực hiện nên
khó áp dụng được trên diện rộng.
Năm 1995, Phan Thanh Ngọ nghiên cứu một số giải pháp PCCCR cho
rừng Thông ba lá và rừng Tràm ở Việt Nam [22]. Tác giả đã thử nghiệm và đề
xuất giải pháp phòng cháy chủ động cho rừng Thông ba lá ở Đà Lạt và Nghệ
An. Theo tác giả, với rừng Thông lớn tuổi không cần phải gom vật liệu cháy
mà trước khi đốt chỉ cần tuân thủ những nguyên tắc về chọn thời điểm và thời
tiết thích hợp để đốt. Tác giả cũng cho rằng có thể áp dụng đốt trước vật liệu
cháy cho một số trạng thái rừng ở địa phương khác. Tuy nhiên nghiên cứu
mới chỉ áp dụng cho các lâm phần Thông trên 10 tuổi còn những trạng thái
khác thì chưa được đề cập đến.
Năm 1995, Võ Đình Tiến và các cộng sự đã tiến hành dự báo cháy rừng
theo phương pháp chỉ tiêu tổng hợp P cải tiến và chỉ số khô hạn của Phạm
Ngọc Hưng dựa vào các yếu tố: khí hậu và thời tiết, loại rừng, VLC, địa hình
và các yếu tố khí tượng. Từ đó để đưa ra chỉ tiêu nguy hiểm cháy rừng và tiến
hành phân cấp trọng điểm cháy dựa vào sự ảnh hưởng của các yếu tố khí tượng
đến độ ẩm vật liệu cháy [28]. Tác giả đã phân vùng trọng điểm cháy rừng cho
Bình Thuận dựa vào những điều kiện khí tượng riêng biệt của vùng và rất quan
tâm đến yếu tố con người là một trong những nguyên nhân gây cháy rừng.


13

Năm 2001, Bế Minh Châu [6] đã nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện
khí tượng đến độ ẩm và khả năng cháy và vật liệu cháy dưới tán rừng Thông
ở miền Bắc Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của các yếu
tố: lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm không khí, số ngày không mưa liên tục, số
ngày mưa liên tục và độ ẩm vật liệu cháy ngày hôm trước tới độ ẩm vật liệu

cháy rừng

I

> 50

Không cháy

Không có khả năng cháy

II

33 - 50

0.002 - 0.0037

Chậm

Ít có khả năng cháy,
không nguy hiểm

III
IV

17 - 32.9
10 - 16.9

0.0038 - 0.0063
0.0064 - 0.0096


và truyền tin về nguy cơ cháy rừng, tự động cập nhật, lưu trữ số liệu và xác
định nguy cơ cháy cho các địa phương. Phần mềm này đã góp phần tích cực
trong việc nâng cao nhận thức về phòng cháy chữa cháy rừng của cán bộ và
nhân dân cả nước. Tuy nhiên, phần mềm dự báo cháy rừng sau một thời gian
áp dụng đã thể hiện một số tồn tại sau: nguy cơ cháy rừng được đồng nhất cho
những đơn vị hành chính rộng lớn và đồng nhất cho các kiểu rừng khác nhau.
Trong khi đó, điều kiện khí hậu và nguy cơ cháy rừng phân hoá mạnh theo
không gian và cả các trạng thái rừng. Vì vậy tính chính xác của thông tin dự
báo cháy rừng chưa cao.
Năm 2002 - 2005, Vương Văn Quỳnh và các cộng sự đã tiến hành nghiên
cứu phân vùng trọng điểm cháy rừng cho vùng Tây Nguyên và U Minh [24].
Nhóm tác giả căn cứ vào khí hậu, địa hình, trạng thái rừng để phân vùng trọng
điểm cháy rừng. Tuy vậy, việc phân vùng chưa tính tới ảnh hưởng của các
yếu tố xã hội và chưa xây dựng rộng rãi cho các địa phương khác.
Năm 2004 - 2006, Lê Thị Hiền và các cộng sự đã thực hiện đề tài nghiên
cứu cơsở khoa học để hiệu chỉnh phương pháp dự báo cháy rừng ở các tỉnh
phía Bắc [15]. Đề tài đã nghiên cứu được đặc điểm phân hóa của một số nhân
tố khí tượng, phân hóa tiểu khí hậu và nguy cơ cháy rừng ở các kiểu rừng có
nguy cơ cháy cao ở các tỉnh phía Bắc. Từ đó làm cơ sở nghiên cứu hiệu chỉnh
phương pháp dự báo cháy rừng cho các tỉnh phía Bắc, là công thức dự báo
cháy rừng ở Miền Bắc có dạng chung của của công thức dự báo nguy cơ cháy
rừng của Việt Nam - công thức của Nesterov. Tuy nhiên đây là công thức dự
báo cho một vùng không phải cho một khu vực đơn lẻ, do đó sẽ gặp khó khăn
cho một số địa phương.


15

Năm 2004, Nguyễn Tiến Đạt đã nghiên cứu phương pháp dự báo cháy
rừng cho một số kiểu rừng dễ cháy tỉnh Gia Lai [12]. Tác giả đã nghiên

là nhiệt độ, độ ẩm không khí, lượng mưa mà chưa đưa ra ảnh hưởng của gió
đến vật liệu cháy.
Năm 2007, Hà Văn Hoan đã nghiên cứu một số giải pháp nhằm quản lý
vật liệu cháy cho rừng trồng tại huyện Cam Lộ, Tỉnh Quảng Trị [16]. Tác giả
đã thử nghiệm trên rừng Thông 6 tuổi, 10 tuổi, 20 tuổi và rừng Keo lá Tràm 3
tuổi, 6 tuổi. Nghiên cứu chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến đặc tính đám
cháy bao gồm: khối lượng vật liệu cháy, độ ẩm vật liệu cháy, loại thực bì. Tuy
nhiên nghiên cứu chưa đề cập đến một số yếu tố khí tượng ảnh hưởng đến
VLC, ảnh hưởng của địa hình đến vật liệu cháy.
Năm 2008, Trần Văn Thắng đã nghiên cứu xây dựng giải pháp quản
lý thủy văn phục vụ phòng cháy chữa cháy rừng vườn quốc gia U Minh
Thượng, tỉnh Kiên Giang [27]. Kết quả nghiên cứu cho thấy để đảm bảo an
toàn cho rừng Tràm trên than bùn không bị cháy thì mực nước cần đảm bảo
duy trì ở mức ngập 50 cm so với mặt than bùn. Kết quả này làm cơ sở cho
việc điều tiết chế độ thủy văn phục vụ công tác PCCCR ở VQG U Minh
Thượng nhưng lại chưa có cơ hội để kiểm nghiệm thực tế.
Năm 2008, Nguyễn Tuấn Anh đã phân vùng trọng điểm cháy cho tỉnh
Quảng Bình [1].Tác giả đã đưa ra được mối quan hệ giữa nhiệt độ không khí
và lượng mưa trung bình theo kinh độ, vĩ độ và độ cao để có thể phân vùng
trọng điểm cháy của Quảng Bình theo điều kiện khí hậu và địa hình thành 5
cấp. Tuy nhiên đề tài mới chỉ dừng lại ở một số trạng thái rừng điển hình của
khu vực, chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - xã hội đến
nguy cơ cháy rừng.
Năm 2009, Nguyễn Đình Thành đã nghiên cứu giải pháp kỹ thuật lâm sinh
nhằm giảm thiều nguy cơ cháy rừng trồng ở Bình Định [26]. Tác giả đã tiến
hành nghiên cứu trên trạng thái Bạch đàn và Keo ở các tuổi khác nhau, ảnh


17


2.1.1. Mục tiêu chung
Góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của công tác quản lý cháy rừng
tại thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được thực trạng công tác quản lý cháy rừng tại thị xã Uông Bí
- Đề xuất các giải pháp quản lý cháy rừng phù hợp cho khu vực thị xã
Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Các trạng thái rừng chủ yếu của khu vực thị xã Uông Bí gồm: rừng trồng
Thông, rừng trồng Keo và trạng thái rừng tự nhiên (IIa, IIb, IIIa1), trạng thái
Ia, Ib và Ic.
2.3. Giới hạn nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu một số trạng thái rừng chủ yếu của thị
xã Uông Bí, đặc biệt ở những khu vực như: phường Bắc Sơn, phường Thượng
Yên Công nơi có nhiều rừng tự nhiên, rừng trồng trong khu vực.
Đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu định lượng về ảnh hưởng của các nhân tố
như độ ẩm VLC, vận tốc gió và độ dốc với một số đặc trưng của đám cháy là
tốc độ và chiều cao ngọn lửa của đám cháy khởi khởi đầu.
2.4. Nội dung nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:
(1) Đặc điểm rừng và tình hình cháy rừng tại thị xã Uông Bí.
- Diện tích và sự phân bố các loại rừng
- Đặc điểm cấu trúc một số trạng thái rừng chủ yếu.
- Tình hình cháy rừng tại khu vực.


19

(2) Ngiên cứu dặc điểm một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới cháy
rừng tại thị xã Uông Bí

Tuy nhiên do giới hạn thời gian, đề tài chỉ nghiên cứu những thành phần ảnh
hưởng quyết định đến nguy cơ cháy rừng như: cấu trúc rừng, thành phần vật
liệu cháy, khí hậu khu vực nghiên cứu...
Cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên
quần thể rừng theo không gian và thời gian. Các đặc điểm về cấu trúc như: loài
cây, mật độ, độ tàn che, độ che phủ...có ảnh hưởng lớn đến khả năng xuất hiện
và lan rộng đám cháy. Mặt khác cấu trúc rừng còn ảnh hưởng đến việc hình
thành tiểu khí hậu, làm thay đổi các chỉ tiêu về độ ẩm không khí, nhiệt độ, tốc
độ gió...và các yếu tố này lại ảnh hưởng trực tiếp đến nguy cơ cháy rừng.
Cháy rừng chỉ xuất hiện khi có đầy đủ cả 3 yếu tố: oxi, nguồn lửa và vật
liệu cháy. Thiếu một trong ba yếu tố này thì cháy rừng không xảy ra. Trong
các yếu tố nói trên, Oxi luôn có sẵn trong không khí (khoảng 21%), luôn đủ
đáp ứng để duy trì và phát triển đám cháy. Nguồn lửa chủ yếu do con người
mang đến hoặc do các hiện tượng của tự nhiên sấm sét, nhưng khó kiểm soát.
Vật liệu cháy phụ thuộc vào độ ẩm, khi có độ ẩm nhỏ sẽ dễ cháy còn khi có
độ ẩm lớn sẽ không cháy hoặc quá trình cháy sẽ tự tắt. Điều này phụ thuộc
vào điều kiện khí hậu. Vật liệu cháy, là tất cả vật chất hữu cơ ở trong rừng có
thể bắt lửa và bốc cháy, bao gồm cả chất hữu cơ trong đất và trên mặt đất,
nhưng vật liệu chỉ có thể cháy khi độ ẩm thấp. Nhiều công trình nghiên cứu
về dự báo cháy rừng đã kết luận: độ ẩm và khả năng cháy rừng phụ thuộc chủ
yếu vào điều kiện khí hậu và cấu trúc rừng. Độ ẩm vật liệu cháy là yếu tố dễ
thay đổi nhất dưới ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, độ ẩm không khí,
gió…Sự khác biệt về thời tiết, khí hậu trong lãnh thổ là do sự khác biệt về
điều kiện địa hình. Do đó khi đề xuất các giải pháp phòng cháy, chữa cháy
người ta thường căn cứ vào các quy luật ảnh hưởng của vật liệu cháy đến
cháy rừng và đặc điểm biến đổi của chúng trong khu vực.. Trong đó cũng phải
thừa nhận thấy rằng lửa rừng là nhân tố chịu ảnh hưởng cả của yếu tố tự nhiên


21

22

nguồn gốc tái sinh (chồi hay hạt), chiều cao phân 3 cấp (<0.5m, từ 0.5 - 1m, >
1m), chất lượng được đánh giá theo 3 cấp (tốt, trung trình, xấu).
- Chiều cao cây tái sinh được xác định bằng sào có độ chính xác đến dm.
- Chất lượng cây tái sinh được đánh giá qua hình dạng thân và tán lá.
* Điều tra đặc điểm vật liệu cháy
- Vật liệu cháy được điều tra trên 15 ô dạng bản có diện tích 1m2 phân bố
đều trong ô tiêu chuẩn. Xác định khối lượng của vật liệu cháy bằng cách thu
gom toàn bộ VLC trong ô dạng bản chia thành 3 loại: thảm tươi, thảm khô và
thảm mục; từng loại được cân riêng bằng cân có độ chính xác đến 10 gam,
sau đó tính trung bình cho cả ô tiêu chuẩn (tấn/ha).
- Độ ẩm VLC: Lấy mẫu VLC ở các ÔTC trong thời gian sau 5 ngày không
có mưa, xác định độ ẩm của chúng bằng phương pháp cân sấy.
Khả năng cháy của vật liệu và tốc độ lan tràn của đám cháy được xác định
qua kết quả đốt thử. Trên mỗi ô tiêu chuẩn tiến hành đốt thử trên 3 ô mẫu,
diện tích đốt thử là 1m2 (1m×1m). Trước khi đốt, xác định khối lượng VLC,
tốc độ gió, độ dốc... Trong quá trình đốt xác định chiều cao ngọn lửa, tốc độ
đám cháy, thời gian ngọn lửa cháy hết và ảnh hưởng của đám cháy tới hệ thực
vật rừng xung quanh. Khi đốt chuẩn bị đầy đủ các yêu cầu để đảm bảo an toàn
tránh để cháy lan.
+ Quan trắc các yếu tố khí tượng ở khu vực nghiên cứu
Để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố khí tượng đến độ ẩm vật liệu cháy
và nguy cơ cháy rừng, đề tài tiến hành quan trắc số liệu khí tượng bằng các
thiết bị của phòng thí nghiệm sinh thái môi trường của Trường cao đẳng Nông
Lâm Đông bắc. Các chỉ tiêu đo quan trắc như sau:
- Nhiệt độ không khí xác định bằng nhiệt kế điện tử có độ chính xác đến 0.10.
- Độ ẩm không khí được xác định bằng ẩm kế điện tử có độ chính xác đến
1%. Thời gian tổ chức quan trắc điều kiện khí tượng hiện trạng rừng là 42


* Xử lý và phân tích thông tin được thực hiện theo phương pháp thống kê
toán học trên máy vi tính bằng phần mềm Ecxel và SPSS.
Để đánh giá nguy cơ cháy rừng ở khu vực nghiên cứu, đề tài lựa chọn một
số trạng thái rừng chủ yếu ở thị xã Uông Bí. Sử dụng phương pháp chỉ số
canh tác cải tiến Ect có trọng số. Ở phương pháp này các yếu tố ảnh hưởng
đến cháy rừng sẽ có trọng số khác nhau. Số liệu được chuẩn hóa theo phương


24

pháp đối lập.
Với những yếu tố giá trị càng cao, càng làm tăng khả năng bén lửa và hình
thành đám cháy khởi đầu : Fij =
Với những yếu tố giá trị càng cao, càng làm giảm khả năng bén lửa và
hình thành đám cháy khởi đầu : Fij =
Tiến hành lập bảng tính điểm cho các trạng thái rừng, với trọng số và giá
trị của từng yếu tố từng trạng thái đã được chuẩn hóa.
Sau khi xác định Ect cho từng trạng thái, tiến hành phân chia chúng thành
các cấp nguy cơ cháy rừng cháy (NCCR) rừng khác nhau theo giá trị Ect
- Lập bản đồ quản lý cháy rừng thể hiện những thông tin:
Thông tin về bố trí các công trình PCCCR, trụ sở của Ban chỉ huy PCCCR
thị xã Uông Bí...
Nguy cơ cháy rừng ở trong khu vực được đánh giá theo 4 cấp:
Cấp I: Ít nguy hiểm
Cấp II: Trung bình
Cấp III: Cao
Cấp IV: Rất cao
Cơ sở phân cấp dựa vào tổng số các chỉ tiêu ở các trạng thái rừng: khối
lượng VLC, độ ẩm, chiều cao dưới cành, chiều cao thảm tươi, cây bụi, độ
dốc, hàm lượng dầu nhựa dễ cháy, vận tốc cháy của các trạng thái rừng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status