Tìm hiểu công tác biên tập – xuất bản cuốn cẩm nang thiết kế xây dựng công trình thủy” khóa luận tốt nghiệp - Pdf 44

Khóa luận tốt nghiệp

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NXB - Nhà xuất bản
GTVT - Giao thông vận tải
KHCN - Khoa học công nghệ
BTV - Biên tập viên

1


Khóa luận tốt nghiệp

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam có một hệ thống giao thông với đầy đủ các phương thức vận
tải. Sau hơn 20 năm đổi mới, giao thông vận tải nước ta đã có những bước
phát triển đáng kể về mọi mặt, song các dịch vụ vận tải, trật tự an toàn giao
thông, đặc biệt là cơ sở hạ tầng giao thông vẫn trong tình trạng yếu kém so
với các nước trong khu vực và thế giới.
Để khắc phục tình trạng trên, Đảng, Nhà nước và Bộ Giao thông vận tải
cần phải có hàng loạt các giải pháp đồng bộ, trong đó ứng dụng khoa học
công nghệ mới là một đòi hỏi cấp bách. Sách khoa học công nghệ, đặc biệt là
sách khoa học công nghệ giao thông vận tải là một trong những phương tiện
đắc lực nhất để cập nhật và phổ biến những tri thức đó.
Bờ biển Việt Nam dài 3.260 km, bao bọc lãnh thổ Việt Nam ở cả 3
hướng Đông, Nam và Tây Nam, trung bình 100 km2 đất liền có 11 km bờ
biển (cao gấp 6 lần tỷ lệ này của thế giới). Có thể nói, biển, đảo Việt Nam có
tiềm năng lớn, đa dạng; trong đó có tiềm năng phát triển kinh tế hàng hải.
Dọc bờ biển đã hình thành những trung tâm đô thị lớn, và hiện có 44
cảng biển lớn nhỏ; gần 100 địa điểm khác có thể xây dựng cảng (kể cả cảng ở

của Đại học Xây dựng.
Cẩm nang thiết kế xây dựng công trình thủy là tác phẩm mới nhất của
thầy được trình bày một cách khoa học, logic với một tình cảm sâu nặng dành
cho chuyên ngành khoa học mà ông dấn thân, cống hiến.
PGS., TSKH. Nguyễn Ngọc Huệ, hiện là Chủ tịch Vinalines - một trong
những chuyên gia hàng đầu về luồng lạch, cảng biển của Việt Nam đã nhận
xét: “Quyển Cẩm nang thiết kế xây dựng công trình thủy được tác giả Trần
Minh Quang thực hiện nghiêm túc, công phu và đầy tâm huyết ”.
3


Khóa luận tốt nghiệp

Cuốn sách cũng được Hội đồng khoa học giải thưởng sách hay Việt
nam đánh giá là một công trình có giá trị khoa học và thực tiễn, đại diện cho
mảng sách Khoa học công nghệ nói chung đạt giải vàng sách hay Việt Nam
năm 2013. Có thể nói, đấy là công trình có giá trị của PGS.TS. Trần Minh
Quang, cũng là một xuất bản phẩm thành công xuất sắc của NXB Giao thông
vận tải.
Như vậy, trong những năm qua, hoạt động xuất bản sách khoa học công
nghệ nói chung, sách khoa học công nghệ GTVT nói riêng đã có những bước
phát triển đáng kể cả về số lượng và chất lượng đã đóng góp tích cực trong
việc tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách phát triển KHCN của Đảng
và Nhà nước.
Trước tình hình đó, tôi lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu công tác biên tập –
xuất bản cuốn Cẩm nang thiết kế xây dựng công trình thủy” của NXB Giao
thông vận tải làm đề tài khóa luận tốt nghiệp năm 2014.
2. Tình hình nghiên cứu
Một số năm gần đây có một số đề tài khóa luận tốt nghiệp đã đề cập
đến mảng sách Khoa học công nghệ như:

NXB Giao thông vận tải.
- Rút ra một số bài học kinh nghiệm trong công tác biên tập - xuất bản
sách khoa học công nghệ, từ việc tìm hiểu quy trình biên tập – xuất bản cuốn
Cẩm nang thiết kế xây dựng công trình thủy.
4. Đối tượng , phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu

5


Khóa luận tốt nghiệp

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là công tác biên tập – xuất bản
cuốn Cẩm nang thiết kế xây dựng công trình thủy của PGS.TS. Trần Minh
Quang, xuất bản năm 2012 ở NXB Giao thông vận tải.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Các lý thuyết cơ bản về biên tập sách khoa học công nghệ và quy trình
biên tập xuất bản cuốn Cẩm nang thiết kế xây dựng công trình thủy của
PGS.TS. Trần Minh Quang.
5. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được trình bày căn cứ vào những kiến thức đã được học tại
trường thông qua giáo trình và tài liệu tham khảo của Khoa Xuất bản – Học
viện Báo chí và Tuyên truyền, kết hợp với thực tế công tác biên tập – xuất bản
tại NXB Giao thông vận tải.
Khóa luận sử dụng các phương pháp: phân tích – tổng hợp, thống kê,
thu thập dữ liệu, so sánh, tra cứu...
6. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Mục lục, Phụ lục,
Nội dung khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về sách Khoa học công nghệ và công

Những tri thức được hình thành từ các khái niệm khoa học tạo nên nội
dung chủ yếu của các tác phẩm KHCN. Vì vậy sách KHCN chứa đựng các tri
thức khoa học, các thông tin KHCN đa dạng.
Chúng ta đang sống trong thời đại cách mạng KHCN rất sôi động. Đó
là thời đại của công nghệ tin học, thông tin viễn thông, công nghệ vật liệu cao
cấp, trí tuệ nhân tạo... đã diễn ra quá trình vừa thống nhất vừa phân chia sâu
7


Khóa luận tốt nghiệp

sắc các ngành khoa học thành lĩnh vực chuyên biệt, vừa kết hợp, đan xen giữa
các ngành khoa học với nhau. Bởi vậy để ghi lại các kết quả nghiên cứu các
ngành khoa học, sách KHCN thường truyền tải lượng thông tin, tri thức mới
và có ích cho nhu cầu cuộc sống, học tập, nghiên cứu, ứng dụng KHCN.
Có thể hiểu rằng sách KHCN là một trong những loại hình sách thuộc
đối tượng của hoạt động xuất bản. Nội dung phản ánh nhận thức của loài
người về thế giới tự nhiên, xã hội và bản thân thông qua các khái niệm khoa
học.
Tóm lại, sách KHCN là bản thảo chứa nội dung KHCN được biên tập,
in ấn và phổ biến rộng rãi cho bạn đọc.
1.2. Đặc biểm sách KHCN
Về nội dung, sách KHCN có nội dung tri thức khoa học mà con người
đã tạo ra trong suốt quá trình chinh phục thiên nhiên, do đó bao gồm những tri
thức cũ và mới,có thể là các thông tin mới từ các cơ sở nghiên cứu, cũng có
thể là các thông tin cấp 2 tuyển chọn từ các tạp chí, báo chuyên ngành...
Về hình thức, sách KHCN được biểu đạt theo phong cách ngôn ngữ
khoa học, ngắn gọn, khúc chiết, logic chặt chẽ, một nghĩa và phi hình tượng.
Sử dụng nhiều khái niệm, thuật ngữ mang tính chuyên ngành rõ rệt và
tính hệ thống cao; nhiều danh từ, đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, biểu thị sự

dưỡng... ngày càng có nhu cầu thực tiễn và tương lai khả quan.
1.4. Một số lưu ý trong công tác biên tập – xuất bản sách KHCN
Biên tập – xuất bản sách KHCN cũng như các loại sách khác trải qua
những khâu cơ bản như sau:
Đăng kí KHĐT – Xây dựng đề cương bản thảo – kí hợp đồng – tiếp
nhận bản thảo – biên tập và nhận xét bản thảo – trình duyệt bản thảo trước khi
đưa in – theo dõi in, nộp lưu chiểu, phát hành.
9


Khóa luận tốt nghiệp

Nhìn chung, quy trình biên tập – xuất bản một cuốn sách KHCN không
khác nhiều so với các loại sách khác, tuy nhiên, trong quá trình biên tập cần
lưu ý đặc biệt một số điểm như sau:
Nội dung: khoa học chính xác, các trị thức có tính mới mẻ, hệ thống.
Phong cách ngôn ngữ khoa học, ngắn gọn, khúc chiết, logic chặt chẽ,
một nghĩa, phi hình tượng.
Thống nhất các khái niệm, từ ngữ chuyên ngành.
Sách KHCN có sử dụng nhiều bảng biểu, số liệu, hình ảnh, , bản đồ,...
2. Công tác biên tập – xuất bản sách KHCN tại NXB GTVT
2.1. Vài nét về NXB Giao thông vận tải
NXB Giao thông vận tải là nhà xuất bản hoạt động theo mô hình đơn vị
sự nghiệp. Được thành lập theo quyết định số 195/TH – TW ngày 10/5/1983
của Ban Tuyên huấn Trung ương, Quyết định số 63/VH – QĐ ngày 9/6/1983
của Bộ Văn hóa và Quyết định số 1453/ TCCB ngày 7/7/1983 của Bộ Giao
thông vận tải.
- Tên gọi đầy đủ bằng tiếng Việt: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một
thành viên Nhà xuất bản Giao thông vận tải
- Tên gọi ngắn gọn: Nhà xuất bản Giao thông vận tải

hóa – hiện đại hóa của ngành GTVT trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam
đang hội nhập nền kinh tế quốc tế.
Nâng cao vai trò của NXB đối với các hoạt động chính trị, tư tưởng,
sản xuất – kinh doanh, đào tạo nguồn nhân lực, tuyên truyền giáo dục truyền
thống trong ngành GTVT và xã hội.

11


Khóa luận tốt nghiệp

Nâng cao vị thế của NXB đối với ngành xuất bản Việt Nam, xây dựng
được niềm tin của bạn đọc đới với các xuất bản phẩm của nhà xuất bản, xây
dựng Nhà xuất bản thành thương hiệu mạnh, khẳng định được vai trò quyết
định, then chốt của hoạt động xuất bản đối với sự phát triển của nhà xuất bản.
- Về hoạt động in: Nâng cao hiệu quả của hoạt động in đối với việc,
góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ xuất bản, định hướng hoạt động in
nhằm tạo điều kiện về cơ chế và nguồn vốn cho hoạt động in tiếp cận được
với công nghệ sản xuất hiện đại, tăng tính chủ động sáng tạo trong hoạt động,
xây dựng cơ sở vật chất, tạo tiền đề cho hoạt động in gắn kết với hoạt động
sản xuất kinh doanh của Nhà xuất bản, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
- Về phát hành: Xây dựng mạng lưới phát hành bán buôn trong cả nước
thông qua hệ thống thư viện và các tổ chức phát hành chuyên nghiệp trong cả
nước, chú trọng đến việc phát hành đến tận người đọc trong ngành giao thông
vận tải thông qua hệ thống thư viện của các đơn vị trong ngành, các trường,
các cơ sở của ngành Giao thông vận tải.
Phát triển hình thức phát hành hướng đến chuyên nghiệp hóa cao theo
hình thức bán hàng truyền thống và bán hàng trục tuyến.
Xây dựng cơ chế chính sách liên doanh liên kết phù hợp với sự phát
triển của thị trường xuất bản phẩm nhằm tạo ra hiệu quả cao cho nhà xuất

+ Liên kết xuất bản với các tổ chức, cá nhân kinh doanh xuất bản
phẩm.
+ In sách, báo, tạp chí và các loại văn hoá phẩm khác; các dịch vụ liên
quan đến in.
+ Quảng cáo, kinh doanh thiết bị văn phòng, văn hoá phẩm.
+ Tổ chức giới thiệu và xúc tiến thương mại.
Qua hơn 30 năm hình thành và phát triển, NXB Giao thông vận tải luôn
là đơn vị có hoạt động góp phần tích cực vào sự phát triển của ngành, số tên
sách xuất bản trung bình hằng năm đạt tên 302 tên sách, số bản in đạt hàng
triệu bản, số lượng cán bộ công nhân viên trên 10 người, trong đó 30% là biên
tập viên; cơ cấu tổ chức được hình thành mô hình khép kín: xuất bản – in và
phát hành theo hướng chuyên môn hóa ngày càng cao; Ngoài khối văn phòng
chính và một số đơn vị thành viên đóng tại Hà Nội, Nhà xuất bản còn phát
triển được chi nhánh ở thành phố Hồ Chí Minh và đại diện miền trung. Doanh
thu toàn NXB hàng năm đạt khoảng 25 tỷ, đảm bảo đời sống cho cán bộ công
nhân viên.
Từ khi thành lập đến nay NXB Giao thông vận tải đã khẳng định được
vị trí, vai trò và sự trưởng thành của mình được Nhà nước, Bộ Giao thông vận
tải truy tặng nhiều danh hiệu và phần thưởng quý giá:
- Huân chương Lao động hạng Ba của Chủ tịch nước tặng tập thể CB –
CNV Nhà xuất bản năm (2003);
14


Khóa luận tốt nghiệp

- Thủ tướng chính phủ tặng Bằng khen cho tập thể CB – CNV Nhà xuất
bản (2001);
- Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam tặng Bằng khen cho tập
thể CB – CNV Nhà xuất bản ( các năm 1989, 1999, 2000, 2002, 2005);

thích ( học tập theo nghĩa rộng). Bởi vậy, sách KHCN chuyển tải tri thức
KHCN và chỉ chuyển tải tri thức, thông tin KHCN mà thôi. Trong khi đó,
sách giáo khoa về khoa học tự nhiên và kĩ thuật ngoài trí thức khoa học còn
bao chứa cả các thông tin mang tính chất sư phạm: thông tin hướng dẩn,
kiểm tra, ôn luyện…Đồng thời, sách giáo khoa là sách dùng để giảng dạy và
học tập nên chỉ chuyển tải những tri thức đã được trải nghiệm, được thừa
nhận, được tuyển lựa và hệ thống hóa trong các chương trình quy định trước.
Các loại sách tra cứu, từ điển hoặc là loại sách tri thức tổng
hợp( lượng thông tin KHCN nếu có thì không nhiều và không hoàn toàn là
thông tin trí thức), hoặc là sách chuyên ngành KHCN, cũng được xem là một
loại của sách KHCN. Ở đây có một cách hiểu linh hoạt khi phân chia các
loại hình sách. Ví dụ, cẩm nang về cơ khí chế tạo máy, vật liệu xây dựng,
thăm dò địa chất…thì nội dung kỹ thuật của nó là quan trọng hơn nó là sách
tra cứu hay là sách thông thường.
Các tiêu chí trên cũng quy định cách chọn lựa đề tài sách KHCN.
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, không thể công bố tất cả các kết
quả nghiên cứu dưới dạng sách, NXB chỉ chọn lựa những đề tài phù hợp với
định hướng phát triển KHCN và kinh tế, có mục đích và công dụng rõ rệt và
có người đọc tối thiểu thực sự cần đến sách. Các thông tin còn lại có thể
được chuyển tải qua các trung tâm dịch vụ thông tin, các báo và tạp chí
chuyên ngành. Nội dung của sách KHCN có thể là thông tin mới từ các cơ
sở nghiên cứu, cũng có thể là “thông tin cấp 2” tuyển chọn từ các tạp chí,
báo chuyên ngành. Các thông tin KHCN đó phải đảm bảo tính chính xác,
chân thực, mới mẻ, có ích, có hệ thống…
16


Khóa luận tốt nghiệp

Nội dung của sách KHCN GTVT phải phản ánh những quá trình xây

nghĩa mơ hồ. Trong sách KHCN, phong cách ngôn ngữ KHKT chịu ảnh
hưởng nhiều của văn phong phương Tây, nên thường có nhiều từ nối ý, làm
cho câu văn chặt chẽ có mối liên kết nhân quả, chính phụ, logic rõ ràng. Câu
văn trong sách KHKT thường có cấu trúc đơn giản, rõ ràng, ngắn gọn song
đôi khi cũng có nhưng câu lập luận phức tạp gồm hai, ba mệnh đề.
Phong cách ngôn ngữ của sách KHCN GTVT là phong cách ngôn ngữ
KHCN chuyên ngành GTVT. Nó chính xác, chặt chẽ, rõ ràng và tuân theo
một trình tự nhất định, tùy theo những vấn đề mà tác giả định truyền đạt.
Nhiều cuốn sách được diễn giải dưới dạng ngôn ngữ, hình vẽ, bảng biểu.
Một số khác được diễn đạt bằng ngôn ngữ hành chính, pháp lý như các loại
sách quy trình, quy phạm, luật lệ giao thông, nhưng vẫn đảm bảo tính khoa
học, chính xác, rõ ràng.
Ngôn ngữ trong sách KHCN GTVT còn dùng nhiều thuật ngữ chuyên
ngành GTVT, nhiều thuật ngữ nước ngoài với một số thuật ngữ đã được
quốc tế hóa.
* Kết cấu
Tính hệ thống của thông tin KHCN đòi hỏi nội dung tri thức có kết
cấu chương, mục, tiểu mục chặt chẽ thể hiện sự liên kết nội tại của tri thức
khoa học.
Cấu trúc của sách KHCN GTVT thường theo phần, chương, mục và
theo một trình tự logic chặt chẽ. Nghệ thuật cấu trúc sách KHCN GTVT
mang sác thái của nghệ thuật mỹ thuật công nghiệp. Sự hài hòa giữa các
yếu tố trong cuốn sách như kiểu chữ, hình vẽ, công thức, biểu bảng là cơ
sở cho việc trình bày theo các cách khác nhau, nhưng mỗi yếu tố trong
cuốn sách phải có nét đặc thù phù hợp với nội dung đảm bảo sự hài hòa
giữa các yếu tố.
18


Khóa luận tốt nghiệp

Khóa luận tốt nghiệp

thi công công trình giao thông. Loại sách này nhằm giới thiệu cho đọc giả
những kiến thức về thiết kế, cấu tạo, nguyên lí làm việc, vật liệu chế tạo, hướng
dẫn sử dụng, bảo dưỡng và sửa chữa các phương tiện giao thông, như ô tô, tàu
thủy, tàu hỏa, máy bay, máy móc thi công chuyên dùng… Ngoài ra sách còn
giới thiệu cho đọc giả biết về tính năng của từng loại phương tiện GTVT trong
quá trình khai thác và sử dụng chúng trong các điều kiện khác nhau.
- Sách phổ biến kiến thức cơ sở hạ tầng giao thông
Đây là loại sách phổ biến các kiến thức về công trình giao thông như:
cầu đường bộ, cầu đường sắt, đường sắt, đường bộ, sân bay, bến cảng…loại
sách này giới thiệu cho độc giả các kiến thức khảo sát địa chất, thủy văn
công trình, thiết kế, vật liệu xây dựng, thi công, duy tu bảo dưỡng… các loại
công trình giao thông.
- Sách phổ biến kiến thức vận tải, bảo vệ môi trường trong giao thông
Loại sách này có nội dung về khai thác kỹ thuật, nghiệp vụ vận tải,
xếp dỡ, giao nhận trong vận tải đường sắt, đường thủy, đường bộ và đường
không; nó cung cấp cho độc giả những kiến thức khoa học kỹ thuật về tổ
chức và quy hoạch vận tải, các phương pháp vận tải tiên tiến, tính năng về
kinh tế - kỹ thuật của từng loại phương tiện vận tải (hành khách, hàng hóa và
hàng đặc biệt). Qua đó độc giả biết tính toán, lựa chọn phương tiện và xác
định phương án vận tải cần thiết để chuyên chở mặt hàng của mình sao cho
hiệu quả,an toàn và giá cước hợp lý nhất, không lãng phí phương tiện. Ngoài
ra loại sách này còn có nội dung về đảm bảo môi trường với các loại phương
tiện tham gia GTVT.
b. Sách hướng dẫn kỹ thuật

20




Khóa luận tốt nghiệp

e. Sách giáo trình, giáo khoa
Đây là loại sách đặc biệt trong các trường học, lớp học để đào tạo
nguồn lực cho ngành và đất nước từ bậc công nhân kỹ thuật đến trên đại học.
Nội dung của sách được biên soạn dựa theo chương trình đào tạo được Nhà
nước, Bộ giáo dục đào tạo, Bộ GTVT, Bộ Lao động và Thương binh xã hội
ban hành cho từng ngành, nghề, bậc đào tạo…nhất định trong lĩnh vực
GTVT nhằm đạt mục tiêu giáo dục đề ra. Do đó mà nội dung sách được trình
bày một cách hệ thống và ổn định trong một thời gian dài những kiến thức
của môn học theo một chương trình đã xác định
f. Sách nghiên cứu khoa học và tra cứu chỉ dẫn GTVT
Đây là loại sách chứa đựng những tri thức cơ bản, hệ thống về các
lĩnh vực GTVT được sắp xếp theo những tiêu chí nhất định phục vụ cho nhu
cầu tìm hiểu, học tập, nghiên cứu của cán bộ, công nhân kỹ thuật trong và
ngoài ngành. Nó có nhiệm vụ cung cấp những thông tin khoa học và những
kinh nghiệm nhiều mặt của các lĩnh vực GTVT như đường bộ, đường sắt,
đường thủy và đường hàng không, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển
khoa học- công nghệ, cho sự nghiệp CNH- HĐH ngành và đất nước, nó như
một công cụ sắc bén và hữu hiệu trong việc cung cấp thông tin về GTVT.
Loại sách này gồm các loại từ điển khái niệm, ngôn ngữ chuyên
ngành GTVT, sách sổ tay tra cứu, chỉ dẫn thông thường trong việc tra cung
cấp tri thức, kinh nghiệm và thông tin dịch vụ trong các lĩnh vực GTVT.
Nội dung khoa học của sách nghiên cứu khoa học và tra cứu chỉ dẫn
trong GTVT thể hiện ở tính chính xác cao, gần chân lí. Do đó phải đảm bảo
chất lượng khoa học cần thiết. Hơn nữa tính khoa học còn được thể hiện
ngay trong hình thức trình bày để thể hiện nội dung. Các vấn đề để thể hiện
nội dung của sách thường được trình bày chặt chẽ, sáng rõ, chính xác với
22

hoàn thiện bản
thảo

Theo dõi in và
phát hành

Hiện nay công tác biên tập sách KHCN ở NXB GTVT được giao cho
Ban biên tập sách KHCN của nhà xuất bản đảm nhiệm. Ban biên tập sách
23


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa học công nghệ hiện nay là sự hợp nhất từ các Ban biên tập sách Cơ khí
công trình, Quy trình quy phạm Giao thông vận tải và Kinh tế vận tải. Là đơn
vị chủ chốt đảm nhiệm mảng đề tài chủ yếu và lớn nhất phục vụ thiết thực
nhiệm vụ chính trị của Nhà xuất bản Giao thông vận tải.
Tiểu kết:
Như vậy, sách KHCN GTVT là một trong những đối tượng của hoạt
động xuất bản, có vai trò quan trọng trong việc truyền bá, phổ biến tri thức
KHCN nói chung, KHCN lĩnh vực GTVT nói riêng, góp phần to lớn vào việc
xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng của Đảng và Nhà nước.
Sách KHCN GTVT vừa mang những đặc điểm chung của một xuất bản phẩm,
vừa có những đặc trưng riêng của nó, vì vậy trong công tác biên tập – xuất
bản, BTV cần hết sức chú ý đến những đặc trưng này, nhằm thực hiện những
nhiệm vụ và yêu cầu cụ thể của quy trình biên tập - xuất bản sách KHCN
GTVT để cho ra đời những xuất bản phẩm có giá trị.

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status