Nâng cao công tác huy động vốn tại công ty Cổ phần xây dựng Hà Nội CPM Khóa luận tốt nghiệp ngành Tài chính - Pdf 41

Header Page 1 of 161.
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

NÂNG CAO CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG
HÀ NỘI CPM

SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN THANH HÀ
MÃ SINH VIÊN

: A16129

CHUYÊN NGÀNH

: TÀI CHÍNH

HÀ NỘI - 2014

Footer Page 1 of 161.


Header Page 2 of 161.
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
---o0o---

hiện bài khóa luận tốt nghiệp này.
Em cũng xin gửi lời biết ơn đến toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Thăng
Long, đặc biệt là các thầy cô khoa kinh tế quản lý đã truyền đạt những kiến thức quý
báu là nền tảng giúp em thực hiện đề tài này.
Khóa luận hoàn thành còn nhờ sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Ban giám đốc và cán
bộ nhân viên phòng Tài chính – Kế toán của Công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 24 tháng 03 năm 2014
Sinh viên

Nguyễn Thanh Hà

Footer Page 3 of 161.


Header Page 4 of 161.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ
trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người
khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong khóa luận là có nguồn gốc và được
trích dẫn rõ ràng.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên

Nguyễn Thanh Hà

Footer Page 4 of 161.

Thang Long University Library

2.3. Thực trạng công tác huy động vốn tại công ty CPXD HNCPM .....................34
2.3.1. Cơ cấu nguồn vốn của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM ...................34
2.3.2. Các phương thức huy động vốn tại công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM .......38
2.4. Đánh giá công tác huy động vốn tại công ty CP Xây dựng Hà Nội CPM .....42
2.4.1. Đánh giá một số nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn tại công ty
Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM .................................................................................42

Footer Page 5 of 161.


Header Page 6 of 161.
2.4.2. Đánh giá thực trạng huy động vốn tại công ty CP XD Hà Nội CPM .............43
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG HÀ NỘI CPM .................................................46
3.1. Định hƣớng phát triển của công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM ...........46
3.2. Giải pháp tăng cƣờng công tác huy động vốn tại công ty Cổ phần Xây dựng
Hà Nội CPM .................................................................................................................46
3.2.1. Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh..........................................................46
3.2.2. Bảo toàn và sử dụng hiệu quả nguồn vốn hiện có...........................................48
3.2.3. Giảm vốn bị chiếm dụng....................................................................................49
3.2.4. Tăng cường huy động nguồn vốn nội bộ .........................................................50
3.2.5. Phát hành trái phiếu ..........................................................................................50
3.3. Kiến nghị đến cơ quan chức năng .....................................................................51
KẾT LUẬN

Footer Page 6 of 161.

Thang Long University Library




LN

Lợi nhuận

NH

Ngắn hạn

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

TSCĐ

Tài sản cố định

TSNH

Tài sản ngắn hạn

XD

Xây dựng

Footer Page 7 of 161.


Header Page 8 of 161.
DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ

đứng vững và phát triển, doanh nghiệp cũng cần có vốn. Vốn càng lớn thì quy mô và
tiềm lực của doanh nghiệp càng lớn. Có thể nói, vốn là nhân tố sản xuất quan trọng,
quyết định sự hình thành của doanh nghiệp, là điều kiện của sản xuất kinh doanh, là
yếu tố cơ bản để doanh nghiệp cạnh tranh và tồn tại. Chính vì vậy, huy động vốn trong
doanh nghiệp là vấn đề được các nhà quản lý ưu tiên hàng đầu.
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt cùng với cơ chế quản lý
đổi mới, huy động vốn càng là vấn đề được các doanh nghiệp quan tâm hơn khi nhu
cầu vốn mà các doanh nghiệp cần cho phục vụ sản xuất kinh doanh vượt quá khả năng
đáp ứng từ nội bộ, bắt buộc phải tiến hành huy động từ các nguồn khác bên ngoài. Câu
hỏi được các nhà quản lý đặt ra là nên huy động vốn từ những nguồn nào? Kết hợp sử
dụng các nguồn với tỷ lệ như thế nào cho phù hợp và mang lại hiệu quả tối ưu?
Là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, công ty Cổ phần Xây
dựng Hà Nội CPM cũng đang đứng trước vấn đề làm thế nào giải quyết tốt bài toán
huy động vốn nhằm giúp công ty phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh, uy tín và
thương hiệu trên thị trường. Nhận thấy tầm quan trọng và sự cần thiết của công tác huy
động vốn, dưới sự giúp đỡ của Ban giám đốc và cán bộ, nhân viên công ty cùng với sự
hướng dẫn tận tình của thầy giáo - ThS. Trịnh Trọng Anh, em đã quyết định lựa chọn
đề tài: “Nâng cao công tác huy động vốn tại công ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM”
làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Khóa luận “Nâng cao công tác huy động vốn tại công ty Cổ phần Xây dựng Hà
Nội CPM” được lựa chọn nhằm giải quyết các mục đích cơ bản sau:
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về huy động vốn của doanh nghiệp;
Đánh giá thực trạng tình hình công tác huy động vốn tại công ty Cổ phần Xây dựng
Hà Nội CPM;
Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác huy động vốn cho doanh
nghiệp trong thời gian tới.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hiệu quả công tác huy động vốn của công
ty Cổ phần Xây dựng Hà Nội CPM.

1.1.1. Khái niệm vốn
Vốn là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình đầu tư và hoạt động sản xuất kinh
doanh. Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, ở các hoàn cảnh kinh tế khác nhau
có nhiều quan niệm về vốn:
Theo nghĩa hẹp: “Vốn là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp,
mỗi quốc gia”.
Theo nghĩa rộng: “Vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản
xuất hàng hóa, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức kinh tế, kỹ
thuật của doanh nghiệp được tích lũy, sự khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp
của các cán bộ điều hành cùng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, uy
tín của doanh nghiệp”. Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác đầy
đủ hiệu quả của vốn trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, việc xác định vốn theo
quan điểm này rất khó khăn phức tạp nhất là khi nước ta trình độ quản lý kinh tế còn
chưa cao và pháp luật chưa hoàn chỉnh.
Dưới góc độ các yếu tố sản suất, nhà triết học Karl Marx cho rằng: “Vốn (tư bản)
là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là đầu vào của quá trình sản suất”. Định nghĩa của
Marx về vốn có tầm khái quát lớn vì nó bao hàm đầy đủ bản chất và vai trò của vốn.
Bản chất của vốn là giá trị, mặc dù nó được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau
như: tài sản cố định, nguyên vật liệu, tiền công… Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ
phát triển của nền kinh tế, Marx chỉ bó hẹp khái niệm về vốn trong khu vực sản suất
vật chất và cho rằng chỉ có quá trình sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh
tế. Đây là một hạn chế trong quan niệm về vốn của Marx.
David Begg đưa ra định nghĩa trong cuốn “Kinh tế học” rằng: “Vốn hiện vật là
giá trị của hàng hóa đã sản xuất được sử dụng để tạo ra hàng hóa và dịch vụ khác.
Ngoài ra còn có vốn tài chính. Bản thân vốn là một hàng hóa nhưng được tiếp tục sử
dụng vào sản xuất kinh doanh tiếp theo”. Quan điểm này đã cho thấy nguồn gốc hình
thành và trạng thái biểu hiện của vốn.
Nhà kinh tế học theo trường phái “Tân cổ điển” Paul Samuelson cho rằng: “Vốn
là hàng hóa được sản xuất ra để phục vụ quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho sản
xuất của một doanh nghiệp”. Định nghĩa này đồng nhất vốn với tài sản của doanh

nhất, tránh rủi ro, nhằm bảo toàn và phát triển vốn. Vốn trong doanh nghiệp được phân
chia theo nhiều cách khác nhau tùy theo mục đích, giác độ tiếp cận.
1.1.2.1. Phân loại vốn theo nguồn hình thành
Theo cách thức này, vốn được chia làm 2 loại: Vốn chủ sở hữu và Nợ phải trả
Vốn chủ sở hữu:
Đây là nguồn vốn đầu tiên và cơ bản của doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu là phần
vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành viên trong công ty liên
doanh hoặc các cổ đông trong công ty cổ phần. Đây là nguồn vốn có tính an toàn do
doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán và trả lãi suất. Vốn chủ sở hữu bao gồm:
Vốn góp ban đầu: Là nguồn vốn hình thành ban đầu do các chủ sở hữu doanh
nghiệp đóng góp, tùy thuộc vào hình thức doanh nghiệp:
Doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước: Vốn đầu tư ban đầu của Nhà nước;
Doanh nghiệp tư nhân: Vốn đầu tư ban đầu của chủ doanh nghiệp;

Footer Page 12 of 161.

2

Thang Long University Library


Header Page 13 of 161.
Công ty TNHH, liên doanh: Vốn góp do một thành viên (công ty TNHH 1
thành viên) hoặc nhiều thành viên (công ty TNHH từ hai thành viên trở lên)
sáng lập cùng góp;
Công ty Cổ phần: Vốn cổ phần do các cổ đông sáng lập đầu tư;
Công ty có vốn đầu tư nước ngoài: Vốn do chủ đầu tư nước ngoài bỏ ra.
Ngoài ra vốn góp ban đầu cũng có thể được kết hợp bởi nhiều chủ sở hữu khác
nhau, chẳng hạn như vừa có vốn cấp của Nhà nước vừa có vốn góp tư nhân hay vừa có
vốn của chủ đầu tư nước ngoài vừa có chủ đầu tư trong nước cùng đóng góp (công ty


3


Header Page 14 of 161.
lãi sau một thời gian nhất định. Chi phí lãi vay là chi phí hợp lý do đó không phải chịu
thuế thu nhập doanh nghiệp. Nợ phải trả bao gồm:
Vay ngân hàng: Là nguồn vốn phổ biến nhất đối với tất cả các loại hình
doanh nghiệp. Vốn vay ngân hàng được chia theo thời gian vay: vay ngắn hạn (dưới 1
năm), vay trung hạn (1-3 năm) và vay dài hạn (3 năm trở lên). Doanh nghiệp phải trả
lãi khoản vay theo hợp đồng đã cam kết trước và chịu sự kiểm soát của ngân hàng đối
với quá trình sử dụng phần vốn vay theo đúng mục đích ban đầu.
Tín dụng thương mại: Là nguồn vốn doanh nghiệp chiếm dụng của người
bán, hay là khoản tín dụng thương mại người bán cung cấp cho doanh nghiệp, được
hình thành trong hoạt động mua trả chậm hay trả góp. Tuy nhiên giá trị khoản vay này
thường không lớn và chỉ chiếm dụng được trong thời gian ngắn.
Phát hành trái phiếu: Trái phiếu là một chứng nhận nghĩa vụ nợ của doanh
nghiệp phát hành phải trả cho người sở hữu trái phiếu một khoản tiền cụ thể (mệnh giá
của trái phiếu), trong một thời gian xác định và với một lợi tức quy định. Khi phát
hành trái phiếu, doanh nghiệp cần chú ý đến độ hấp dẫn của trái phiếu dựa trên: uy tín
của doanh nghiệp, lãi suất trái phiếu, mệnh giá trái phiếu…
Các khoản nợ khác: Các khoản nợ như: nợ vay tổ chức tín dụng, vay cá nhân
v.v… và các khoản vốn chiếm dụng khác như: phải trả công nhân viên, phải trả phải
nộp ngân sách v.v… Khoản nợ này có thể được duy trì và bổ sung hằng năm, nhưng
giá trị thường không lớn, chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp.
1.1.2.2. Phân loại vốn theo vai trò và tính chất luân chuyển
Theo vai trò và tính chất luân chuyển của vốn, ta chia vốn làm 2 loại là: Vốn cố
định và Vốn lưu động.
Vốn cố định:
Vốn cố định là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định mà đặc

ứng với sự suy giảm dần giá trị sử dụng tài sản cố định. Kết thúc quá trình vận động
đó cũng là lúc tài sản cố định hết thời gian sử dụng và vốn cố định cũng hoàn thành
một vòng luân chuyển.
Vốn lƣu động:
Vốn lưu động là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư, mua sắm tài sản lưu động của
doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên
tục. Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động hay nguồn vốn mà doanh
nghiệp dùng để tài trợ cho các tài sản ngắn hạn. Tài sản lưu động là những tài sản ngắn
hạn, thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh. Tài sản lưu động tồn tại
dưới dạng dự trữ sản xuất (nguyên vật liệu, bán thành phẩm, công cụ, dụng cụ... ), sản
phẩm đang trong quá trình sản xuất (sản phẩm dở dang), thành phẩm, chi phí tiêu thụ,
tiền mặt... trong giai đoạn lưu thông. Trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp thì
tài sản lưu động chủ yếu được thể hiện ở các bộ phận là tiền mặt, các chứng khoán có
thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ tồn kho.
Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình
thái vật chất ban đầu. Vì vậy giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá
trị sản phẩm. Khởi đầu vòng tuần hoàn vốn, vốn lưu động từ hình thái tiền tệ ban đầu
chuyển sang hình thái vốn vật tư hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất. Kết thúc vòng tuần
hoàn, sau khi sản phẩm được tiêu thụ, vốn lưu động lại trở về hình thái tiền tệ như
điểm xuất phát ban đầu của nó. Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lưu động hoàn thành
một vòng luân chuyển.
1.1.2.3. Phân loại vốn theo thời gian huy động và sử dụng
Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn có thể phân chia nguồn vốn doanh
nghiệp thành hai loại: nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.

Footer Page 15 of 161.

5




K: vốn
T: công nghệ

Là một trong các yếu tố đầu vào cơ bản của sản xuất, bên cạnh yếu tố lao động
và công nghệ, vốn được coi là điều kiện đầu tiên và quyết định của quá trình sản xuất.
Khi có vốn, doanh nghiệp có thể sử dụng để thuê lao động và mua công nghệ. Đây là
tất cả những điều kiện cần có để một doanh nghiệp có thể tiến hành sản xuất kinh
doanh thường xuyên, liên tục và duy trì các hoạt động cuả mình nhằm đạt được những
mục tiêu đã đặt ra.

Footer Page 16 of 161.

6

Thang Long University Library


Header Page 17 of 161.
Cuối cùng, vốn là điều kiện để doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh
doanh. Khi doanh nghiệp đảm bảo nhu cầu về vốn thì doanh nghiệp có khả năng chủ
động trong hình thức kinh doanh, thay đổi nâng cấp máy móc, trang thiết bị hiện đại,
đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu thị trường, quảng cáo, mở rộng quy mô sản xuất
kinh doanh cả về chiều rộng và chiều sâu. Điều này mang lại cho doanh nghiệp nhiều
lợi thế như: cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng và giảm giá thành sản phẩm, tăng
thu nhập cho người lao động… Từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và uy tín
của doanh nghiệp giúp tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Tóm lại, vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu, là điều kiện không thể thiếu để thành
lập, tiến hành sản xuất, tái sản xuất và mở rộng sản xuất kinh doanh của một doanh
nghiệp. Bởi vậy, để đứng vững và cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường hiện nay,

Header Page 18 of 161.
1.2.1.2. Huy động từ lợi nhuận để lại (RE)
Nguồn vốn góp từ lợi nhuận để lại chính là một phần lợi nhuận dùng để tái đầu
tư. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp hoạt động có
hiệu quả thì sẽ có điều kiện thuận lợi để tăng trưởng nguồn vốn. Lợi nhuận không chia
đối với các loại hình doanh nghiệp cũng khác nhau:
Đối với doanh nghiệp tư nhân: RE = lợi nhuận sau thuế.
Đối với công ty cổ phần: RE = lợi nhuận sau thuế sau khi đã chia cổ tức.
Việc huy động vốn bằng nguồn lợi nhuận để lại có những lợi ích và hạn chế nhất
định. Đây là hình thức huy động vốn không tốn kém chi phí, không làm loãng quyền
kiểm soát doanh nghiệp và không phải hoàn trả. Phương pháp này giúp doanh nghiệp
không phụ thuộc vào thị trường vốn nên tránh được chi phí huy động vốn, ví dụ như
chi phí lãi vay. Vì nguồn lợi nhuận để lại thuộc vốn chủ sở hữu nên nó cũng giúp
doanh nghiệp gia tăng mức độ tự chủ. Tuy nhiên, việc huy động từ lợi nhuận để lại chỉ
áp dụng với các doanh nghiệp lớn, làm ăn có lãi liên tục và đều đặn, không thể áp
dụng thường xuyên vì nó làm ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông. Hay nói cách
khác, việc doanh nghiệp có được bao nhiêu vốn bằng lợi nhuận để lại còn phụ thuộc
vào tỷ lệ chi trả cổ tức cho cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. Công thức để tính tỷ lệ
lợi nhuận để lại và tỷ lệ chi trả cổ tức được trình bày như dưới đây:
Mức thu nhập giữ lại

Tỷ lệ lợi nhuận để lại =

Thu nhập sau thuế
Tổng giá trị cổ tức

Tỷ lệ chi trả cổ tức =

Thu nhập sau thuế


Là loại cổ phiếu được phát hành bằng lợi nhuận để lại hoặc các nguồn vốn chủ sở
hữu hợp pháp khác và không có sự ưu tiên đặc biệt nào trong chi trả cổ tức hay thanh
lý tài sản khi doanh nghiệp phá sản. Thời hạn của cổ phiếu là vĩnh viễn, cổ tức không
ổn định theo từng năm, phụ thuộc vào lợi nhuận sau thuế và chính sách của công ty.
Cổ đông có quyền bỏ phiếu bầu ra người điều hành, được quyền chuyển nhượng quyền
sở hữu cổ phần và là người cuối cùng nhận tài sản khi công ty phá sản.
Cổ phiếu ưu đãi:
Là loại cổ phiếu cho phép người nắm giữ hưởng một số quyền lợi ưu đãi hơn so
với cổ đông thường. Cổ phiếu phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phiếu ưu đãi,
trong khi cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông theo quyết định
của Đại hội cổ đông. Cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi được gọi là cổ đông ưu đãi. Cổ
phiếu ưu đãi có cổ tức xác định trước, tức là dù lợi nhuận sau thuế là bao nhiêu thì cổ
đông vẫn nhận được một khoản cổ tức không đổi. Người sở hữu cổ phiếu này có
quyền thanh toán lãi trước các cổ đông thường. Việc chi trả cho cổ đông thường chỉ
sau khi đã chi trả hết cho cổ đông năm giữ cổ phiếu ưu đãi, vì thế được ưu tiên chia
vốn khi công ty phá sản hoặc hết thời gian hoạt động.. Cổ phiếu ưu đãi bao gồm: cổ
phiếu ưu đãi cổ tức (cổ phiếu ưu đãi tham dự và không tham dự chia phần, cổ phiếu ưu
đãi tích lũy và không tích lũy, cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi,…), cổ phiếu ưu đãi
hoàn lại và cổ phiếu ưu đãi biểu quyết.
Nhìn chung, giống như lợi nhuận để lại, việc doanh nghiệp huy động vốn bằng
phát hành cổ phiếu cũng giúp gia tăng mức độ tự chủ cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó,
hình ảnh và uy tín của công ty được tăng lên do được quảng bá rộng rãi. Tuy nhiên, do
cổ tức chi trả cho cổ đông không nằm trong chi phí để giảm thuế nên nó không tạo ra
lá chắn thuế thu nhập cho doanh nghiệp. Đồng thời, khi phát hành cổ phiếu, doanh
nghiệp phải công khai thông tin và áp dụng chết độ kế toán, kiểm toán và báo cáo theo
quy định; quy mô vốn và lượng cổ đông tăng lên làm cho việc quản lý, điều hành phức

Footer Page 19 of 161.

9

và nhỏ…
Doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng chịu sự giám sát trên hai phương diện:
doanh nghiệp có sử dụng vốn đúng với mục đích ban đầu hay không và doanh nghiệp
có trả lãi và gốc đúng kỳ hạn hợp đồng không.
Lãi suất vay phụ thuộc tình hình nền kinh tế (lạm phát), kì hạn khoản vay (thời
gian vay càng dài thì lãi suất càng cao), phụ thuộc doanh nghiệp có phải đối tượng ưu
đãi hay không… Đây là mức lãi suất cố định vì thế doanh nghiệp phải trả lãi định kỳ
cho ngân hàng ngay cả khi làm ăn không có lãi. Lãi suất vay vốn chính là chi phí huy
động vốn. Chẳng hạn doanh nghiệp vay tiền với lãi suất 10% thì chi phí vốn vay trước

Footer Page 20 of 161.

10

Thang Long University Library


Header Page 21 of 161.
thuế chính là 10%. Nếu lãi suất quá cao thì doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí lớn và
làm giảm thu nhập của doanh nghiệp.
1.2.2.2. Huy động từ tín dụng thương mại
Đây là hình thức huy động nợ ngắn hạn. Tín dụng thương mại là quan hệ tín
dụng giữa các doanh nghiệp, được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu, mua bán trả
chậm hay trả góp hàng hóa. Là loại tín dụng rất phổ biến trong tín dụng quốc tế, giữa
các nhà doanh nghiệp cấp cho nhau vay, không có sự tham gia của ngân hàng hoặc
cũng có thể hiểu là loại tín dụng được cấp bằng hàng hóa dịch vụ chứ không phải bằng
tiền. Khi doanh nghiệp mua hàng hóa chưa phải trả tiền ngay, mà được nhà cung cấp
cho vay. Đến thời hạn thỏa thuận, doanh nghiệp mua phải hoàn trả cả vốn và lãi cho
doanh nghiệp bán dưới hình thức tiền tệ.
Chi phí của tín dụng thương mại chính là chênh lệch giữa giá bán chịu và giá trả

ban đầu khi đáo hạn. Doanh nghiệp chỉ được phát hành một lượng trái phiếu nhất định
dưới sự cho phép của Ủy ban chứng khoán Nhà nước. Lãi suất trái phiếu thông thường
thấp hơn lãi suất cho vay của ngân hàng và lợi tức cổ phiếu thường. Khác với cổ

Footer Page 21 of 161.

11


Header Page 22 of 161.
phiếu, người sở hữu trái phiếu (trái chủ) không có quyền tham gia và biểu quyết các
vấn đề của doanh nghiệp. Hằng năm, doanh nghiệp thanh toán lãi theo phương thức trả
lãi trước hoặc trả sau theo kỳ hạn sáu tháng hoặc một năm và chỉ trả gốc vào cuối kỳ
nên nguồn vốn này rất “cuốn hút” doanh nghiệp. Chi phí nợ vay trước thuế được tính
như sau:
Tỷ lệ chi phí =

D
Po - F

Trong đó: D: Trái tức chia vào cuối năm
Po: Thị giá trái phiếu tại thời điểm phát hành
F: Chi phí phát hành
Ví dụ: Công ty phát hành trái phiếu với mệnh giá $100/trái phiếu. Lãi suất cố
định 10%/năm. Giá bán dự kiến trên thị trường là $110/trái phiếu. Chi phí phát hành
$1/trái phiếu.
Tỷ lệ chi phí =

100*10%
110-1


Header Page 23 of 161.
Trái phiếu không có tài sản đảm bảo: đây là loại trái phiếu doanh nghiệp phát
hành khá phổ biến, có lãi suất huy động cao. Thường chỉ các doanh nghiệp lớn, có uy
tín mới phát hành thành công loại trái phiếu này.
Như vậy, trái phiếu, dù không phải vô thời hạn như cổ phiếu nhưng thường có
thời gian đáo hạn dài hơn vay ngân hàng, lãi suất cũng thường được cố định trong suốt
quá trình vay. Đây chính là ưu điểm quan trọng cho những doanh nghiệp cần vốn đầu
tư vào những dự án dài hạn và có dòng tiền ổn định. Ngoài ra, vì là công cụ nợ nên các
chi phí liên quan đến trái phiếu (lãi suất, chi phí phát hành, bảo hiểm) đều được trừ
thuế như chi phí vốn vay ngân hàng. Điều này giúp doanh nghiệp có thể giảm bớt gánh
nặng về thuế.
1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến việc huy động vốn của doanh nghiệp
Tùy thuộc vào từng thời điểm mà việc huy động vốn của doanh nghiệp có thể
được tiến hành thuận lợi hay không. Có rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng tới khả năng
huy động vốn của doanh nghiệp.
1.3.1. Nhân tố khách quan
1.3.1.1. Môi trường chính trị - pháp luật
Một môi trường chính trị ổn định sẽ đảm bảo cho sự tăng trưởng bền vững giúp
thu hút các nguồn vốn đầu tư. Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, mọi doanh
nghiệp được tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật
và khả năng của mình. Nhà nước tạo hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi cho
doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh theo những ngành nghề mà doanh nghiệp
đã lựa chọn và hướng các hoạt động đó theo chính sách quản lý kinh tế vĩ mô. Vì vậy,
chỉ một thay đổi nhỏ trong cơ chế quản lý và chính sách của nhà nước cũng ảnh hưởng
đến hoạt động của doanh nghiệp như: việc quy định trích khấu hao, tỷ lệ trích lập các
quỹ, các văn bản chính sách về thuế... Nói chung, sự thay đổi cơ chế và chính sách của
nhà nước sẽ gây rất nhiều khó khăn cho việc sử dụng vốn có hiệu quả trong doanh
nghiệp. Song nếu doanh nghiệp nhanh chóng nắm bắt được những thay đổi và thích
nghi thì sẽ đứng vững trên thị trường và có điều kiện để phát triển và mở rộng kinh

dài hạn còn hạn chế, giá của vốn chưa thực sự biến động theo giá thị trường mà chủ
yếu là giá áp đặt. Đây là điều hết sức khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc huy
động vốn cho sản xuất kinh doanh cũng như thực hiện chính sách đầu tư trong trường
hợp có vốn nhàn rỗi.
1.3.2. Nhân tố chủ quan
1.3.2.1. Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp
Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực mà có tỷ suất lợi nhuận cao, thị trường
lớn và ổn định sẽ thu hút được rất nhiều nhà đầu tư quan tâm, từ đó dẫn đến khả năng
huy động vốn cũng sẽ cao hơn. Thêm vào đó, hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh
mới là một ưu thế cho các doanh nghiệp khi thu hút đầu tư. Khi một ngành mới xuất
hiện, doanh nghiệp sẽ dễ dàng chiếm lĩnh thị trường. Đến khi các công ty khác bắt đầu
quan tâm vào lĩnh vưc này thì doanh nghiệp đã có chỗ đứng trên thị trường, có ưu thế
thu hút các nhà đầu tư.
1.3.2.2. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ảnh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác
định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra, từ đó quyết định khả năng huy
động vốn của doanh nghiệp. Đánh giá tình trạng tài chính doanh nghiệp tại thời điểm
cần huy động bằng việc tính toán các chỉ căn bản như: khả năng thanh toán, chỉ số nợ,
chỉ số hoạt động, chỉ số doanh lợi. Đồng thời tính toán lại các chỉ tiêu theo phương án
huy động khác nhau. Trên cơ sở đó lựa chọn mục tiêu, phương án huy động cụ thể.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao thì doanh nghiệp càng thu hút được nhiều nhà

Footer Page 24 of 161.

14

Thang Long University Library


Header Page 25 of 161.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status