Phương pháp giáo dục học sinh cá biệt ở trường THPT” để làm đề tài nghiên cứu. - Pdf 44

BỔ SUNG PHẦN MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài
Bất kỳ trong xã hội nào, nghề giáo cũng luôn được đề cao và quý trọng. Đặc
biệt là trong chế độ XHCN nghề giáo lại được tôn vinh và được xem là nghề cao
quý trong các nghề cao quý khác. Cái nghề “truyền chữ”, “trồng người” này lại
không đơn giản nhất là đối với học sinh cá biệt. Giáo dục học sinh cá biệt là một
vấn đề nhức nhối của nền giáo dục trong mọi thời đại. Đó là những học sinh luôn
tạo ra phiền hà, bận rộn hơn cho giáo viên. Để đưa các em học sinh cá biệt này có
một cách nhìn mới, có một định hướng mới tốt hơn trong suy nghĩ của các em,
hướng các em về một tương lai tươi sáng hơn đó là điều không phải giáo viên nào
cũng thành công trong việc giáo dục và giảng dạy. Chính vì lẽ đó nên chúng tôi
chọn đề tài “Phương pháp giáo dục học sinh cá biệt ở trường THPT” để làm đề

2.

tài nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lý luận của việc giáo dục học sinh cá biệt ở trường THPT.
Tạo ra cơ sở thực tiễn để từ đó xây dựng những phương pháp sư phạm nhằm nâng
cao hiệu quả giáo dục học sinh cá biệt ở trường THPT. Đưa ra một số biện pháp
giáo dục tích cực giúp cho những học sinh cá biệt từng bước thay đổi theo hướng
tích cực hơn. Bên cạnh đó phần nào giúp các thầy cô quan tâm hơn về vai trò, trách
nhiệm của mình đối với công tác chủ nhiệm cũng như nghề nghiệp của mình. Giáo
viên phải xác định được “tất cả vì đàn em thân yêu” để xây dựng nhà trường thật

3.


Đưa ra những biện pháp sư phạm nhằm nâng cao hiệu quả của việc giáo dục

6.

học sinh cá biệt.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp quan sát.
Phương pháp điều tra: Điều tra khảo sát đối tượng, phân tích các dữ kiện để
xác định nguyên nhân.
Phương pháp lý luận: Thông qua việc tham khảo sách báo, học tập kinh
nghiệm của các các nhà giáo dục, trên cơ sở thực trạng học sinh cá biệt của nhà
trường để xây dựng nội dung, phương pháp giáo dục phù hợp.

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Lý luận về hiện tượng học sinh cá biệt ở trường THPT
1.1.1.
Khái niệm về học sinh cá biệt
Hiện tượng học sinh cá biệt ở mọi lứa tuổi của học sinh là hiện tượng học
sinh vi phạm các chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực xã hội. Biểu hiện ở phẩm chất
đạo đức, học lực của học sinh.
1.1.2.
Khái niệm về học sinh cá biệt ở lớp chủ nhiệm


BỔ SUNG PHẦN MỤC LỤC

Hiện tượng học sinh cá biệt ở lớp chủ nhiệm là hiện tượng học sinh hư,
không phù hợp với các chuẩn mực đạo đức và xã hội mà tập thể lớp đang có. Biểu
hiện trong các lĩnh vực vui chơi, giao tiếp, sinh hoạt …trong lớp.
Hiện tượng học sinh cá biệt là kết quả giáo dục nhiều năm rèn luyện trên ghế

những điểm mạnh, những mặt tích cực, có những ý kiến, nhận xét nhanh, tinh ý ….
Tuy nhiên, những em học sinh này thường phải chịu nhiều áp lực thiệt thòi từ
chính thầy cô và các bạn trong lớp. Giáo viên chủ nhiệm có khi chỉ dựa vào cảm
tính mà trách mắng phạt tội. Chỉ cần một lời nói, môt hành động mà thầy cô cho là
không đúng thì học sinh cá biệt lại bị ấn tượng, quy chụp … Các em đã kém lại
càng kém hơn và không thể hoà đồng được cùng các bạn trong lớp như một vết
thương không được chữa lành, các em sẽ chán nản và tiếp tục vi phạm.
1.3. Lý
1.3.1.
1.3.1.1.

luận về nội dung, phương pháp và các con đường giáo dục HS cá biệt
Phân loại học sinh cá biệt
Phương pháp phân loại học sinh cá biệt
Nghiên cứu hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh sống của học sinh cá biệt (60%

học sinh chưa ngoan, cá biệt là do ảnh hưởng từ gia đình).
- Nghiên cứu hồ sơ học sinh, vào đầu năm học chúng tôi tiến hành phát cho
mỗi học sinh 01 tờ hồ sơ học sinh. Trong đó, học sinh sẽ khai đầy đủ các thông tin
lý lịch về bản thân, sở thích, ước mơ, nguyện vọng … Qua hồ sơ này, chúng tôi
dễ dàng nắm bắt được những đặc điểm tâm sinh lý của học sinh.
- Nghiên cứu qua học bạ về kết quả học tập rèn luyện của học sinh qua
những năm học trước đó.
- Nghiên cứu qua những nhận xét, đánh giá của bạn bè đặc biệt là người thân
của các em qua cha mẹ học sinh, qua chính quyền địa phương, qua các tổ chức
đoàn, đội …
- Nghiên cứu hoạt động giao tiếp giữa giáo viên với học sinh. Quá trình quan
sát, tiếp xúc của giáo viên và học sinh sẽ giúp cho giáo viên có thêm những hiểu
biết về tâm lý, tính cách, nhận thức của học sinh.


- Bằng lý luận thực tiễn, cung cấp cho học sinh cá biệt ở lớp chủ nhiệm
những cách thức, biện pháp để học tập, rèn luyện có kết quả tốt.


BỔ SUNG PHẦN MỤC LỤC

- Ngăn chặn những ảnh hưởng (nếu có) tách khỏi những học sinh hư hỏng,
những tệ nạn xã hội, phát huy lối sống lành mạnh tích cực.
- Kết hợp giữa giáo dục và dạy học.
1.3.3.
Phương pháp giáo dục học sinh cá biệt
Giáo dục học sinh cá biệt là nhiệm vụ luôn đặt ra cho giáo viên chủ nhiệm.
Trước hết và quan trọng nhất là làm cho học sinh hiểu được quan điểm của
mình gióa dục chứ không phải quan điểm nào khác. Điều quan trọng nhất là: giáo
dục học sinh cá biệt bằng phương pháp thuyết phục, mềm dẻo linh hoạt, dạy dỗ,
sau cùng là phương pháp bắt buộc (nếu cần thiết) đây là phương pháp cuối cùng.
Trong quá trình giáo dục học sinh cá biệt chúng ta cần sử dụng một số
phương pháp cơ bản như sau :
-Phương pháp quan sát sư phạm
-Phương pháp điều tra
-Phương pháp đàm thoại
-Phương pháp tác động cá biệt
-Phương pháp khen thưởng
-Phương pháp tráh phạt
-Phương pháp giáo dục tập thể
-Phương pháp bùng nổ sư phạm
1.3.3.1.
Đối với bản thân học sinh cá biệt
Gặp riêng học sinh cá biệt bằng tình cảm chân thành của mình, Giáo viên
chủ nhiệm bình tĩnh, nhẹ nhàng, tế nhị, phân tích có lý, cố tình, mức độ nguy hại

học sinh.
1.3.3.2.

Kết hợp với gia đình cha mẹ học sinh cá biệt và khu dân cư
Trong cuộc họp cha mẹ học sinh đầu năm, chúng tôi phát cho cha mẹ học

sinh nghiên cứu trước một tuần một số tài liệu tư vấn trong đó có cuốn “Dạy con
nên người” của nhà trường. Chúng tôi không chỉ chia sẻ với cha mẹ học sinh


BỔ SUNG PHẦN MỤC LỤC

những kiến thức giáo dục con cái mà còn tạo được sự thống nhất những quan điểm
giáo dục với cha mẹ học sinh.
- Trao đổi thẳng thắn, chân thành đối với cha mẹ học sinh để hiểu được hoàn
cảnh gia đình, tính cách của học sinh cá biệt. Đây là hoạt động rất quan trọng bởi
hầu hết những học sinh cá biệt đều do ảnh hưởng từ nền tảng giáo dục của gia
đình.
- Tổ chức thăm gia đình học sinh nhằm tạo thiện cảm tốt đối với học sinh cá
biệt và với cha mẹ học sinh. Giáo viên thường xuyên trao đổi, gọi điện liên hệ với
gia đình học sinh để từ đó hiểu rõ hơn về học sinh.
- Kết hợp với địa phương, Khu dân cư để theo dõi giáo dục, ngăn chặn kịp
thời những học sinh vi phạm, tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa Gia đình – Nhà trường
– xã hội.
1.3.3.3.

Kết hợp với giáo viên bộ môn và nhà trường
Kết hợp chặt chẽ đối với giáo viên bộ môn vừa để hiểu hơn về học sinh vừa

giúp học sinh có những cố gắng ở từng môn học.Đồng thời, kết hợp chặt chẽ với

bởi vì số học sinh này đâu có nhiều vì vậy phần lớn các thầy cô chú ý đến việc học
của học sinh trong giờ của mình và ý thức học tập của học sinh ở trên lớp cùng lắm
là thấy đồng phục của các em đúng hay không vì thế không phát hiện ra được.
Biện pháp: Với những trường hợp này, phải nhờ đến sự trợ giúp của một số
học sinh tin cậy trong lớp hay qua việc trò chuyện với các em mà thầy cô biết
được, khi đó thầy cô chưa thể tiến hành làm gì ngay được, phải yêu cầu học sinh
này cuối giờ ở lại gặp, lúc đó thầy cô mới hỏi han và câu chuyện dẫn dắt dần đến
đôi dép của em, khuyên các em nên dùng nó trong trường hợp nào thì phù hợp hơn,
tốt hơn và khi đó nó tôn vẻ đẹp của em lên rất nhiều lần, lúc đó có thể suy nghĩ của
các em sẽ thay đổi theo hướng tích cực hơn.
Giáo dục nề nếp cho học sinh không phải chỉ có ăn mặc, dép guốc mà còn
nhiều vấn đề khác học sinh cá biệt như việc giữ vệ sinh từng lớp, hiện nay trong
trường có căn tin làm sao để các em phải có nơi có chốn, lớp học phải sạch sẽ
không gây ảnh hưởng tới tập thể lớp, ăn uống phải lịch sự, ở trong lớp việc xây
dựng nề nếp học tập cho các em lại càng cần thiết, làm sao các em phải trật tự ghi


BỔ SUNG PHẦN MỤC LỤC

chép, chú ý nghe thầy cô giáo giảng bài, đấy là những mong muốn của thầy cô giáo
nhưng học sinh đâu phải em nào cũng tuân theo, có những em vào giờ học lại xin
phép giáo viên cho em xuống phòng y tế hoặc thưa cô cho em về, với trường hợp
này làm sao cô lại không cho em về để giải quyết việc đó nhưng thực ra không
phải lý do đó mà các em nói dối giáo viên chủ nhiệm.
Biện pháp: Khi biết chuyện thầy cô cũng tìm cách giải quyết làm sao cho
không ảnh hưởng đến các em.Thầy cô có thể cho các em tự kiểm điểm có ý kiến
của phụ huynh nhưng có em lại đợi đến giờ đi học mới bảo bố mẹ mình ký bản
kiểm điểm, phụ huynh lại không nhìn rõ con mình vì sao bị kiểm điểm vẫn cứ ký
thế rồi lần nữa xin nghỉ giờ đi chơi. Thầy cô nên bắt buộc phải mời phụ huynh đến
làm việc để phụ huynh thấy rõ khuyết điểm của con mình và kết hợp với giáo viên

Cũng có em rất hay khóc, bạn bè chưa kịp nói gì đến em đó thì em đó cũng
khóc và có những lần em đó khóc liền hai ngày làm gia đình em rất lo sợ. Thầy cô
nên tiến hành tìm hiểu thực tế về bản thân em, gần gũi em, khích lệ em làm em
ngày càng vui hơn, vững vàng hơn và hòa mình với tập thể từ đó em ít khóc hơn.
Khi nhận một lớp chủ nhiệm có những em đã là đoàn viên cũng có nhiều em
chưa là đoàn viên, vậy giúp đỡ các em vào Đoàn cũng có em thì dễ, có em nhận
thức ra mục đích vượt lên của mình nhưng có em do tính tự do quá cao, mặc dù là
học sinh cá biệt nhưng tính khí không khác các em nam sống bất cần. Với những
em học sinh này đâu phải một sớm một chiều giúp các em nhận thức đúng đắn
được lối sống sinh hoạt cho mình, các em còn có tính bảo thủ rất cao chính vì vậy
bản thân các thầy cô đã bỏ khá nhiều công sức và nhiều biện pháp để giáo dục các
em nhằm làm thay đổi cách suy nghĩ và lối sống của các em cho phù hợp với một
học sinh cá biệt. Thầy cô cần gần gũi các em, có những cái phải thông cảm với các
em, và cũng nên tâm sự kể chuyện cho các em, các câu chuyện đó có một phần
thực có một phần hư cấu sao cho nó gần với tính cách của học sinh đó. Qua nhiều
lần và nhiều ngày các em cũng nhận ra lâu nay bản thân mình đã mất học sinh cá
biệt tính và các em đã dần lấy lại.
Cũng có những em yêu rất sớm, tình yêu của các em làm nhiều em bị ảnh
hưởng tới việc học, đến giờ học và sinh hoạt có nhiều lúc các em như ngẩn ngơ,


BỔ SUNG PHẦN MỤC LỤC

không tập trung. Thực sự với những em này mà nói cấm thì khó lắm mà phải tìm
cách giúp các em là sao không để ảnh hưởng tới việc học tập, đến sinh hoạt hằng
ngày, giúp các em yên tâm hơn về mọi mặt, có những em vẫn giữ trọn được tình
cảm của mình mà vẫn học tốt vẫn thi được vào đại học, song cũng có những em chỉ
chọn được một trong hai con đường một là học đến nơi đến chốn thì không có thời
gian để nghĩ đến bạn trai của mình nhưng có những em sẵn sàng theo tiếng gọi của
tình yêu để ảnh hưởng tới việc học. Sau một thời gian thấy việc học của mình sa

phải quan tâm giáo dục về mặt này.
Bao giờ cũng vậy khi nhận một lớp chủ nhiệm trước hết tôi ổn định tổ chức
lớp, phân công hàng ngũ cán bộ từ lớp trưởng đến lớp phó phụ trách phong trào và
công tác học sinh cá biệt, cũng phải có học sinh, học sinh cá biệt tiêu biểu hơn
tham gia công tác của lớp. Có nhiều em học sinh cá biệt do không được nhắc nhở
thường xuyên nên rất hay nói trống không, thí dụ như khi giáo viên kiểm tra bài có
hỏi các em: “em đã học bài chưa?”, học sinh đó trả lời “chưa” hoặc “rồi” nhưng em
nói với ai thế? Khi học sinh đó sửa lại “em học rồi” nhưng em nói với ai? Học sinh
đó trả lời lại “thưa cô em học rồi”.
Giáo viên cũng nên hướng các em học sinh cá biệt vào các hoạt động phong
trào của lớp, ví dụ như ngày 8/3, ngày hội của các em nữ, tôi lại có một khoảng
thời gian để trao đổi với các em cách nói năng như thế nào, có lúc các em nghe nói
lại những câu nói, câu trả lời của bạn mình mà bật cười, nụ cười rất hồn nhiên,
chân thành và thật đáng yêu, cứ dần dần như thế các em đã bảo nhau, đóng góp ý
kiến cho nhau và cùng nhau sữa chữa để tiến bộ. Với những thí dụ như trên các em
tự phát biểu nên trả lời câu hỏi thầy cô giáo như thế nào cho đúng ngay từ lúc ban
đầu.
Có những em do học yếu, khi làm bài kiểm tra giáo viên trông kiểm tra
nghiêm túc không được mở tài liệu hay không chép được của bạn, khi ra ngoài rất
tự nhiên nói với bạn bè “ông ấy trông ghê thế” hay “bà ấy trông ghê thế”. Đấy là


BỔ SUNG PHẦN MỤC LỤC

khi các em còn đang học trong trường mà đã nói đến những người trực tiếp dạy dỗ
mình như vậy. Với các em này cũng không thể bỏ qua và cũng không thể sẵn giọng
ngay với các em được, đã có trường hợp tôi hỏi các em: “cho cô hỏi em nói ông ấy,
bà ấy là ai thế?”, cõ những học sinh rất tự nhiên nói rõ là “thầy” hoặc “cô”. Các em
không có lỗi với thầy cô, mà có lỗi với chính em, các em cần rút kinh nghiệm lần
sau.

các em hội thảo, trao đổi với nhau nên làm như thế nào để xứng đáng là học sinh
ngoan, chăm học, có ý thức tốt ở lớp đồng thời là đứa con ngoan trong gia đình,
biết nghe lời bố mẹ, biết kính trên nhường dưới, biết yêu thương và nhường nhịn
mọi người, chịu khó giúp đỡ gia đình tề gia nội trợ, chăm nom em út ở nhà. Hướng
dẫn các em khi nhà có khách nếu bố mẹ các em không có ở nhà các em nên tiếp
khách như thế nào, khi rót nước mời khách thì phải rót như thế nào đó để nước
trong chén không bị sủi bọt, mời khách như thế nào cho lịch sự thể hiện là người
có học. Nếu bố mẹ các em ở nhà đang tiếp khách, bản thân các em từ trong nhà đi
ra ngoài hay đi từ ngoài vào trong thì không được đi qua trước mặt khách mà phải
đi như thế nào để khách cho rằng mình là một người có ý tứ, nghĩa là mình được
sống trong một gia đình có nề nếp tốt.
Ngay cả những việc rất nhỏ trong gia đình như nấu ăn, lau nhà cửa không
phải làm thế nào cũng được mà phải biết cách làm vừa nhanh vừa sạch sẽ, như khi
lau nhà đòi hỏi các em phải biết quét nhà như thế nào và tiến hành lau từ đâu đến
đâu để đảm bảo làm gọn gàng đến đâu sạch sẽ đến đấy hay việc nấu một bữa cơm
bình thường thì phải chú ý đến việc cho nước vào nồi cơm như thế nào, thức ăn
làm kể từ luộc rau thôi cũng phải có chút kỹ thuật đến việc sào nấu các món ăn
khác đảm bảo cơm ngon canh ngọt thức ăn đơn giản mà lại ngon và hấp dẫn.


BỔ SUNG PHẦN MỤC LỤC

Thầy cô nên hòa đồng, chân thực nhiệt tình với các bạn học sinh cá biệt. Với
các bạn với nhau, phải chơi cho đúng mực bao giờ cũng phải có ranh giới nhất định
của người khác giới không suồng sã với các bạn, phải biết tôn trọng bạn không làm
điều gì gây tổn thương đến bạn và đến chính mình, không đưa chuyện không nói
xấu các bạn khác.
Có những em do phát triển tâm sinh lý của bản thân sớm và do môi trường
đưa lại các em yêu sớm, trong trường hợp này thầy cô không thể gay gắt với các
em mà nên nêu rõ cho các em cái thiệt thòi của một người con gái khi vấp vào yêu

bè, học hỏi nhiều hơn ở bạn bè và xã hội để củng cố các kiến thức về nghề nghiệp,
giao tiếp và xã hội. Nói tóm lại mới có thể nâng cao nhận thức về mọi mặt cho
chính bản thân mình.
Cũng có em do hoàn cảnh riêng của bố mẹ, do bố mẹ để lại những hậu quả
không lấy gì làm đẹp cho lắm gây ảnh hưởng râ nhiều đến tư tưởng của em, bạn bè
biết đặc biệt các em nam có những em do sốc nổi của tuổi trẻ dễ bầu bạn.
1.4.

Lí luận về nguyên nhân dẫn đến học sinh cá biệt
Hiện tượng học sinh cá biệt là hiện tượng phẩm chất, nhân cách của học sinh
phát triển sai lệch so với cấc chuẩn mực chung.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng học sinh cá biệt, do môi trường
xã hội thiếu lành mạnh, do sự thiếu quan tâm của gia đình, tất cả tạo điều kiện cho
học sinh hư hỏng, ngoài ra do ảnh hưởng của những người sống xung quanh, làm
ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách và làm hnaj chế đến năng lực học tập của
các em.


BỔ SUNG PHẦN MỤC LỤC
1.4.1.

Những biểu hiện của học sinh cá biệt
- Bỏ giờ , bỏ tiết và nghỉ học không lý do: Đây là hành vi phổ biến nhất ở

các đối tượng này, thực tế cho thấy những học sinh này thường có mặt tronh giờ
dạy của giáo viên chủ nhiện lớp và trong tiết dạy của những giáo viên có biện pháp
quản lý chặt chẽ thường xuyên kiểm tra nề nếp học tập của học sinh. Đối với
những giáo viên dễ giải thì các học sinh này thường bịa ra những lý do khác nhau
ví dụ như; Đau bụng, nhức đầu, thấy người khó chịu…để xinh nghỉ.
Sau khi xin được nghỉ học thì các học sinh này thường tụ tập thành một

kết quả học tập yếu kém. Vì vậy mỗi khi kiểm tra thường hay vi phạm quy chế
như: mở tập, chép bài của bạn nếu bạn không cho chép thậm chí còn giằng bài của
bạn để chép hoặc hù dọa đánh bạn.
1.4.2.
Nguyên nhân chủ quan
Do bản thân học sinh nhân thức chưa đúng về ý nghĩa, tầm quan trọng của
việc học cũng như môn học hoặc do ý thức học tập chưa cao, do khả năng tiếp thu
tri thức yếu dẫn đến chán nản tự ti trong học tập.
1.4.3.
1.4.3.1.

Nguyên nhân khách quan
Ảnh hưởng của môi trường giáo dục gia đình
Mỗi đứa trẻ có nhân cách phát triển tốt thì phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa

gia đình, nhà trường, và xã hội. Trong bối cảnh đát nước và quốc tế đang có những
thay đổi về mọi mặt, đặc biệt từ khi đát nước ta bước vào thời kì đổi mới, hội nhập,
kinh tế quốc tế sâu rộng thì gia đình ngày càng có vai trò quan trọng trong đó đề
cao và nhấn mạnh vai trò giáo dục và hình thành nhân cách con người. Tuy nhiên,
với ảnh hưởng của mặt trái nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đã kích thích
nhu cầu ham muốn vật chất mà quên đi sự quan tâm gia đình của mình đối với con
cái, bỏ mặt không quan tâm đến việc học tập kể cả những thói hư tật xấu, cha mẹ
cũng không biết để răn dạy. Do đó từ những vi phạm nhỏ ần dần đến những vi
phạm lớn hơn.
Cũng chính những nhu cầu ham muốn vật chất mà nhiều gia đình ít chú
trọng đến đời song tình cảm tinh thần, tình trạng xung đột gia đình dẫn đến đỗ vỡ
và ly hôn ngày càng gia tăng, làm cho gia đình không được bền vững. Ảnh hưởng


BỔ SUNG PHẦN MỤC LỤC



BỔ SUNG PHẦN MỤC LỤC

văn. Bên cạnh đó, ra khỏi cổng trường là có rất nhiều trò chơi hấp dẫn, cuốn hút
làm các em quên đi nhiệm vụ học tập dẫn đến kết quả kém trong việc học tập và
làm tha hóa đạo đức của các em.
1.4.3.4.

Nguyên nhân từ phía bạn bè
Học sinh cá biệt thường chơi với những bạn học sinh còn nhiều nhược điểm

trong học tập, đạo đức kém, hay nghỉ học, nói dối, đánh nhau ,…. Các em thường
xa lánh những bạn tốt , học sinh cá biệt thường thích được các bạn chú ý và ra oai
trước các bạn khác, có thể do các em nói chuyện cho đỡ buồn ngủ,… Như vậy, yếu
tố bạn bè có ảnh hưởng không nhỏ tới ý thức học tập, tu dưỡng đạo đức các em.
Các em thường xuyên tiếp xúc với bạn xấu nên ảnh hưởng không tốt đến ý thức và
hành vi của mình.
1.5.

Sự cần thiết phải giáo dục học sinh cá biệt ở lớp chủ nhiệm
Xuất phát từ việc nhận thức quá trình hình thành và phát triển nhân cách của
học sinh ở giai đoạn phổ thong trùn học là giai đoạn quan trọng nhất. Bởi vì ở giai
đoạn này học sinh đang tự hoàn thiện mình về nhân cách, lẫn quan niệm sống, và
vai trò của người giáo viên chủ nhiệm trở nên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ
hết.
Giáo dục học sinh cá biệt có một ý nghĩa rất to lớn đối với xã hội; thành
công trong giáo dục học sinh cá biệt sẽ góp phần quan trọng trong việc giữ gìn an
ninh trật tự xã hội và cung cấp cho xã hội những công dân tốt. Đối với gia đình,
CMHS, giáo dục học sinh cá biệt sẽ đem lại nguồn hạnh phúc lớn lao cho họ, giúp

phù hợp đều ảnh hưởng rất xấu đến sự hình thành nhân cách học sinh.
Học sinh cá biệt có rất nhiều loại, mối loại có một nguyên nhân, cần một
cách giải quyết.
Trong một lớp thường có nhiều học sinh yếu nhưng mỗi em lại có một hoàn
cảnh rất riêng, một nhuyên nhân như :
Học sinh thứ nhất: học yếu là do các em được bố mẹ nuông chiều, ham
chơi, lười học, không học bài, đi chơi với bạn xáu rủ rê sa đà.
Học sinh thứ hai: cá biệt học yếu là do học lực yếu. do em bị mất kiến thức
cơ bản ở lớp dưới.
Học sinh thứ ba: cá biệt học yếu là do hoàn cảnh khó khăn, phải phụ giúp
thêm cho gia đình.


BỔ SUNG PHẦN MỤC LỤC

Học sinh thứ tư: cá biệt học yếu do cha mẹ ly hôn,ở với ông bà chán nản
lười học rồi dần dần bỏ học, tính nhút nhát, rụt rè.
Ở tất cả các loại học sinh cá biệt trên đều ảnh hưởng đến sự hình thành nhân
cách năng lực học tập của học sinh. Nếu không kịp thời uốn nắn, giáo dục sẽ có
nhiều ảnh hưởng không tốt đến sự hình thành và phát triển nhân cách của các em
và cũng sẽ có nhiều ảnh hưởng đến những người xung quanh.
Thực trạng là thế song người giáo viên phải nhận thức được rằng học sinh
chúng không có tội. Nếu chúng được sống trong một gia đình lành mạnh, đầy đủ,
được sự quan tâm sâu sắc và có trách nhiệm của gia đình thì các em sẽ có một nhân
cách tốt và ngược lại. Vì thế học sinh chỉ là nạ nhân mà thôi.
2.2. Những biện pháp giáo dục học sinh cá biệt
2.2.1. Giáo dục học sinh thông qua giờ sinh hoạt trường
Để học sinh bắt được việc đánh giá, xếp loại hạnh kiểm tức là những chuẩn
mực đạo đức các em đạt được trong quá trình rèn luyện hạnh kiểm của mình, nhà
trường cần phải thông báo cho các em biết được các mức độ xếp loại hạnh

biệt
Cùng với việc phân loại học sinh cá biệt, xác định những lỗi mà học sinh đó
hay vi phạm, tìm hiểu nguyên nhân, giáo viên cần hường xuyên theo dõi, nắm bắt
đầy đủ, chính xác mọi hoạt động, lỗi vi phạm hay biểu hiện tích cực của học sinh
trong từng buổi học để tác động, uốn nắn hoặc biểu dương kịp thời. Nguồn thông
tin giúp giáo viên thu thập là: Nhận xét trong sổ đầu bài; thông qua giáo viên bộ
môn; qua ban theo dõi nề nếp của nhà trường; qua ban cán sự lớp và thông qua bạn
bè thân quen với học sinh đó... Đặc biệt, cần thường xuyên quan tâm, gần gũi với


Trích đoạn Dùng phương pháp kết bạn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status