SKKN đề tài một số BIỆN PHÁP GIÁO dục bảo vệ môi trường đối với môn khoa học lớp 5 - Pdf 44

UBND HUYỆN PHÙ YÊN
TRƯỜNG PTDTBT TIỂU HỌC MƯỜNG THẢI
--------------------------

TÊN SÁNG KIẾN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI MÔN KHOA HỌC LỚP 5

TÁC GIẢ: PHÙNG THÚY AN
CHỨC VỤ: GIÁO VIÊN
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU:
ĐƠN VỊ CÔNG TÁC: TRƯỜNG PTDTBT TIỂU HỌC MƯỜNG THẢI

MƯỜNG THẢI, THÁNG 11 NĂM 2016


UBND HUYỆN PHÙ YÊN
TRƯỜNG PTDTBT TIỂU HỌC MƯỜNG THẢI
--------------------------

TÊN SÁNG KIẾN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI MÔN KHOA HỌC LỚP 5

TÁC GIẢ: PHÙNG THÚY AN
CHỨC VỤ: GIÁO VIÊN
ĐƠN VỊ CÔNG TÁC: TRƯỜNG PTDTBT TIỂU HỌC MƯỜNG THẢI

MƯỜNG THẢI, THÁNG 11 NĂM 2016


PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:

thực trạng về công tác giáo dục bảo vệ môi trường của học sinh trường PTDTBT
Tiểu học Mường Thải. Từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo
dục bảo vệ môi trường cho học sinh trường PTDTBT Tiểu học Mường Thải.
3. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về quy mô: Là vấn đề giáo dục môi trường và bảo vệ môi trường
thông qua các môn học và hoạt động ngoài giờ lên lớp.


- Phạm vi về không gian: Tại trường PTDTBT Tiểu học Mường Thải.
- Phạm vi về thời gian: Từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 5 năm 2016.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu lí luận của vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh Tiểu
học.
- Nghiên cứu thực trạng của việc giáo dục bảo vệ môi trường của học sinh
trường PTDTBT Tiểu học Mường Thải.
- Đề xuất mới: Trang bị cho học sinh Tiểu học những hiểu biết nhất định về
môi trường, một số kĩ năng, biện pháp bảo vệ môi trường thông thường để các em
vận dụng vào cuộc sống hàng ngày.
- Trên cơ sở những hiểu biết đó, từng bước bồi dưỡng cho học sinh Tiểu học
ý thức, thái độ, hành vi, đối với môi trường và bảo vệ môi trường.
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Đọc, phân tích các tài liệu có liên quan về vấn đề môi trường, bảo vệ môi
trường.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp quan sát: + Quan sát cảnh quan môi trường.
+ Quan sát hành vi của học sinh.
- Phương pháp lấy ý kiến đồng nghiệp.
- Phương pháp thực nghiệm.
- Phương pháp thống kê toán học.

người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh
vật.
- Môi trường sống của con người bao gồm tất cả các yếu tố tự nhiên xã hội.
Các yếu tố tự nhiên xã hội chi phối sự sống, sản xuất của con người như tài nguyên
thiên nhiên, đất, nước và không khí; ánh sáng; công nghệ, kinh tế, chính trị, đạo
đức, văn hoá, lịch sử.


- Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố thiên nhiên như vật lý, hoá học,
sinh học tồn tại ngoài ý muốn của con người.
- Môi trường xã hội là tổng hợp các mối quan hệ giữa con người với con
người. Đó là các luật lệ, thể chế, quy định nhằm hướng các hoạt động của con
người theo một khuân khổ nhất định, tạo điều kiện thuật lợi cho sự phát triển cuộc
sống của con người.
* Ô nhiễm môi trường:
Ô nhiễm môi trường là vấn đề mang tính toàn cầu. Ô nhiễm môi trường có
ảnh hưởng to lớn đến chất lượng môi trường sống của chúng ta; ô nhiễm môi
trường làm bẩn, làm thoái hoá môi trường sống; làm biến đổi môi trường theo
hướng tiêu cực toàn thể hay một phần bằng những chất gây tác hại (chất gây ô
nhiễm). Sự biến đổi môi trường như vậy làm ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới
đời sống con người và sinh vật gây tác hại cho nông nghiệp, công nghiệp, làm
giảm chất lượng cuộc sống của con người.
Nguyên nhân của nạn ô nhiễm môi trường là các sinh hoạt hằng ngày và
hoạt động kinh tế của con người, từ trồng trọt, chăn nuôi đến các hoạt động công
nghiệp, chiến tranh và công nghệ quốc phòng.
* Suy thoái môi trờng:
- Suy thoái môi trường đất: Trên 50% diện tích đất tự nhiên bị thoái hoá.
Diện tích không gian sống bình quân của con ngời Việt Nam đang ngày càng bị thu
hẹp.
- Suy thoái rừng: Suy thoái rừng diễn ra ở cả hai khía cạnh: Chất lượng rừng

cư không được xử lý chặt chẽ trước khi đổ ra sông hồ.
- Ô nhiễm không khí: Các nguồn ô nhiễm không khí bao gồm:
+ Các vi sinh vật tồn tại trong không khí.
+ Khói, chất độc,… của các hiện tợng tự nhiên: Cháy rừng, núi lửa, sự
phân huỷ các chất hữu cơ.
+ Các chất thải của giao thông, sản xuất công nghiệp, sản xuất nông
nghiệp, các hoạt động dịch vụ, hoạt động của con người.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng môi trường ở nước ta như hiện nay là: Nhận
thức về môi trường và bảo vệ môi trường của đại bộ phân nhân dân còn thấp;
Thiếu công nghệ để có thể khai thác tài nguyên phù hợp; Sử dụng không đúng kỹ
thuật canh tác đất. Sử dụng thuốc trừ sâu không đúng kỹ thuật và lạm dụng các loại
thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật; Khai thác cây rừng, săn bắn thú rừng bừa bãi
dẫn đến suy kiệt tài nguyên rừng; Hoạt động khai thác dầu mỏ làm chết và huỷ
hoại nhiều loài hải sản biển; Hoạt động công nghiệp, nộng nghiệp, dịch vụ tạo ra
chất gây ô nhiễm nước và không khí; Sự ra tăng dân số và việc sử dụng nước quá
tải.


+ Formosa Hà Tĩnh là thủ phạm gây ra thảm họa môi trường lớn nhất tại
Việt Nam trong nhiều năm qua, gây ô nhiễm môi trường biển nghiêm trọng khiến
cá chết hàng loạt tại bốn tỉnh khu vực miền Trung từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế.
Theo kết quả điều tra của Chính phủ, những vi phạm và sự cố trong quá trình thì
công, vận hành thử nghiệm tổ hợp nhà máy của Công ty là nguyên nhân gây ra tình
trạng này. Công ty Formosa Hà Tĩnh đã nhận trách nhiệm và cam kết bồi thường
thiệt hại 500 triệu USD.
+ Sau hơn 1 năm bị phát hiện xả trực tiếp nước thải chưa qua sử lí ra sông
Thị Vải (tháng 9/2008), tháng 12/2009, Viện Tài nguyên và Môi trường Thành phố
Hồ Chí Minh đã công bố kết quả nghiên cứu dựa trên các quan trắc kỹ thuật cho
thấy công ty bột ngọt Vedan đã gây ra 80% - 90% ô nhiễm cho sông Thị Vải,
huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

hoá; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành
để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải
quyết các vấn đề môi trường, đề ra các giải pháp quản lý chất lượng môi trường.
Sự thiếu hiểu biết về môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường của con
người là một trong các nguyên nhân chính gây nên ô nhiễm môi trường, suy thoái
môi trường. Bởi vậy, cần phải giáo dục cho mọi người biết, hiểu về môi trờng, tầm
quan trọng của môi trường trong sự phát triển bền vững và làm thế nào để bảo vệ
môi trường. Do đó, giáo dục bảo vệ môi trường phải là một nội dung giáo dục quan
trọng nhằm đào tạo con ngời có kiến thức về môi trờng, có đạo đức về môi trường,
có năng lực phát hiện và xử lý các vấn đề môi trường trong thực tiễn.
3. Vai trò của việc giáo dục bảo vệ môi trường trong trường Tiểu học:
Tiểu học là cấp học nền tảng, là cơ sở ban đầu rất quan trọng trong việc đào tạo
các em trở thành các công dân tốt cho đất nớc “Cái gì không làm được ở cấp Tiểu
học thì khó làm được ở cấp học sau”. Giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh Tiểu
học tức là làm cho gần 10% dân số hiểu biết về môi trường và bảo vệ môi trường .
Con số này sẽ nhân lên nhiều lần nếu các em biết và thực hiện được tuyên truyền về
bảo vệ môi trường trong cộng đồng, từng bước tiến tới trong tương lai là có cả một
thế hệ biết và hiểu về môi trường, sống và làm việc vì môi trường, thân thiện với môi
trường.
Thông qua các môn học và các hoạt động ngoài giờ lên lớp giúp học sinh
Tiểu học có cơ hội mở rộng hiểu biết về môi trường sống của con người, quan hệ
giữa con người và môi trường; hiểu biết về một số nguyên nhân gây ô nhiễm môi
trường và các biện pháp bảo vệ môi trường. Giáo dục bảo vệ môi trường góp phần
hình thành ở học sinh tình cảm yêu quý, tôn trọng thiên nhiên, góp phần hình thành
và phát triển ở học sinh một số kỹ năng, thói quen bảo vệ môi trường, thói quen
sống vệ sinh, ngăn nắp, gọn gàng, tiết kiệm; biết trồng và chăm sóc cây xanh, làm
cho môi trường thêm xanh - sạch - đẹp; Biết làm những việc đơn giản và thiết thực
để bảo vệ môi trường tại trường, lớp, nơi công cộng. Ngoài ra, các em học sinh còn
có ý thức thực hiện các quy tắc giữ vệ sinh cho bản thân, gia đình, cộng đồng. Từ
đó các em không nghịch phá các công trình công cộng.

giáo dục bảo vệ môi trường tới học sinh một cách hiệu quả cần lựa chọn các
phương pháp giáo dục phải xuất phát từ quan điểm tiếp cận trong giáo dục bảo vệ
môi trường. Đó là giáo dục về môi trường, giáo dục trong môi trường và giáo dục
vì môi trường.
- Giáo dục về môi trường: Nhằm trang bị những hiểu biết, kiến thức của bộ
môn khoa học về môi trường, những hiểu biết về tác động của con người tới môi
trường, những phương pháp nghiên cứu, các biện pháp đánh giá tác động và xử lý
sự cố môi trường.
- Giáo dục trong môi trường: Là xem môi trường thiên nhiên hoặc nhân tạo
như một phương tiện, một môi trường để giảng dạy và học tập. Nói cách khác là
cần phải dạy và học gắn với môi trường một cách sinh động và đa dạng.
- Giáo dục vì môi trường: Nhằm giáo dục được ý thức, thái độ, các chuẩn mực,
hành vi ứng xử đúng đắn với môi trường. Hình thành và phát triển, rèn luyện các kỹ


năng cơ bản, cần thiết cho những quyết định đúng đắn trong hành động bảo vệ môi
trường.
*Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường thông qua hoạt động ngoài giờ lên
lớp:
Trong chương trình Tiểu học hoạt động ngoài giờ lên lớp được quy định mỗi
tuần ít nhất 1 tiết. Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường có thể được lồng ghép vào
những buổi sinh hoạt lớp, sinh hoạt đội. Căn cứ vào những chủ đề chung cho toàn
bộ bậc học, chương trình giáo dục bảo vệ môi trường được quy định cho các khối
lớp theo hai mức độ: Các lớp 1, 2, 3 và các lớp 4, 5. Đối với học sinh Tiểu học nói
chung, yêu cầu cơ bản cần đạt ở độ tuổi này là:
- Nhận biết, biết một số đặc điểm cơ bản về vai trò cúa cây cối, con vật, các
hiện tượng thiên nhiên, một số danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử.
- Bước đầu hình thành và phát triển những kỹ năng quan sát, nhận xét, nêu
thắc mắc, đặt câu hỏi.
- Biết cách biểu đạt hiểu biết của mình về những sự vật, hiện tượng đơn giản

đẹp của thiên nhiên, bảo vệ thiên nhiên, tham gia trồng và chăm sóc cây xanh,
chăm sóc yêu quý những con vật nuôi.
+ Vì sao môi trường bị ô nhiễm: Nhận biết và chỉ ra một số nguyên nhân
gây ô nhiễm môi trường đến con người và các sinh vật khác, thực hiện những hành
động cụ thể để tránh làm ô nhiễm môi trường.
+ Tiết kiệm trong tiêu dùng: Biết tiết kiệm và góp phần bảo vệ môi trường,
quý trọng các đồ dùng, tài sản thiên nhiên, sản phẩm lao động, tiết kiệm sử dụng
hợp lý các đồ dùng trong sinh hoạt, học tập, biết phân loại tận dụng phế thải.
Giáo dục bảo vệ môi trờng là một nội dung giáo dục trong trờng Tiểu học. Do
đó, đặc thù giáo dục bảo vệ môi trường có thể sử dụng nhiều phơng pháp dạy học đa
dạng như thảo luận nhóm, trò chơi, phơng pháp dự án, đóng vai,… đồng thời giáo dục
bảo vệ môi trường còn sử dụng các phương pháp dạy học đặc thù của các môn học.
3. Phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường trong trường Tiểu học:
Từ năm học 2007 - 2008, thực hiện chỉ thị số 02/2005/CT - BGD “Vê tăng
cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường” xác định nhiệm vụ trọng tâm cho
giáo dục phổ thông là trang bị cho học sinh kiến thức, kỹ năng về môi trường và
bảo vệ môi trường bằng các hình thức phù hợp qua các môn học và hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp, xây dựng nhà trường xanh, sạch, đẹp.
Khi dạy những nội dung giáo dục bảo vệ môi trường, giáo viên thường sử
dụng các phơng pháp mà ở đó học sinh được tranh luận, bày tỏ ý kiến, thái độ,
hành động,… như: Các phương pháp thảo luận nhóm, tổ chức làm việc theo phiếu
học tập, trò chơi, điều tra,… Nhờ những phương pháp này, học sinh có thể tự phát
hiện những kinh nghiệm đúng, sai, sự cần thiết bảo vệ môi trường, nêu các phương
hướng cải thiện môi trường xung quanh; tham gia công tác giữ gìn vệ sinh bảo vệ
môi trường. Giáo viên đã có nhiều cố gắng trong việc giáo dục bảo vệ môi trường
qua các môn học ở cấp Tiểu học. Tuy nhiên, vấn đề phát triển kiến thức, kỹ năng
và hình thành thái độ về giáo dục môi trường trong các bài học đạt hiệu quả chưa
cao. Từ những kiến thức trọng tâm bài học có liên quan đến vấn đề môi trư ờng các
em học sinh mới chỉ hiểu và nắm đợc kiến thức trong sách giáo khoa còn việc vận
dụng vào thực tế cuộc sống còn nhiều hạn chế. Học sinh chưa được nâng cao ý

thể là: Thu thập, trưng bày, báo cáo thông tin về một loài thú quý hiếm, điều tra
đơn giản, phát hiện vấn đề như: Tình hình chặt phá cây cối tại trường, cộng đồng,
tình hình ô nhiễm nước sông, hồ,…; tham gia giải quyết một vấn đề môi trường
của trường, lớp, cộng đồng như trồng cây, chăm sóc bồn hoa, cây cảnh,…
- Tham quan: Tạo điều kiện cho học sinh có những hoạt động học tập về môi
trường và bảo vệ môi trường đạt chất lượng cao trong những tình huống thích hợp
ngoài khuôn khổ lớp học. Hoạt động này giúp học sinh có những trải nghiệm trực


tiếp trong những khung cảnh khác nhau, qua đó sẽ nâng cao việc xây dựng kiến
thức, kỹ năng của học sinh thông qua những cơ hội học tập khám phá. Phân tích,
hình thành thái độ và phát triển óc thẩm mĩ, tạo cơ hội cho giáo viên, học sinh hiểu
biết lẫn nhau. Có thể tổ chức những chuyến đi thăm cơ sở nhà trường và cộng đồng
địa phương, thăm nhà nhà máy, trung tâm ở thành thị, thăm cảnh thiên nhiên như:
rừng, công viên …
- Trò chơi: Thông qua trải nghiệm trong những tình huống khác nhau, trò
chơi tạo điều kiện cho học sinh củng cố, mở rộng kiến thức, thái độ và thực hành
kỹ năng bảo vệ giữ gìn môi trường một cách tự nhiên, hứng thú. Trò chơi có thể
được thực hiện ở tất cả các chủ điểm. Có thể tổ chức các trò chơi như: Trò chơi
đóng vai, giải quyết tình huống học tập, trò chơi vận động - học tập. Những loại
trò chơi này giúp học sinh nhận biết các hành vi có lợi hay có hại đối với môi
trường, nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, tìm những giải pháp bảo vệ môi
trường.
- Văn hoá nghệ thuật: Các hình thức kể chuyện, biểu diễn, sưu tầm và sáng
tác thơ, truyện, vẽ tranh tác động vào xúc cảm của học sinh, giúp học sinh củng cố
và phát triển thái độ đúng đắn đối với các vấn đề môi trường. Đối với học sinh từ
lớp 3 đến lớp 5 có thể tổ chức vẽ tranh về chủ đề ngôi nhà của em, phong cảnh của
quê hương; viết, hát về cảnh đẹp quê hương, về gia đình, kể chuyện về cây, con bị
ảnh hưởng bởi tác động của con người, của ô nhiễm môi trường vào nơi sinh sống
của chúng,…

hoặc nước từ nguồn không sạch có trong tự nhiên mà chỉ uống nước đã đun sôi.
Nếu biết ăn uống sạch sẽ hợp vệ sinh thì sức khoẻ sẽ được đảm bảo, hạn chế được
bệnh tật.
- Nếu môi trường có nguồn nước bị bẩn, rau xanh và hoa quả bị hỏng thì
chúng ta không được dùng để ăn uống.
2. Hình thức tổ chức:
Cho học sinh xem tranh rồi trả lời câu hỏi.
VI. Chuẩn bị:
1. Giáo viên:
- Một số tranh vẽ về nguồn nước bị ô nhiễm, về mâm cơm không đậy lồng
bàn nên bị ruồi nhặng đậu vào, về một vài loại rau xanh thường gặp hằng ngày.
- Soạn một số câu hỏi về những điều nên và không nên từ những bức tranh ở
trên về ăn sạch và uống sạch.
2. Học sinh:
- Chuẩn bị ý kiến để trả lời các câu hỏi của giáo viên.
V. Tổ chức hoạt động:


1. Hoạt động 1: Xem tranh.
* Mục đích: Giúp học sinh nhận biết sự ô nhiễm môi trường.
* Cách tiến hành:
- Giáo viên treo lên bảng vài bức tranh về nguồn nước bẩn, về hình ảnh những
con ruồi đậu mâm cơm, về một vài loại rau xanh hoặc hoa quả thường gặp.
- Sau đó đặt câu hỏi để học sinh trả lời.
- Học sinh cùng nhau suy nghĩ để trả lời các câu hỏi mà giáo viên đặt ra.
* Kết luận: Không đươc uống nước từ những nguồn nước bẩn, không ăn các loại rau quả
bị hỏng. Nếu chúng ta ăn uống không sạch sẽ thì sẽ có hại cho sức khoẻ của bản thân
mình.
2. Hoạt động 2: Phân biệt những điều nên và không nên.
* Mục đích: Giúp học sinh nhận biết những điều nên và không nên trong việc ăn

2. Hình thức tổ chức:
Trò chơi thảo luận và liên hệ bản thân.
IV. Chuẩn bị:
1. Giáo viên:
- Tranh ảnh, băng hình về sự ô nhiễm, tàn phá môi trường.
- Các dụng cụ để thực hiện hoạt động như: Giấy khổ to, bút dạ, băng dính,
kéo, hồ dán, …
- Phổ biến cho học sinh những nội dung cần chuẩn bị cho hoạt động.
- Trò chơi “Bỏ rác vào thùng”.
2. Học sinh:
- Làm các cánh hoa và nhuỵ hoa cho hoạt động.
- Chuẩn bị ý kiếm xung quanh nội dung mà giáo viên đã phổ biến cho lớp.
V. Tổ chức hoạt động:
1. Hoạt động khởi động: Trò chới “Bỏ rác vào thùng”.


* Mục tiêu: Trò chơi giúp định hướng nội dung hoạt động cho học sinh.
* Cách tiến hành:
- Giáo viên chia lớp thành hai nhóm: Nhóm “thùng rác” và nhóm “bỏ rác”.
- Phổ biến cách chơi:
+ Nhóm “bỏ rác” xếp thành hình vòng tròn, mỗi em cầm sẵn một vật tượng
trưng cho rác (cặp, sách, bút, giầy, dép, …). Nhóm “thùng rác” đứng ở trong vòng
tròn.
+ Khi có lệnh chơi, các em nhanh chóng bỏ rác vào thùng, mỗi thùng chỉ
đựng khối lượng rác là 3.
+ Khi có lệnh kết thúc, trong nhóm “bỏ rác”, em nào còn cầm rác là thua.
Em nào vứt rác đi mà không bỏ vào “thùng rác” là bị phạt. Trong nhóm “thùng
rác”, em nào cầm thiếu hoặc cầm thừa số rác quy định cũng bị phạt.
- Học sinh thực hiện trò chơi.
- Sau đó thảo luận câu: Vì sao phải bỏ rác vào thùng đựng rác? Vứt rác vừa

- Học sinh thực hiện hoạt động.
* Kết luận: Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên là giữ cho môi trường
trong lành, sạch đẹp, đảm bảo cân bằng sinh thái; ngăn chặn, khắc phục các hậu
quả xấu do còn người và thiên nhiên gây ra. Bảo vệ tốt môi trường và tài nguyên
thiên nhiên giúp cho con người tạo ra cuộc sống tốt đẹp, phát triển bền vững, lâu
dài.
THI TÌM HIỂU MÔI TRƯỜNG CỦA EM
(Bài dùng cho lớp 4 - 5)
I. Mục tiêu:
Sau hoạt động học sinh có khả năng:
- Nâng cao hiểu biết về môi trường của một nhà trường, thấy được trách nhiệm
của người học sinh trong việc giữ gìn và bảo vệ môi trường nhà trường luôn xanh, sạch,
đẹp.
- Có kỹ năng đánh giá và phân tích môi trường của một nhà trường về những
cái được và cái chưa được cần phải khắc phục. Biết đề ra những biện pháp thích
hợp để bảo vệ môi trường nhà trường.
- Luôn thể hiện thái độ tôn trọng và ủng hộ những hành vi đúng, đồng thời
phê phán những hành vi làm ô nhiễm môi trường nhà trường.
II. Thời gian: 40 phút.


III. Nội dung và hình thức tổ chức:
1. Nội dung:
- Môi trường nhà trường bao gồm những gì? Những cái đó do đâu mà có? Vì
sao mỗi học sinh chúng ta đều phải có trách nhiệm giữ cho môi trường nhà trường
luôn xanh, sạch, đẹp?
- Những biện pháp bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi học sinh lớp 4 - 5.
2. Hình thức tổ chức: Thi tìm hiểu theo nhóm, tổ học sinh.
IV. Chuẩn bị:
1. Giáo viên:

* Cách tiến hành:
- Đại diện mỗi nhóm trình bày báo cáo thu hoạch của nhóm về kết quả tìm
hiểu điều tra.
- Lớp thảo luận và góp ý kiến bổ sung.
- Sau cùng cả lớp thống nhất một bản cam kết trong việc giữ gìn và bảo vệ
môi trường nhà trường.
* Kết luận: Bảo vệ môi trường nhà trường là trách nhiệm của mỗi người học sinh
chúng ta. Vì vậy, cần phải có những hành động thiết thực để góp phần cùng cộng
đồng tham gia giữ gìn vệ sinh môi trường nhà trường thêm xanh, sạch, đẹp.
2. Tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường thông qua các
môn học.
a). Định hướng:
Bảo vệ môi trường đó và đang trở thành mối quan tâm mang tính toàn cầu.
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học nhằm làm cho học sinh
bước đầu biết và hiểu các thành phần môi trường (đất, nước, không khí, ánh sáng,
động vật, thực vật và quan hệ giữa chúng); mối quan hệ của con người và các
thành phần môi trường; ô nhiễm môi trường; biện pháp bảo vệ môi trường xung
quanh (nhà ở, trường, lớp,…); bước đầu có khả năng tham gia các hoạt động bảo
vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi (trồng cây, chăm sóc cây, làm cho môi trường
xanh, sạch, đẹp); sống hoà hợp, gần gũi, thân thiện với thiên nhiên, sống tiết kiệm,
ngăn nắp, vệ sinh, chia sẻ hợp tác; yêu quý thiên nhiên, gia đình, trường lớp, quê
hương, đất nước; thân thiện với môi trường; quan tâm tới môi trường xung quanh.


Để thực hiện giáo dục bảo vệ môi trường trong trường Tiểu học có hiệu quả,
nội dung giáo dục bảo vệ môi trường được lồng ghép, tích hợp trong các môn học
với kiến thức phự hợp ở 3 mức độ:
- Mức độ toàn phần: Được áp dụng với những bài học có mục tiêu, nội dung
phù hợp hoàn toàn với mục tiêu, nội dung giáo dục bảo vệ môi trường.
- Mức độ bộ phận: Được áp dụng với những bài học chỉ có một bộ phận có

Đối với những bài có nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trường hợp phần
lớn hay hoàn toàn với nội dung giáo dục chung thì tiến hành ngoài thiên nhiên sẽ
mang lại kết quả cao hơn. Vì trong môi trường thực tế đó các em sẽ có được những
cảm xúc thực sự về cảnh quan thiên nhiên, có được những liên tưởng chính xac,
chân thực về những vấn đề môi trường và đó cũng chính là nơi các em thể hiện
những hành vi thiết thực nhất. Tuy nhiên, do học sinh Tiểu học cò nhỏ, hơn nữa
thời gian dành cho việc dạy học nội dung giáo dục bảo vệ môi trường không nhiều
nên khi có thể tổ chức cho cả lớp cùng đến tất cả những nơi có vấn đề môi trường.
Vì vậy, mà hình thức được sử dụng thường xuyên trong quá trình dạy học vẫn là
hình thức tổ chức dạy học trong lớp. Để giờ học mang tính thực tiễn và đạt hiệu
quả cao, giáo viên có thể giao cho các nhóm hoặc cá nhân nhiệm vụ khám phá các
nội dung giáo dục bảo vệ môi trường ngoài giờ học thông qua sách, báo trên các
phương tiện thông tin đại chúng hoặc quan sát trực tiếp tại nơi các em sinh sống.
Giáo dục bảo vệ môi trường không chỉ được thực hiện tích hợp trong các tiết
học (trong lớp, ngoài lớp) mà còn được giáo dục thông qua các hoạt động khác
như: thực hành giữ gìn trường, lớp sạch sẽ; trang trí lớp học đẹp; giáo dục quyền
trẻ em và tiếp cận kỹ năng sống,…

GIÁO ÁN MINH HOẠ

TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 2
Bài 6: Tiêu hóa thức ăn
(Mức độ tích hợp: Liên hệ)

I. MỤC TIÊU: Sau bài học, học sinh cú khả năng:
- Núi về sự biến đổi thức ăn ở khoang miệng, dạ dày, ruột non, ruột già.
- Biết được ăn chậm, nhai kĩ sẽ giỳp cho thức ăn tiờu hoỏ được dễ dàng.
- Biết được chạy nhảy sau khi ăn no sẽ cú hại cho sự tiờu hoỏ.
* Học sinh cú ý thức: Ăn chậm, nhai kĩ; khụng nụ đựa khi ăn no; khụng nhịn
đi đại tiện và đi đại tiện đỳng nơi quy định, bỏ giấy lau vào đỳng chỗ để giữ vệ

tẩm ướt và được nuốt xuống thực quản rồi vào dạ dày. Ở dạ dày, thức ăn tiếp tục


được nhào trộn nhờ cú sự co búp của dạ dày và một phần thức ăn được biến đổi
thành chất bổ dưỡng.
HOẠT ĐỘNG 2
Làm việc với SGK để tim hiểu về sự tiờu hoỏ thức ăn ở ruột non, ruột già
a). Mục tiờu:
Học sinh núi về sự biến đổi thức ăn ở ruột non và ruột già.
b). Cỏch tiến hành:
Bước 1: Làm việc cỏ nhõn:
Giỏo viờn yờu cầu học sinh đọc thụng tin trong SGK, trả lời theo cõu hỏi
sau:
- Thức ăn vào ruột non sẽ tiếp tục được biến đổi thành gỡ?
- Phần chất bổ cú trong thức ăn được đưa đi đõu?
- Ruột già cú vai trũ gỡ trong quỏ trỡnh tiờu hoỏ?
- Tại sao chỳng ta cần đi đại tiện hàng ngày?
Bước 2: Làm việc cả lớp:
Giỏo viờn gọi một số học sinh trỡnh bày trước lớp, học sinh khỏc bổ sung.
Kết luận: Vào đến ruột non, phần lớn thức ăn được biến thành chất bổ
dưỡng, thấm qua thành ruột non vào mỏu đi nuụi cơ thể. Chất bó được đưa xuống
ruột già, biến thành phõn rồi thải ra ngoài.
HOẠT ĐỘNG 3
Vận dụng kiến thức đó học vào cuộc sống
a). Mục tiờu:
- Hiểu được ăn chậm, nhai kĩ sẽ giỳp cho thức ăn tiờu hoỏ được dễ dàng.
- Hiểu được chạy nhảy sau khi ăn no cú hại cho sự tiờu hoỏ.
b) Cỏch tiến hành:
Bước 1: Thảo luận nhúm:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status