BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
======
PHẠM THỊ BÍCH NGỌC
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT
KÝ ỨC GÃ ĂN MÀY CỦA TÔN ÁI NHÂN
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ KIỀU ANH
HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến T.S Nguyễn Thị Kiều Anh, Giảng
viên, Trƣởng khoa Ngữ Văn Trƣờng ĐHSP Hà Nội 2, ngƣời đã luôn động
viên, giúp đỡ chỉ bảo tận tình cho em trong quá trình hoàn thành luận văn tốt
nghiệp này. Kính chúc cô luôn mạnh khỏe để có nhiều cống hiến cho nhà
trƣờng và xã hội nhiều hơn nữa trong công tác giảng dạy và hƣớng dẫn các
học viên cao học.
Nhân dịp này em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong trƣờng và
nhất là các thầy cô trong Tổ Lý luận văn học trƣờng Đại học sƣ phạm Hà Nội
2 đã tạo điều kiện cho chúng em hoàn thành khóa học.
Em xin chân thành cảm ơn nhà văn Tôn Ái Nhân, ngƣời giúp đỡ em
trong quá trình tìm kiếm những tài liệu và cung cấp cho em những hiểu biết
về tác phẩm và quan điểm sáng tác của nhà văn để em thêm thuận lợi trong
5. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................... 6
6. Bố cục của luận văn ...................................................................................... 7
CHƢƠNG 1. KHÁI LƢỢC CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ
HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA TÔN ÁI NHÂN ........................................ 8
1.1. Khái lƣợc về nghệ thuật tự sự .................................................................... 8
1.1.1. Giới thuyết về nghệ thuật tự sự ............................................................ 8
1.1.2. Một số phƣơng diện của nghệ thuật tự sự .......................................... 10
1.1.2.1. Cốt truyện..................................................................................... 10
1.1.2.2. Nhân vật ....................................................................................... 13
1.1.2.3. Trần thuật ..................................................................................... 17
1.2. Hành trình sáng tác của Tôn Ái Nhân. ..................................................... 24
1.2.1 Những chặng đƣờng chính trong cuộc đời cầm bút............................ 24
1.2.2. Quan niệm của Tôn Ái Nhân về sáng tác nghệ thuật ........................ 27
CHƢƠNG 2. CỐT TRUYỆN VÀ NHÂN VẬT TRONG TIỂU
THUYẾT KÝ ỨC GÃ ĂN MÀY CỦA TÔN ÁI NHÂN ................................. 32
2.1. Cốt truyện ................................................................................................. 32
2.1.1. Quá trình hình thành và hoàn thiện tiểu thuyết Ký ức gã ăn mày ..... 32
2.1.2. Cốt truyện trong tiểu thuyết Ký ức gã ăn mày................................... 34
2.2. Nhân vật trong tiểu thuyết Ký ức gã ăn mày ........................................... 42
2.2.1. Khái quát về đặc điểm các nhân vật trong tiểu thuyết thời kỳ sau
1975 và tiểu thuyết của Tôn Ái Nhân trong sự biến động của lịch sử
văn học ......................................................................................................... 42
2.2.2. Các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Ký ức gã ăn mày của Tôn Ái
Nhân ............................................................................................................. 46
2.2.2.1. Nhân vật bi kịch ........................................................................... 46
2.2.2.2. Nhân vật tha hóa .......................................................................... 63
2.2.2.3. Nhân vật tự sám hối ..................................................................... 67
2.2.2.4. Nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn Tôn Ái Nhân .............. 69
Không ít nhà văn đã tạo đƣợc dấu ấn với những tác phẩm ở đề tài này
nhƣ: Hữu Mai, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Nguyễn Quang Sáng, Hồ Phƣơng,
Nguyễn Thị Ngọc Hải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Xuân Thủy, Chu Thanh
Hƣơng, Di Li, Phạm Thanh Khƣơng, Bạch Vân Lê Nguyên vv… Nhiều nhà
văn cũng đã thành danh từ dòng văn học này: Lê Tri Kỷ, Văn Phan, Ngôn
Vĩnh, Nguyễn Nhƣ Phong, Trần Diễn, trong đó có nhà văn Tôn Ái Nhân .
Là nhà văn đã có gần 40 năm gắn bó với cây bút và nghiệp văn, Tôn Ái
Nhân có hàng loạt bài viết chống tiêu cực sắc sảo, nhiều tác phẩm viết về số
phận con ngƣời để lại những day dứt, băn khoăn trăn trong lòng ngƣời đọc.
Ông đã sáng tác thành công ở nhiều thể loại nhƣ: truyện ngắn, kịch và đặc
biệt là thể loại tiểu thuyết, một số tiểu thuyết của ông đã dành đƣợc những
giải thƣởng cao do Hội nhà văn tổ chức. Tiêu biểu nhƣ: Trinh sát Hà Nội
(1976) - Giải thưởng văn học Hồ Gươm 5 năm (1981 - 1986), Tìm em trong
hoàng hôn(1990) - Giải thưởng Bộ nội vụ và Hội nhà văn tổ chức về đề tài
“Phụ nữ Việt Nam trên mặt trận bảo vệ an ninh Tổ quốc”, Oan trái (1998) Giải thưởng văn học tuyển chọn 10 năm 1984 - 1995 về đề tài “ Vì an ninh Tổ
quốc và bình yên cuộc sống” do Bộ Nội vụ và Hội nhà văn Việt Nam tặng
2
năm 1995… Tất cả đều khẳng định tài năng, tâm huyết của nhà văn khi viết
về con ngƣời. Nhà văn đã viết các tác phẩm để thể hiện sự trân trọng đối với
những con ngƣời đã có những đóng góp lặng thầm cho cuộc kháng chiến dành
Độc lập cho dân tộc - họ là những con ngƣời rất dũng cảm kiên cƣờng trong
chiến đấu, nhƣng lại rất ngƣời trong cuộc sống hàng ngày.
Gần đây nhà văn Tôn Ái Nhân có viết cuốn tiểu thuyết Ký ức gã ăn mày.
Phải nói rằng, đây là một cuốn tiểu thuyết đƣợc viết dƣới ánh sáng của tƣ
tƣởng chính thống. Tôn Ái Nhân đã tƣớc bỏ những cái cũ, tìm tòi cái mới để
trở thành một nhà văn hoàn toàn khác. Bản tụng ca ngƣời lính đƣợc viết ra ở
thế kỷ 21, nghĩa là đã gần 40 năm sau khi chiến tranh đã trôi qua, mà vẫn y
giọng điệu trần thuật, nghệ thuật xây dựng hình tƣợng nhân vật, ngôn ngữ tự
sự. Mỗi nhà văn sẽ có những cách thể hiện riêng biệt, đặc sắc về nghệ thuật tự
sự và xem đó nhƣ phong cách nghệ thuật của mỗi ngƣời. Ở giai đoạn văn học
đƣơng đại (văn học giai đoạn đổi mới sau 1986), nghệ thuật tự sự đƣợc xem
nhƣ là nét đặc sắc, sự chấm phá hay đổi mới về hình thức sáng tác văn
chƣơng. Để đánh giá về thành công của mỗi nhà văn trong lĩnh vực sáng tác
thì việc tìm hiểu, nghiên cứu về nghệ thuật tự sự là một trong những hoạt
động rất có ý nghĩa. Và đã có một số công trình nghiên cứu thành công, tạo
nên giá trị cho tác phẩm đồng thời khẳng định tầm vóc của nhà văn trong nền
văn học nƣớc nhà.
Theo sự khảo sát của chúng tôi khi nghiên cứu về cuốn tiểu thuyết Ký ức
gã ăn mày của Nhà văn Tôn Ái Nhân, chúng tôi nhận thấy khi tác phẩm ra
mắt độc giả, đã có một số tiếng nói đánh giá về giá trị nội dung và giá trị nghệ
thuật của tác phẩm. Tiêu biểu phải kể đến Mai Vũ – ngƣời đã có những đánh
giá rất chặt chẽ về giá trị của tác phẩm.
Mặc dù bài viết của Mai Vũ đã nêu ra những thành công về việc xây
dựng nhân vật, thành công trong việc tạo dựng không khí sử thi về chiến
tranh, về con ngƣời trong cuộc chiến đấu khốc liệt với kẻ thù, tạo nên giọng
4
điệu ngợi ca về ngƣời lính, đồng thời Mai Vũ cũng nêu rõ những hạn chế
trong tiểu thuyết Ký ức gã ăn mày, nhƣng khi đọc tác phẩm chúng tôi nhận
thấy đó mới chỉ là những nét khởi thảo, chƣa hoàn chỉnh vì vậy trong luận văn
này chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu và tìm hiểu sâu hơn về nghệ thuật tự sự
trong tiểu thuyết.
Bên cạnh bài viết của Mai Vũ trên trang còn
có những ý kiến đánh giá mang tính chất cá nhân của nhà văn Ma Văn Kháng.
Khi đƣợc gặp trực tiếp nhà văn Ma Văn Kháng ông đã có những chia sẻ rất
giá trên luận văn của chúng tôi tiếp tục đi sâu tìm hiểu về nghệ thuật tự sự
trong tiểu thuyết Ký ức gã ăn mày để có một cái nhìn toàn diện hơn về tiểu
thuyết của Tôn Ái Nhân nói chung và tiểu thuyết Ký ức gã ăn mày nói riêng
trong dòng chảy văn học Việt Nam thời kỳ này.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Ký ức gã ăn
mày của Tôn Ái Nhân nhằm những mục đích sau:
Chỉ ra đƣợc những nét đặc sắc về phƣơng diện nghệ thuật tự sự trong
tiểu thuyết Ký ức gã ăn mày.
Thấy đƣợc những đóng góp và những nỗ lực của Tôn Ái Nhân trong
sáng tạo nghệ thuật nói chung và tiểu thuyết nói riêng.
4. Đối tƣợng và Phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Ký ức gã ăn mày của Tôn Ái Nhân.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu đi sâu vào khảo sát và nghiên cứu tiểu thuyết Ký ức
gã ăn mày của Tôn Ái Nhân trong góc độ nghệ thuật tự sự. Bên cạnh đó
chúng tôi sẽ có những so sánh sơ lƣợc về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Ký
ức gã ăn mày của Tôn Ái Nhân với một số tiểu thuyết khác của ông để khẳng
định những thành công về nghệ thuật tự sự của Tôn Ái Nhân trong cuốn tiểu
6
thuyết này.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ khoa học của đề tài, luận văn vận dụng tổng hợp
một số phƣơng pháp nghiên cứu sau:
Phƣơng pháp hệ thống, cấu trúc: Luận văn sử dụng phƣơng pháp này
nhằm mục đích tạo sự liên kết chặt chẽ, logic khoa học.
Tôn Ái Nhân
Chƣơng 3. Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Ký ức gã ăn mày của
Tôn Ái Nhân.
8
CHƢƠNG 1
KHÁI LƢỢC CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ
VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA TÔN ÁI NHÂN
1.1. Khái lƣợc về nghệ thuật tự sự
1.1.1. Giới thuyết về nghệ thuật tự sự
Khi đề cập về sự xuất hiện của thể loại tự sự, Roland Bathes cho rằng khi
lịch sử đƣợc ý thức thì đã có tự sự hay tự sự xuất hiện cùng bản thân lịch sử
loài ngƣời. Tuy nhiên, tự sự chỉ thực sự trở thành một ngành khoa học nghiên
cứu độc lập vào những thập niên 60 dƣới sự ảnh hƣởng trực tiếp của trƣờng
phái Cấu trúc luận Pháp. Từ đó, cách gọi Tự sự học cấu trúc luận ra đời. Và
mãi cho đến 1969, công trình nghiên cứu Ngữ pháp Chuyện mười ngàn ngày
của nhà nghiên cứu Pháp T. Todorov (ngƣời gốc Bungari, một trong những
đại diện lớn của Cấu trúc luận Pháp) ra đời. Công trình này đã mang ý nghĩa
khai sinh tên gọi Tự sự học trong giới nghiên cứu. Tự sự giai đoạn những thập
niên 60 đến những thập niên 80 của thế kỉ trƣớc đƣợc xem là Tự sự học kinh
điển. Và Tự sự học kinh điển đã trở thành một trào lƣu nghiên cứu rộng rãi,
trong đó các học giả Pháp đƣợc xem là những ngƣời giữ vai trò tiên phong.
Bởi vì có nhiều khái niệm nền tảng, một số mô thức lí thuyết của tự sự học
kinh điển bắt nguồn từ Cấu trúc luận Pháp. Ở Mỹ những thập niên từ 70 đến
80, là giai đoạn bƣớc đầu thịnh hành của tự sự học và cũng chỉ là sự kế thừa
về Cấu trúc luận của Pháp. Đến thập niên 90, Mỹ đã trở thành trung tâm của
nghiên cứu tự sự học quốc tế, bƣớc sang giai đoạn hậu kinh điển. Năm 2000,
Brain Richardson, một nhà tự sự học đã dự đoán trên tạp chí Văn thể (Style)
tình. Ngƣợc lại, các nhà nghiên cứu khác cho rằng có thể gọi tự thuật học
củaTrung Quốc là trần thuật học bởi thuật ngữ tự thuật trong tiếng Trung
Quốc, cụ thể là trong ngữ cảnh nhất định của lý luận văn học có nội dung hàm
nghĩa tƣơng đƣơng với thuật ngữ trần thuật trong tiếng Việt Nam. Có những lí
do khác nhau để giải thích cho quan niệm về cách gọi tự sự học hay trần thuật
10
học, nhƣng chúng tôi thống nhất với cách gọi lĩnh vực nghiên cứu Narratology
là Tự sự học.
Nhƣ vậy, Tự sự học chính là lĩnh vực khoa học nghiên cứu về nghệ thuật
của các tác phẩm thuộc thể loại tự sự. Nó là hệ thống lý thuyết có nội hàm
nghiên cứu sâu rộng, bao gồm nhiều thành phần của nghệ thuật tự sự.
1.1.2. Một số phương diện của nghệ thuật tự sự
1.1.2.1. Cốt truyện
Vấn đề cốt truyện từ lâu đã là đối tƣợng nghiên cứu của tự sự học trong
việc tìm ra cấu trúc đích thực của tác phẩm văn xuôi. Bàn về vấn đề này đã có
nhiều công trình nghiên cứu đi sâu tìm hiểu nhƣ: Vấn đề cốt truyện in trong
Cấu trúc văn bản nghệ thuật của IU.M.Lotman, Cốt truyện (Những yếu tố của
lối viết hư cấu) của A.Dibell, Sự giải thích về cốt truyện: cách sắp xếp và mục
đích kể chuyện của P.Brooks… Nhìn chung, cốt truyện luôn là một yếu tố cơ
bản thuộc về hình thức, là một mắt xích quan trọng tạo nên một tác phẩm tự sự.
Cốt truyện không phải là yếu tố tất yếu của mọi loại tác phẩm văn học.
Trong các loại tác phẩm trữ tình, cốt truyện không tồn tại vì ở đây tác giả biểu
hiện trực tiếp diễn biến của tình cảm, tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ
tình. Thuật ngữ cốt truyện có nội hàm chính là "hệ thống các sự kiện cụ thể
được tổ chức theo yêu cầu của tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ
phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức vận động của tác phẩm văn học
thuộc các loại tự sự và kịch" [29].
Cốt truyện là hình thức tổ chức sơ đẳng nhất của truyện. Các thành phần
của cốt truyện thƣờng đƣợc nêu theo tiến trình phát triển của các sự kiện từ
lúc hình thành cho đến khi kết thúc. Cốt truyện truyền thống nói chung bao
gồm năm thành phần: trình bày (khai đoạn), thắt nút, phát triển, đỉnh điểm
(cao trào), mở nút và kết thúc.
Phần trình bày nhằm giới thiệu một cách khái quát hoàn cảnh nảy sinh
xung đột chính của tác phẩm, đồng thời giới thiệu sơ lƣợc lai lịch các nhân
12
vật về lứa tuổi, nghề nghiệp…
Phần thắt nút là sự xuất hiện các sự kiện đánh dấu điểm khởi đầu của
một quan hệ tất yếu sẽ phát triển. Phần phát triển là toàn bộ các sự kiện thể
hiện sự vận động của các quan hệ và mâu thuẫn đã xảy ra. Các sự kiện xảy ra
theo trình tự tăng dần nhằm thể hiện xung đột phát triển cả chiều rộng và
chiều sâu. Trong phần cao trào, sự kiện đƣợc đẩy lên cao nhất, tột cùng đối
với nhân vật, là sự kiện dẫn đến bƣớc ngoặt lớn lao nhất của sự phát triển của
truyện. Ở giai đoạn này, các xung đột, mâu thuẫn đƣợc đẩy lên căng thẳng
nhất của cốt truyện.
Mở nút là sự kiện quyết định kề ngay sau cao trào. Trong phần này, nhà
văn đƣa ra hƣớng giải quyết của mình trƣớc những xung đột, mâu thuẫn xuất
hiện trƣớc đó. Phần kết thúc cho chúng ta thấy kết quả của xung đột đã đƣợc
giải quyết. Tuy nhiên không phải bất cứ cốt truyện nào cũng bao gồm đầy đủ
năm thành phần cơ bản của cốt truyện. Tuy nhiên cùng với sự đổi mới về
quan niệm nghệ thuật khiến cho sự thể hiện hình thức tác phẩm cũng có nét
khác biệt. Nhiều tác phẩm do xuất phát từ ý muốn chủ quan, sáng tạo của nhà
văn mà tác phẩm có thể không có kết thúc bởi vì ý nghĩa của nó chính là ở chỗ
không có kết thúc, không cần nói ra tất cả, đó là một bí quyết trong tình yêu
cũng nhƣ trong nghệ thuật. Đặc biệt các sáng tác thời kì đổi mới thƣờng phá
thời gian ngắn có những biến động lớn mà ngƣời đọc không thể hiểu từ tiểu
sử, sự phát triển cụ thể của cuộc đời họ. Còn tiểu thuyết với khuôn khổ rộng
lớn, vô tận về thời gian và không gian, nhà văn có thể khai thác nhân vật ,
miêu tả nhân vật một cách tỉ mỉ, toàn diện theo từng bƣớc của cuộc đời. Nếu
ký chỉ từ một con ngƣời thực, một bối cảnh thực để xây dựng nên hình tƣợng
điển hình thì tiểu thuyết lại có khả năng cùng một lúc tạo dựng đƣợc hình
tƣợng điển hình từ nhiều con ngƣời, tính cách, bối cảnh khác nhau.
Theo nhà nghiên cứu Trần Thanh Hiệp [14, tr.93-94] , trong tiểu thuyết
vấn đề quan trọng “phải là vấn đề nhân vật”. “Ngƣời ta sẽ tìm thấy bộ mặt
14
của con ngƣời trong các nhân vật của tiểu thuyết. Trong tiểu thuyết, ngoài nhân
vật còn có gì khác nữa, thời nhân vật cũng vừa là cá thể, vừa là linh hồn”. Nhân
vật là linh hồn, là yếu tố không thể thiếu trong tiểu thuyết, ở nhân vật có thể là
chiếc cầu nối giữa “cuộc đời thực” và “cuộc đời có vẻ thực” trong tiểu thuyết.
Qua thế giới nhân vật, ngƣời đọc sẽ tìm thấy những vấn đề nhân sinh mà tác
giả muốn gửi gắm, muốn chia sẻ. Trong tiểu thuyết, con ngƣời là một chủ thể
trải nghiệm, đƣợc giao cho tính chủ động về tƣ tƣởng và ngôn ngữ. Tính chủ
động này sẽ làm biến đổi tính chất và hình thái con ngƣời. Trong công trình
Bàn về tiểu thuyết, Phạm Quỳnh có cái nhìn bao quát về tiểu thuyết truyền
thống. N h â n vật trong tiểu thuyết theo tác giả “Không nhất thiết phải là
người siêu bạt quần chúng, lại thường thường là những người bình thường
như mọi người” [26,tr.101]. Giữa nhân vật và hoàn cảnh luôn có một quan hệ
tác động lẫn nhau. Nhân vật chịu sự chi phối mạnh mẽ của hoàn cảnh, lệ
thuộc vào hoàn cảnh. Đôi khi nhân vật cũng có thể làm thay đổi hoàn cảnh
trong phạm vi nhất định, nhƣng hoàn cảnh vẫn giữ một vai trò quyết định
trong tiểu thuyết. Hoàn cảnh ở đây đƣợc nhận thức là “vận mệnh” tác động
trực tiếp đến nhân vật, quyết định số phận nhân vật.
Nhà văn chỉ có thể xây dựng nhân vật tiểu thuyết bằng chính vốn sống
và sự hiểu biết về nhân vật. Và nhƣ thế, một vấn đề đặt ra trong phƣơng thức
xây dựng nhân vật tiểu thuyết, là giải quyết nhƣ thế nào mối quan hệ giữa
nhân vật và tác giả. Có ý kiến cho rằng nhân vật trong tác phẩm là hình ảnh
của tác giả. Nhƣng cũng có ý kiến ngƣợc lại. Vấn đề này theo chúng tôi cần
phải hiểu một cách linh động hơn. Là sản phẩm do nhà văn sáng tạo, nhân vật
tiểu thuyết tất nhiên phải là hình tƣợng, là hiện thân tƣ tƣởng của nhà văn, Vì
bản chất tiểu thuyết không có gì đố kỵ với tƣ tƣởng, miễn là tƣ tƣởng đừng
thủ tiêu, đừng hút máu tƣơi và da thịt của nhân vật để chỉ còn lại những bộ
xƣơng khô. Và “ở những tác phẩm lớn của nhân loại về tiểu thuyết, tƣ tƣởng
cao sâu đều có cái duyên gặp đƣợc những nhân vật sống, có cá tính, mang ra
16
phô diễn. Nhân vật linh động là điều cần thiết, nhƣng chƣa đủ để làm ra tác
phẩm vĩ đại. Dù nhân vật có là cái loa phát ngôn cho tƣ tƣởng của nhà văn, thì
nhân vật cũng không bao giờ là hình hài của tác giả, là đồng nhất với tác giả.
Ở tiểu thuyết, sáng tác về một nhân vật nào, tác giả đều dẫn dắt, giới
thiệu cho chúng ta nguồn gốc, xuất xứ của nhân vật ấy và trong suốt quá trình
miêu tả cuộc đời nhân vật, nhà văn phải xây dựng ở nhân vật đó những hành
động, lời nói, cử chỉ… thể hiện rõ nét đặc trƣng trong cốt cách - tâm hồn của
dân tộc sinh ra nhân vật ấy.
Có thể thấy thế giới nhân vật trong tiểu thuyết hết sức đa dạng, phong
phú và luôn hấp dẫn, mới mẻ có khả năng khái quát hiện thực, khái quát quan
điểm nghệ thuật của nhà văn. Nhân vật không chỉ có ý nghĩa chỉ tính cách mà
còn là "công cụ" dẫn dắt ta khám phá thế giới đời sống. Ở đây cần hiểu tính
cách là phẩm chất xã hội lịch sử của con ngƣời thể hiện qua các đặc điểm cá
nhân, gắn liền với phẩm chất tâm sinh lý của họ. Nhƣng không phải mọi cá
tính, đặc điểm của cá nhân đều đƣợc coi là tính cách. Ngƣời ta chỉ gọi là tính
một phƣơng diện thuộc về cấu trúc quan trọng. Trần thuật thể hiện điểm nhìn
của chủ thể, và điểm nhìn đó của chủ thể đã có sự thay đổi từ hệ thống, sự
kiện sang thẩm mĩ nghệ thuật. Còn trong Lý luận văn học, GS Phƣơng Lựu thì
cho rằng: “Trần thuật là sự trình bày liên tục bằng lời văn các chi tiết, sự
kiện, tình tiết, quan hệ, biến đổi về xung đột và nhân vật một cách cụ thể, hấp
dẫn, theo một cách nhìn, cách cảm nhất định. Trần thuật là sự thể hiện của
hình tượng văn học, truyền đạt nó tới người thưởng thức. Bố cục của trần
thuật là sắp xếp, tổ chức sự tương ứng giữa các phương diện khác nhau của
hình tượng với các thành phấn khác nhau của văn học” [31; tr.307]. Ở quan
niệm này, trần thuật đƣợc xem nhƣ là sự giới thiệu, trình bày liên tục các sự
kiện, chi tiết hay những diễn biến xung quanh nhân vật, hình tƣợng văn học
theo quan điểm của chủ thể.
18
Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu: Trần thuật là phƣơng
diện cấu trúc của tác phẩm tự sự. Ngoài ra, trần thuật có nghĩa là giới thiệu,
trình bày một cách khái quát, thuyết minh, miêu tả nhân vật, sự kiện, hoàn
cảnh, sự việc theo quan điểm nhất định của chủ thể. Và nghệ thuật trần thuật
là phƣơng diện cơ bản nhất của tác phẩm tự sự, và còn là phƣơng diện quan
trọng để tạo nên nghệ thuật tự sự. Thông qua đó, giúp soi sáng nội dung tƣ
tƣởng của tác phẩm và thể hiện sự sáng tạo của nhà văn.
a. Điểm nhìn trần thuật
Các nhà lý luận, phê bình văn học sử dụng nhiều từ ngữ khác nhau để
gọi tên thuật ngữ điểm nhìn trần thuật, nhƣ: quan điểm trần thuật, điểm nhìn
tâm lý, cái nhìn trần thuật, phƣơng thức trần thuật, tiêu điểm trần thuật…Ở
đây chúng tôi xem xét và thống nhất sử dụng thuật ngữ điểm nhìn trần thuật
trong luận văn.
Trong Từ điển thuật ngữ văn học thì quan niệm: “khoảng cách, góc độ
lí: nhìn theo con mắt người từng trải hay kẻ mới bước vào đời, giới tính nam
hay nữ, tuổi già hay trẻ” [27; tr.45].
Có nhiều quan niệm về điểm nhìn và điểm nhìn trần thuật. Từ những
quan niệm đó, chúng ta có thể kết luận rằng: Điểm nhìn trần thuật là vị trí,
khoảng cách góc độ chủ thể trần thuật dùng để quan sát đối tƣợng trần thuật.
Điểm nhìn trần thuật có thể từ bên ngoài, bên trong, từ một phía hay cái nhìn
từ nhiều phía .Trong quan hệ giữa chủ thể trần thuật với ngƣời đọc thì chủ thể
trần thuật đƣợc coi là ngƣời chỉ đƣờng và dẫn dắt ngƣời đọc thâm nhập vào
tác phẩm theo các diễn biến sự việc, cốt truyện.
Vì thế, với nhiều quan niệm khác nhau đã tạo nên những cách phân loại
điểm nhìn trần thuật. Cụ thể, trong Lí luận văn học, nhà lý luận văn học
Phƣơng Lựu chia điểm nhìn trần thuật: Theo trƣờng nhìn trần thuật thì có hai
loại điểm nhìn tác giả và nhân vật. Điểm nhìn trần thuật ở tác giả: Ngƣời trần
thuật đứng ngoài câu chuyện để quan sát đối tƣợng, mang tính khách quan tối
20
đa cho lời trần thuật. Điểm nhìn ở nhân vật: Ngƣời trần thuật nhìn sự vật, hiện
tƣợng theo quan niệm của một nhân vật nào đó trong tác phẩm, mang đậm
chất sắc thái tâm lí, chất trữ tình hoặc châm biếm do sự chi phối trực tiếp bởi
địa vị, hiểu biết, lập trƣờng của nhân vật. Theo bình diện tâm lí, điểm nhìn
trần thuật bao gồm điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài. Điểm nhìn
bên trong: Ngƣời trần thuật nhìn đối tƣợng qua lăng kính của một tâm trạng
cụ thể, dễ dàng tái hiện diễn biến trong tâm hồn nhân vật. Điểm nhìn bên
ngoài: Chủ thể trần thuật giữ cái nhìn khách quan từ vị trí bên ngoài có
khoảng cách nhất định với đối tƣợng trần thuật.
Còn GS Trần Đình Sử có cách chia khác theo quan điểm của mình. Ông
chia điểm nhìn trần thuật thành 5 loại: Điểm nhìn của người trần thuật, tác
giả hay của nhân vật trần thuật và của nhân vật; Điểm nhìn không gian, thời