Đề xuất một số giải pháp giảm nghèo và hướng tới giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện như xuân, tỉnh thanh hóa - Pdf 44

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
----------***----------

NGUYỄN ĐÌNH TÚ

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO VÀ
HƯỚNG TỚI GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Hà Nội - 2011


i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc nghiên cứu đã được cảm ơn và các thông tin chỉ
dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 31 tháng 10 năm 2011
Tác giả luận văn

Nguyễn Đình Tú



Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục viết tắt

i

Danh mục bảng biểu

ii

ĐẶT VẤN ĐỀ

01

Chương 1: HỆ THỐNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÓI NGHÈO
VÀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO

03

1.1. Cơ sở lý luận về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững

03

1.1.1. Nghèo

03

1.1.2. Giảm nghèo bền vững

29

2.1.2. Mục tiêu cụ thể

29

2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

29

2.2.1. Đối tượng nghiên cứu

29

2.2.2. Phạm vi nghiên cứu

29


iv

2.3. Nội dung nghiên cứu

29

2.4. Phương pháp nghiên cứu

30

2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu

40

3.2. Đánh giá thực trạng đói nghèo và công tác xóa đói giảm
nghèo ở Như Xuân

52

3.2.1. Thực trạng đói nghèo ở huyện

52

3.2.2. Hoạt động xóa đói giảm nghèo ở huyện trong những năm qua

59

3.2.3. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

66

3.3. Một số giải pháp giảm nghèo và hướng tới giảm nghèo bền
vững trên địa bàn huyện Như Xuân

73

3.3.1. Định hướng giảm nghèo của huyện Như Xuân

73

3.3.2. Một số giải pháp giảm nghèo và hướng tới giảm nghèo bền vững



GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

HĐND

Hội đồng nhân dân

HTX

Hợp tác xã

ICOR

Tỷ lệ vốn trên sản lượng tăng thêm

KHHGĐ

Kế hoạch hóa gia đình

KHCN

Khoa học công nghệ

LĐTBXH

Lao động - Thương binh và Xã hội

Nxb


VH-TT-DL

Văn hóa – Thể thao – Du lịch

WB

Ngân hàng Thế giới


ii

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Tên bảng biểu

STT

Trang

1.1

Tổng hợp chuẩn nghèo đói được xác định qua các thời kỳ

09

3.1

Diện tích đất phân theo loại đất và xã, thị trấn năm 2010

36

45

3.8

Phân công lao động theo từng lĩnh vực giai đoạn 2006-2010

46

3.9

Tình hình giáo dục - đào tạo của huyện giai đoạn 2006-2010

48

3.10 Y tế, kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2006-2010

50

3.11 Hoạt động văn hóa, phát thanh, truyền hình huyện Như Xuân

51

3.12 Tình hình nghèo đói của huyện Như Xuân giai đoạn 2006-2010

53

3.13 Đời sống của nhân dân huyện Như Xuân giai đoạn 2006-2010

54


ĐẶT VẤN ĐỀ
Đói nghèo là vấn đề mang tính toàn cầu, đã và đang diễn ra trên khắp
các châu lục với những mức độ khác nhau và trở thành một thách thức lớn đối
với sự phát triển của từng khu vực, từng quốc gia, dân tộc, từng địa phương.
Đói nghèo không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần, mà còn là vấn đề chính trị,
xã hội và là một trong những nội dung cơ bản trong phát triển kinh tế bền
vững ở mỗi địa phương, mỗi quốc gia và trên toàn thế giới. Giải quyết tình
trạng đói nghèo là một trong những vấn đề xã hội vừa cơ bản lâu dài, vừa là
nhiệm vụ cấp bách, nhằm bảo đảm phát triển kinh tế bền vững và tiến bộ,
công bằng xã hội. Trong xu thế toàn cầu hoá, sự chênh lệch giàu nghèo ngày
càng gia tăng thì vấn đề giảm nghèo nhanh, giảm nghèo bền vững càng trở
thành nhiệm vụ trọng tâm của cả cộng đồng thế giới.
Ngay từ khi Việt Nam giành độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định
đói nghèo là một thứ “giặc” cũng như giặc dốt, thứ “giặc nội xâm” này nguy
hiểm không kém gì giặc ngoại xâm. Chính vì thế, Hồ Chủ tịch đã phát động
cuộc thi đua ái quốc, kêu gọi toàn dân ra sức tăng gia sản xuất. Ngày nay,
thực hiện mục tiêu giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta
nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu
hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa
các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư; đồng thời thể hiện quyết tâm trong
việc thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã
cam kết.
Thanh Hoá là tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, kinh tế chưa phát triển,
điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, hay xảy ra thiên tai, lũ lụt nên đời sống người
dân gặp rất nhiều khó khăn. Xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm luôn là
nhiệm vụ chính trị quan trọng, là chủ trương lớn, nhất quán của các cấp uỷ
Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội ở Thanh Hoá; nhằm


2


Chương 1

HỆ THỐNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÓI NGHÈO
VÀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO
1.1. Cơ sở lý luận về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững
1.1.1. Nghèo
1.1.1.1. Khái niệm về nghèo
Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống
đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng
Cốc, Thái Lan tháng 9/1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho
rằng: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa
mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội
thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán
của địa phương”[12]. Để đánh giá đúng mức độ nghèo, người ta chia nghèo
thành hai loại: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và
thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống (nhu cầu về ăn,
mặc, nhà ở, chăm sóc y tế, giáo dục...)
Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới
mức trung bình của cộng đồng tại địa phương, ở một thời kỳ nhất định.
Những quan niệm về đói nghèo nêu trên, phản ánh ba khía cạnh chủ yếu
của người nghèo là: Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối
thiểu dành cho con người; có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng; thiếu
cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Vấn đề đói
nghèo ở Việt Nam còn được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như cá nhân,
hộ gia đình và cộng đồng nên bên cạnh khái niệm nghèo đói, ở nước ta còn có
một số khái niệm sau:




5

huyện (gồm 797 xã và thị trấn) thuộc 20 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%.
Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách và dành nhiều nguồn lực để ưu
tiên phát triển vùng này, nhưng mức độ chuyển biến còn chậm, đời sống của
đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao gấp 3,5
lần bình quân cả nước.
Vùng nghèo là một vùng liên tục gồm nhiều làng, xã, huyện mà tại đó
chứa đựng nhiều yếu tố khó khăn, bất lợi cho sự phát triển của cộng đồng,
như: đất đai khô cằn, thời tiết khí hậu khắc nghiệt, địa hình phức tạp, giao
thông khó khăn, trình độ dân trí thấp, sản xuất tự cung tự cấp và có mức sống
dân cư trong vùng thấp hơn so với mức sống chung của cả nước.
1.1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến đói nghèo
Đói nghèo do nguyên rất nhiều nguyên nhân gây ra, vì vậy cũng có rất
nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đói nghèo. Trong đó phải kể đến một số yếu tố cơ
bản có ảnh hưởng đến đói nghèo của huyện như sau:
a) Đói nghèo do hạn chế của chính người nghèo và gia đình họ
- Gia đình đông con ít lao động: Quy mô hộ gia đình là “mẫu số” quan
trọng có ảnh hưởng đến thu nhập bình quân của các thành viên trong hộ, đông
con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của đói nghèo.
- Thiếu vốn hoặc không có vốn để kinh doanh, chi tiêu không có kế hoạch.
- Do trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định.
- Do bệnh tật sức khoẻ yếu kém và bất bình đẳng giới: Vấn đề bệnh tật
và sức khoẻ kém ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và chi tiêu của người
nghèo làm họ rơi vào vòng luẩn quẩn của đói nghèo.
- Người nghèo không có khả năng tiếp cận với pháp luật, chưa được bảo
vệ quyề n lợi hợp pháp.




7

- Giai đoạn 1993-1995:
+ Hộ đói ở khu vực nông thôn có mức thu nhập bình quân đầu người
quy ra gạo là dưới 8kg/người/tháng;
+ Hộ đói ở khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân đầu người quy
ra gạo là dưới 13kg/người/tháng;
+ Hộ nghèo ở khu vực nông thôn có mức thu nhập bình quân đầu người
quy ra gạo là dưới 15kg/người/tháng;
+ Hộ nghèo ở khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân đầu người
quy ra gạo là dưới 20kg/người/tháng.
- Giai đoạn 1996-1997:
+ Hộ đói là hộ có thu nhập bình quân đầu người quy ra gạo dưới
13kg/người/tháng cho mọi vùng;
+ Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người quy ra gạo dưới
25kg/người/tháng đối với khu vực thành thị, dưới 20kg đối với khu vực nông
thôn đồng bằng và dưới 15kg đối với khu vực nông thôn miền núi, hải đảo.
- Giai đoạn 1998-2000: Theo Thông báo số 1751/TB-BLĐTBXH ngày
20/5/1997 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định như sau: [5]
+ Hộ đói tính cho mọi khu vực có mức thu nhập dưới 13kg gạo tương
ứng với 45.000đ/người/tháng;
+ Hộ nghèo khu vực nông thôn miền núi, hải đảo có mức thu nhập dưới
15kg gạo, tương ứng với 55.000đ/người/tháng;
+ Hộ nghèo khu vực nông thôn đồng bằng, trung du có mức thu nhập
dưới 20kg gạo, tương ứng với 70.000đ/người/tháng;
+ Hộ nghèo khu vực thành thị có mức thu nhập dưới 25kg gạo, tương
ứng với 90.000đ/người/tháng.
- Giai đoạn 2001-2005: Theo Quyết định 1413/QĐ-BLĐTBXH ngày
01/11/2000 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì chuẩn hộ nghèo

9

Bảng 1.1: Tổng hợp chuẩn nghèo đói được xác định qua các thời kỳ
Giai đoạn

Đơn vị tính

Hộ đói

Hộ nghèo

(Gạo)

Dưới mức

Dưới mức

- Khu vực nông thôn

Kg/người/tháng

8

15

- Khu vực thành thị

Kg/người/tháng

13


25

3. Giai đoạn 1998-2000

(Tiền)

- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo

Đồng/người/tháng

45.000

55.000

- Vùng nông thôn đồng bằng, trung du

Đồng/người/tháng

45.000

70.000

- Vùng thành thị

Đồng/người/tháng

45.000

90.000


200.000

- Khu vực thành thị

Đồng/người/tháng

260.000

6. Giai đoạn 2011-2015

(Tiền)

- Khu vực nông thôn

Đồng/người/tháng

400.000

- Khu vực thành thị

Đồng/người/tháng

500.000

1.1.1.4. Vấn đề nghèo đói và việc xoá đói giảm nghèo
a) Đói nghèo và việc giải quyết đói nghèo trên thế giới
Cho đến hôm nay, đói nghèo vẫn là nỗi ám ảnh thường trực đối với cả
loài người. Thế giới đã chứng kiến những thảm họa của chiến tranh, thảm họa
của thiên tai, dịch bệnh với bao nỗi kinh hoàng. Thế nhưng hậu quả do những

xóa đói giảm nghèo được nhiều lần đề cập tới. Để bảo đảm và hướng tới công
bằng xã hội, Đảng ta khẳng định “khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống
làm giàu phi pháp đi đôi với chăm lo xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp dần


11

khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng căn cứ cách
mạng và kháng chiến cũ, các gia đình thuộc diện chính sách, làm cho mọi
người, mọi nhà đều tiến tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc, ai cũng có việc làm,
có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành và chữa bệnh, từng bước thực hiện
điều Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong ước”.
Trong quá trình thiết kế, chỉ đạo thi công việc xây dựng nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở nắm bắt những mặt mạnh
và mặt yếu của cơ chế thị trường, Đảng ta đã đưa ra những quan điểm chỉ
đạo: “Để phát triển sức sản xuất, cần phát huy khả năng của mọi thành phần
kinh tế, thừa nhận trên thực tế còn có bóc lột và sự phân hóa giàu nghèo nhất
định trong xã hội, nhưng phải luôn quan tâm, bảo vệ lợi ích của người lao
động, vừa khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp, vừa coi
trọng xóa đói, giảm nghèo, từng bước thực hiện công bằng xã hội, tiến tới làm
cho mọi người, mọi nhà đều khá giả”.
Chú trọng đúng mức đến vấn đề đói nghèo trong xã hội, với nhãn quan
chính trị nhạy bén và với trách nhiệm cao cả trước nhân dân, Đảng ta đã đưa
ra những chương trình rộng lớn để tập trung giải quyết là “Chương trình về
xóa đói, giảm nghèo”. Trên cơ sở đó, Nhà nước cũng đã có hàng chục chương
trình cấp quốc gia và dự án đang được thực thi có nội dung gắn với xóa đói,
giảm nghèo.
c) Một số luận điểm về xóa đói giảm nghèo
Một là, xóa đói giảm nghèo vừa là nhiệm vụ cơ bản lâu dài, vừa là
nhiệm vụ trọng tâm trước mắt. Tính lâu dài của xóa đói giảm nghèo là do:

trước đây đã cho thấy, nếu đặt công bằng xã hội lên trên hết và tách rời với
phát triển kinh tế thì trước hết dẫn tới sự triệt tiêu các động lực phát triển. Tuy
nhiên, nếu đặt hiệu quả kinh tế là mục tiêu duy nhất thì sẽ làm tăng tình trạng
phân hóa hai cực, làm tăng sự khốn khó đối với không ít quần chúng nhân


13

dân. Bởi vậy, trong khi thực hiện bài toán phát triển đất nước, làm sao phải
tạo mọi điều kiện và tăng nguồn lực cho sự phát triển, đồng thời hạn chế mặt
tiêu cực của nó, đặt vấn đề xóa đói giảm nghèo thành công việc thường
xuyên, liên tục.
Bốn là, xóa đói giảm nghèo là công việc của toàn xã hội. Cần khẳng
định một cách mạnh mẽ rằng, xóa đói giảm nghèo không dừng lại ở việc thực
hiện chính sách xã hội, không phải việc riêng của ngành lao động - xã hội hay
một số ngành khác, mà là nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, là nhiệm vụ
chung của toàn Đảng, toàn dân. Muốn thực hiện thành công việc xóa đói giảm
nghèo, tất cả mọi cán bộ đảng, chính quyền đều phải quan tâm cùng giải
quyết, thực hiện các giải pháp một cách đồng bộ và phải có sự tham gia của
toàn thể cộng đồng.
1.1.1.5. Nội dung cơ bản của Chương trình xóa đói giảm nghèo
a) Cải cách hành chính, cải cách tư pháp, thực hiện quản lý tốt kinh tế xã
hội để đảm bảo lợi ích cho người nghèo
Mục tiêu tổng thể là phấn đấu xây dựng được một nền hành chính Nhà
nước trong sạch, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, có trách nhiệm ở tất cả các
cấp, có khả năng xây dựng các chính sách và cung ứng dịch vụ theo yêu cầu
của người dân, khuyến khích cơ hội cho người nghèo, người thiệt thòi giúp họ
phát huy được tiềm năng của mình. Để đạt được mục đích này phải tạo nên
một hệ thống hành chính với cơ chế, tổ chức bộ máy gọn nhẹ, đội ngũ cán bộ,
công chức về cơ bản có phẩm chất, năng lực và trình độ đáp ứng yêu cầu của

- Trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng có hoàn cảnh đặc
biệt. Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, tăng cường trợ giúp pháp lý và khả
năng tiếp cận pháp lý cho người nghèo. Mở rộng mạng lưới trợ giúp pháp luật
để người nghèo ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa có thể tiếp cận với các dịch
vụ trợ giúp pháp luật.
c) Phát triển mạng lưới an sinh xã hội trợ giúp cho các đối tượng yếu
thế và người nghèo


15

- Tập trung có trọng điểm để hỗ trợ người nghèo, dân tộc ít người, nhóm
yếu thế khác trong xã hội. Cải thiện chất lượng và khả năng tiếp cận các dịch
vụ cơ bản và nguồn lực của người nghèo, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe ban
đầu, giáo dục tiểu học, sức khỏe sinh sản, nước, vệ sinh dinh dưỡng, nhà ở,
giúp đỡ họ tiếp cận với pháp luật không thu phí...
- Tăng cường mạng lưới an sinh xã hội: Bổ sung một số chính sách trợ
giúp của Nhà nước đối với các nhóm người yếu thế, có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn, người dễ bị tổn thương để tạo cơ hội tự tạo việc làm hoặc đi làm
thuê, có thu nhập đủ nuôi sống bản thân, tham gia vào các hoạt động cộng
đồng, các hoạt động xã hội để hưởng lợi từ cải cách kinh tế. Hoàn thiện chính
sách bảo hiểm xã hội nhằm mở rộng chế độ bảo hiểm xã hội áp dụng cho mọi
đối tượng, kể cả những người làm việc tại khu vực kinh tế phi chính thức và
bảo đảm tương quan hợp lý giữa mức đóng và mức hưởng.
- Xây dựng các biện pháp để giúp đối tượng yếu thế cải thiện các điều
kiện tham gia thị trường lao động. Cải thiện tiếp cận thị trường lao động của
người lao động nghèo, nhóm yếu thế trong thị trường lao động, đặc biệt đối
với vấn đề đào tạo. Giải quyết tốt vấn đề lao động dôi dư. Dần dần từng bước
áp dụng bảo hiểm thất nghiệp. Nâng cao số lượng và chất lượng việc làm, đặc
biệt là việc làm trong khu vực ngoài nhà nước. Hoàn thiện Bộ luật Lao động

chứa nước kết hợp với phòng chống lũ ở các tỉnh miền Trung; Xóa bỏ các nhà
dột nát, nhà tạm (làm bằng tranh, tre, nứa, lá đã bị xiêu vẹo, dột nát không
đảm bảo an toàn khi có lũ bão) cho đồng bào dân tộc ít người, hộ sống trong
các vùng ngập lũ sâu, đời sống quá khó khăn; Hỗ trợ đồng bào miền núi xây
dựng ruộng bậc thang để góp phần giải quyết vấn đề du canh, du cư; phát
triển cây ăn quả ôn đới và một số cây đặc sản thay thế cây thuốc phiện ở
vùng cao...


17

- Các chương trình mục tiêu quốc gia liên quan đến xóa đói giảm nghèo:
Chương trình xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm, Chương trình phát triển
kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, Chương trình phát triển giáo dục, y
tế, văn hoá, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng... là các chương trình, dự án có
tác động trực tiếp nhất đến xóa đói giảm nghèo. Vốn đầu tư của các chương
trình, dự án này được thực hiện bằng nhiều nguồn: vốn phân bổ trực tiếp của
ngân sách trung ương, ngân sách địa phương; vốn lồng ghép của các chương
trình, dự án; vốn vay tín dụng; vốn huy động từ cộng đồng; trong đó vốn
Ngân sách Nhà nước dự kiến chiếm khoảng 30% tổng vốn đầu tư của chương
trình, dự án.
Ngoài ra, huy động cộng đồng và sự đóng góp của người hưởng lợi để
triển khai các dự án đã được cộng đồng quốc tế và chính phủ các nước giúp
đỡ như: dự án đa dạng hóa nông nghiệp; dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
nông thôn; dự án giảm nghèo 6 tỉnh miền núi phía Bắc; dự án giảm nghèo 5
tỉnh miền Trung; dự án cơ sở nông thôn dựa vào cộng đồng; dự án bảo vệ
rừng và phát triển nông thôn;...
1.1.2. Giảm nghèo bền vững
1.1.2.1. Giảm nghèo bền vững là gì? Tại sao cần phải giảm nghèo
bền vững?

giảm nghèo. Cụ thể, những chính sách giảm nghèo này với tính chất từng
chính sách đơn lẻ là các hợp phần của những chương trình, mục tiêu đơn lẻ
được quản lý bởi các bộ, ngành khác nhau. Vì thế, các chương trình này sẽ tạo
ra một lượng lớn thời gian, tiền bạc cho chi phí giao dịch trong quá trình thực
hiện. Và đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến kết quả mục tiêu không đạt
được như mong đợi. Nguyên nhân chủ yếu là một số chương trình, chính sách
giảm nghèo còn mang tính ngắn hạn, chưa đồng bộ, thiếu sự gắn kết chặt chẽ;
cơ chế quản lý, chỉ đạo điều hành, phân công phân cấp còn chưa hợp lý. Việc



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status