MỤC LỤC
MỤC LỤC ..........................................................................................................................1
BẢN TÓM TẮT .................................................................................................................3
DANH MỤC BẢNG ..........................................................................................................5
DANH MỤC HÌNH ...........................................................................................................6
DANH MỤC VIẾT TẮT ...................................................................................................7
MỞ ĐẦU .............................................................................................................................8
I.
Tính cấp thiết của đề tài .............................................................................................8
II.
Mục tiêu đề tài .........................................................................................................9
III.
Phạm vi nghiên cứu .................................................................................................9
IV.
Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................................9
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ......................................11
I.
Tổng quan về nguyên liệu ........................................................................................11
1.1
1.3
Khái quát về rơm rạ phối trộn .............................................................................19
II.
Tổng quan vể trùn quế ..........................................................................................19
2.1
Khái quát về trùn quế ..........................................................................................19
2.1.1 Đặc điểm hình thái .................................................................................................20
2.1.2 Cấu tạo cơ thề .........................................................................................................21
2.1.3 Đặc điểm sinh lý .....................................................................................................23
2.1.3 Đặc điểm sinh sản ..................................................................................................24
2.2
Kỹ thuật nuôi trùn quế ........................................................................................25
2.2.1 Đặc điểm chuồng trại ...........................................................................................25
1
2.2.2 Chất nền..................................................................................................................27
2.2.3 Giống trùn ..............................................................................................................27
2.2.4
2.3
Kỹ thuật chăm sóc và nuôi dƣỡng trùn quế ....................................................28
I.
II.
Kết luận ......................................................................................................................44
Kiến nghị ................................................................................................................44
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................................45
PHỤ LỤC HÌNH ..............................................................................................................46
2
BẢN TÓM TẮT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA TRÙN QUẾ TRONG
MÔI TRƯỜNG PHÂN HEO TRÊN QUI MÔ PHÒNG THÍ NGHIỆM
Mã số: SV2015-14
1. Vấn đề nghiên cứu (vấn đề, tính cấp thiết)
Hiện nay, nhu cầu sử dụng lương thực thực phẩm ngày càng cao, các trang trại,
đồn điền lớn nhỏ xuất hiện trên nhiều vùng miền ở nước ta nhằm tăng sản lượng để cung
cấp nhu cầu thiết yếu của con người. Kéo theo đó là sự gia tăng các loại phế phẩm nông
nghiệp, trong chăn nuôi phế phẩm chủ yếu là phân gia súc. Nhưng một thực trạng đáng
buồn chính là chúng ta chưa tận dụng triệt để các phế phẩm đó, điển hình là phân heo.
Đối với phân heo chúng ta có thể dùng để ủ Biogas, phân bón, nhưng trong thực tế các
trang trại chăn nuôi gia súc ở nước ta chủ yếu là mô hình nhỏ lẻ, nên việc sử dụng chúng
để ủ Biogas là không phù hợp. Nếu như không sử dụng hoặc sử dụng không hết thì lượng
phân thải ra môi trường sẽ gây nguy hại đến sức khỏe con người cũng như gây ô nhiễm
môi trường. Vì thế việc xử lý cũng như tái sử dụng phân heo là một việc tất yếu để tìm ra
các giải pháp nhằm giúp mọi người tăng thêm thu nhập cũng như bảo vệ môi trường.
4
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Thành phần của các loại phân heo và rơm (%) ............................................... 16
Bảng 1.2 Số liệu thống kê hàng năm về sản lượng lương thực ...................................... 19
Bảng 3.1 Thông số vật lý mẫu thức ăn đã phối trộn (tỷ lệ 1:5 nước) ............................. 34
Bảng 3.2 Mật độ trùn giống ............................................................................................ 34
Bảng 3.3 Bố trí thí nghiệm ............................................................................................. 36
Bảng 4.1 Tốc độ tăng sinh khối của trùn theo các công thức cách nhau sau 60 ngày
nuôi ................................................................................................................................. 39
Bảng 4.2 Khả năng chuyển hóa thức ăn của trùn quế .................................................... 41
5
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Nhiệt kế 0 - 1000C ........................................................................................... 36
Hình 1.2 Khúc xạ kế ....................................................................................................... 37
Hình 1.3 Biểu độ biến động nhiệt độ trong chu kỳ nuôi ................................................ 39
6
DANH MỤC VIẾT TẮT
EM:
Effective Microorganisms
N:
lý loại phế phẩm này vấp phải nhiều khó khăn cụ thể là về mặt thu gom và lưu giữ, nên
đa phần chúng được thải trực tiếp vào môi trường. Gây ô nhiễm môi trường nói chung và
nghiêm trọng hơn là đối với môi trường nước, ảnh hưởng đến đời sống trong khu vực cụ
thể là về mặt sức khỏe và sản xuất kinh tế.
Nhiều biện pháp xử lý chất thải nuôi heo đã được đưa ra tuy nhiên còn nhiều bất cập
và hạn chế, môt số biện pháp có hiệu quả về khía cạnh môi trường nhưng hiệu quả về
mặt kinh tế chưa cao, ví dụ như ủ làm biogas có thể xử lý được phần lớn mùi, chất ô
nhiễm nhưng chi phí đầu tư ban đầu tương đối cao so với điều kiện chăn nuôi quy mô
nhỏ ở Việt Nam. Hơn nữa, hiệu suất chuyển đổi năng lượng tạo ra chưa cao ngay cả khí
biogas thành phẩm cũng chưa được tận dụng tốt, phải xả bỏ góp phần làm gia tăng biến
đổi khí hậu (Hồng và cộng sự, 2012). Hoặc sử dụng ấu trùng ruồi lính đen (Black Soldier
Fly Larvae) nồng độ của các chất dinh dưỡng giảm 40-55% (Larry Newton và cộng sự,
2005) Tuy nhiên vấn đề tiếp cận xã hội đối với vật nuôi này ở Việt Nam còn nhiều hạn
chế và còn khá mới mẻ. Vấn đề cấp thiết nhất là đưa ra một giải pháp vừa đảm bảo xử lý
hiệu quả lượng chất thải trên vừa mang lại hiệu quả kinh tế và có khả năng áp dụng rộng
rãi trong thực tế.
Đề tài "Khảo sát sự sinh trưởng phát triển của trùn quế trong môi trường phân heo
trên quy mô phòng thí nghiệm" nhằm đáp ứng nhu cầu trên. Bởi đối tượng mà đề tài
hướng đến đó là trùn quế, một loại vật nuôi không mới tuy chưa phổ biến nhưng những
hiệu quả mà nó mang lại là không thể phủ nhận. Chi phí đầu tư nuôi trùn không lớn. Mặt
8
bằng nuôi có thể tận dụng trong vườn nhà hoặc các bãi nuôi công nghiệp, các chuồng
trại cũ bỏ không; hoặc làm các lều tán, nhà tạm có mái che; sử dụng các vật dụng đơn
giản như chum, chậu, khay gỗ, thùng xốp v..v…Thức ăn để nuôi trùn chủ yếu sử dụng
nguồn nguyên liệu sẵn có như rác hữu cơ (rau, củ, hoa quả, vỏ trái cây loại bỏ, rơm rạ,
các loại bã đã ép dầu…), phân trâu, bò, dê, lợn, gà… rất dồi dào và rẻ tiền. Kỹ thuật nuôi
đơn giản, trùn lại ít bệnh, tốn ít công chăm sóc. Thịt trùn là sản phẩm ưa chuộng trên thị
trường chăn nuôi nên nếu sản xuất để bán thì có lợi nhuận đáng kể, mang lại giá trị cao.
-Tham khảo ý kiến chuyên gia: tham khảo ý kiến của giảng viên hướng dẫn và các
chuyên gia liên quan.
10
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
I.
Tổng quan về nguyên liệu
1.1
Khái quát về phân heo
Trong vòng 15 năm trở lại đây, số lượng trang trại chăn nuôi lợn đã gia tăng một
cách đáng kể tại Việt Nam. Tổng số lợn hiện nay gần 30 triệu con, trong khi đó đàn lơn
năm 200 chỉ có hơn 20 triệu con (theo Trung tâm Tin học và Thống kê, Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn). Sự phát triển của ngành kinh tế này đã tạo ra một lượng phân
dư thừa nếu so sánh với diện tích trồng trọt hiện có. Kết quả của sự dư thừa này là làm
gia tăng ô nhiễm nước, không khí và đất; ngoài ra còn có các mùi hôi khó chịu, đặc biệt
là trong và xung quanh khu vực chuồng nuôi, kho chứa phân và trong quá trình rải phân.
Bằng cách đo cường độ và thời gian phát tán mùi hôi, người ta đã ước tính được 20%
lượng mùi hôi bắt nguồn từ các khu chuồng nuôi, 10% từ các kho chứa, 5% từ quá trình
tái sinh và 65% từ quá trình rải phân.
Các tài liệu nghiên cứu về sự thoát khí từ phân lợn cho thấy các khí này chủ yếu là
hỗn hợp của metan, cacbon dioxit, ammoniac và hydro sulphit. Amoniac ở đây là thành
phần chính, tuy nhiên nó không phải là chất khí có mùi nặng nhất. Nồng độ trung bình
của NH3 hiếm khi vượt quá 66ppm, trong khi “ngưỡng” mùi của nó là 47ppm. Ngoài ra,
từ các nông trại hoặc các khu vực tồn trữ, chúng không những gây nên tình trạng ô nhiễm
mà còn gây thất thoát cho nhà nông. Khi bị ngấm xuống các tầng nước ngầm, các hợp
chất Nitrat trong phân chuồng cũng như từ các nguồn phân bón khác gây nên nhiều vấn
đề liên quan tới sức khỏe con người. Khi bị trôi theo dòng nước, các chất dinh dưỡng gây
nên hiện tượng phú dưỡng làm cho nước ao hồ, sông suối quá giàu dinh dưỡng gây nên
tình trạng rong rêu phát triển. Hậu quả nghiêm trọng của việc thất thoát quá nhiều dưỡng
chất có thể phải xem xét xa hơn là những vấn đề đơn giản đặt ra từ ban đầu. Ngoài ra mùi
phân và nước tiểu của gia súc có nhiều chất độc hại nếu không xử lý như khí amoniac,
sulfure… sẽ tác động trực tiếp lên niêm mạc đường hô hấp gây kích ứng, tạo điều kiện
cho vi trùng xâm nhập và phát triển. Trong những công trình nghiên cứu về bệnh suyễn,
người ta nhận thấy chính mùi khó chịu là một trong những nguyên nhân gây khởi phát
cơn suyễn và các bệnh dị ứng khác. Nuôi gia súc gần nhà là nuôi ổ chứa nhiều loại vi
trùng, vi-rút khác, nguy hiểm cho sức khỏe. Xây chuồng trại gia súc gần nhà rất có hại
cho sức khỏe.
12
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng hai loại phân từ hai loại heo có nguồn
thức ăn khác nhau, đó là heo ăn cám và heo ăn tạp. Ngoài ra, rơm là thành phần chất độn
chúng tôi dùng để thực hiện nghiên cứu.
1.1.1 Nguồn thức ăn và phân heo ăn cám
Các nhóm thức ăn trong chăn nuôi gồm: Nhóm thức ăn giàu năng lượng, nhóm
thức ăn giàu đạm, nhóm thức ăn giàu khoáng và nhóm thức ăn giàu vitamin.
Nhóm thức ăn giàu năng lượng có giá trị năng lượng cao, chủ yếu cung cấp năng
lượng cho các hoạt động đi lại, thở, tiêu hóa thức ăn và góp phần tạo nên các sản phẩm
như thịt, trứng, sữa, làm cho thai phát triển. Nhóm thức ăn này gồm có: Hạt ngũ cốc
(thóc, ngô,…) sản phẩm phụ từ ngũ cốc (tấm, cám gạo,…) và các loại củ (sắn, khoai
lang, dong riềng, củ từ,…)
Nhóm thức ăn giàu đạm có hàm lượng đạm cao, chủ yếu tổng hợp thành đạm của
cơ thể. Nhóm thức ăn này gồm có: Thức ăn giàu đạm có nguồn gốc thực vật (đậu tương,
toàn. Các mô hình trong một nghiên cứu mới đây cho thấy việc sử dụng thức ăn thừa cho
lợn sẽ làm diện tích cần cho ngành chăn nuôi lợn của châu Âu giảm 21,5% và giảm một
nửa chi phí thức ăn chăn nuôi cho nông dân châu Âu.
Các nhà nghiên cứu mô tả thức ăn thừa thường được dùng ở các vùng khác trên
thế giới, việc này có thể tiết kiệm một lượng tài nguyên khổng lồ toàn cầu và cung cấp
một giải pháp tái chế thân thiện với môi trường cho khoảng 102,5 triệu tấn thức ăn bị
lãng phí ở EU mỗi năm. Hơn 35% chất thải thực phẩm hiện được tái chế thành thức ăn
cho chăn nuôi ở Nhật.
Các nhà nghiên cứu đã xem xét dữ liệu về diện tích đất hiện thời của EU dành cho
chăn nuôi lợn, lượng chất thải thực phẩm trong Liên minh châu Âu, chất lượng và số
lượng thịt lợn được tạo ra khi cho ăn thức ăn chăn nuôi và khi cho ăn thức ăn thừa tái
chế. Từ đó, họ sẽ lập mô hình tính toán bao nhiêu diện tích đất sẽ tiết kiệm được khi lệnh
cấm sử dụng thức ăn thừa được loại bỏ.
14
Khoảng 21,5 triệu tấn thịt lợn tương đương khoảng 34 kg thịt lợn mỗi người được
sản xuất ở EU mỗi năm. Chăn nuôi gia súc chiếm gần 75% diện tích đất nông nghiệp trên
toàn thế giới, hầu hết được dành cho sản xuất thức ăn chăn nuôi. Ngành chăn nuôi lợn
của EU tạo vấn nạn môi trường do việc trồng đậu tương làm thức ăn chăn nuôi, khiến
khu vực Nam Mỹ mất hơn 1,2 triệu ha.
Thức ăn thừa cho lợn rẻ hơn nhiều so với ngũ cốc và đậu tương, việc cho lợn ăn
thức ăn thừa có thể giảm bớt 50% chi phí cho nông dân chăn nuôi lợn châu Âu.
Một cuộc khảo sát gần đây phát hiện ra rằng 25% số nông dân ở Vương quốc Anh thừa
nhận cho lợn ăn một cách bất hợp pháp các loại thức ăn thừa chưa được nấu chin, do đó
những lệnh cấm hiện thời không đặc biệt an toàn. Việc cho lợn ăn chất thải thực phẩm là
nguy hiểm bởi vì lợn có thể nhiễm bệnh từ thịt sống, nhưng một hệ thống hỗ trợ theo luật
định sử dụng thức ăn thừa tái chế nhờ xử lý nhiệt không có những nguy cơ này.
Với nhu cầu thịt và các sản phẩm làm từ sữa dự báo sẽ tăng 60% vào năm 2050,
dưỡng của phân được thể hiện ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Thành phần của các loại phân heo và rơm (%)
Thành phần
Carbon tổng
Nito tổng
DA
Phân heo tươi
31,44
2
53,32
Phân heo khô
29,77
1,81
6,67
Rơm
40,06
đốt. Hiện nay, việc sử dụng hầm Biogas đang được người chăn nuôi quan tâm vì vừa bảo
vệ được môi trường vừa có thể thay thế chất đốt hoặc có thể được sử dụng cho chạy máy
phát điện, tạo ra điện sinh hoạt gia đình và điện phục vụ trang trại.
1.2.2 Xử lý chất thải bằng chế phẩm sinh học
Xử lý môi trường bằng men sinh học: từ đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước người ta
đã sử dụng các chất men để giảm ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi được gọi là “Chế
phẩm EM có nghĩa là vi sinh vật hữu hiệu”. Ban đầu các chất này được nhập từ nước
ngoài nhưng ngày nay các chất men đã được sản xuất nhiều ở trong nước. Các men
nghiên cứu sản xuất trong nước cũng rất phong phú và có ưu điểm là phù hợp hơn với
điều kiện tự nhiên, khí hậu nước ta. Người ta sử dụng men sinh học rất đa dạng như:
Dùng bổ sung vào nước thải, dùng phun vào chuồng nuôi, vào chất thải để giảm mùi hôi,
dùng trộn vào thức ăn…
Chăn nuôi trên đệm lót sinh học: là sử dụng các phế thải từ chế biến lâm sản (phôi
bào, mùn cưa…) hoặc phế phụ phẩm trồng trọt (thân cây ngô, đậu, rơm, rạ, trấu, vỏ cà
phê…) cắt nhỏ để làm đệm lót có bổ sung chế phẩm sinh học. Công nghệ đệm lót sinh
học đầu tiên được ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp ở Nhật Bản từ đầu những năm
1980. Trên cơ sở nghiên cứu gốc chế phẩm EM của Nhật Bản, tiến sĩ Lê Khắc Quảng đã
nghiên cứu, chọn tạo cho ra các sản phẩm EM chứa nhiều chủng loại vi sinh vật đã có
17
mặt trên thị trường. Ngoài ra nhiều cơ sở khác cũng đã nghiên cứu và chọn tạo ra nhiều
tổ hợp vi sinh vật (men) phù hợp với các giá thể khác nhau và được thị trường chấp nhận.
Theo kết luận trên thì chăn nuôi trên đệm lót sinh học giảm gây ô nhiễm môi trường và
phù hợp nhất đối với mô hình chăn nuôi nông hộ. Tuy nhiên điều đáng lưu ý là đệm lót
sinh học kỵ nước, sinh nhiệt nên địa hình cao ráo và việc làm mát, tản nhiệt khi thời tiết
nóng cần phải được quan tâm.
1.2.3 Xử lý chất thải bằng ủ phân hữu cơ (Compost)
Ủ phân compost là sử dụng chủ yếu bã phế thải thực vật, phân của động vật mà
thông qua hoạt động trực tiếp hay gián tiếp của vi sinh vật phân hủy và làm tăng cao chất
khoảng 1,2 tấn rơm rạ. Sản lượng lúa gạo năm 2007 toàn quốc đạt 36 triệu tấn. Như vậy,
lượng rơm rạ thải ra hằng năm vào khoảng 43 triệu tấn. Số liệu thống kê hằng năm được
trình bày theo bảng 1.2
Bảng 1.2 Số liệu thống kê hàng năm về sản lƣợng lƣơng thực
II.
Tổng quan vể trùn quế
2.1
Khái quát về trùn quế
Theo các tác giả Thái Trần bái và Đỗ Văn Nhượng (1985), ở Việt Nam có 6 họ
trùn. Họ Megascolecdae có tới 97 loài trong đó 110 loài của các họ trùn đất. Trong số
19
này có loài Perionyx excavatus thường sống trên mặt đất, nơi ẩm ướt, có nhiều phân và
rác mục (Nguyễn Văn Bảy, 2003).
Trùn quế tên khoa học là Perionyx excavatus, chi Pheretima, họ Megascocidae
(họ cự dẫn), lơp Olygochaeta (lơp trùn ít tơ), ngành Annelides (trùn đốt). Trùn quế là
động vật không xương sống, cơ thể phân đốt, phần đầu thoái hóa, có mang đai sinh dục,
có hệ cơ quan bên trong cơ thể như hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ thần kinh,...được sắp
xếp theo đốt. Mỗi đốt mang một đôi hạch thần kinh giúp trùn ghi nhận cảm giác và phàn
ứng đáp trả với các điều kiện môi trường bên ngoài một cách nhạy cảm.
Trùn thuộc nhóm ăn phân, thường sống trong môi trường có nhiều chất hữu cơ
đang phân hủy, trong tự nhiên ít tồn tại với quần thể lớn và không có khả năng cải tạo
quang màu xanh tím, có đường kẻ dưới bụng màu nhạt và sáng ở gần vành miệng .
b) Kích thước
Trùn nhỏ dài khoảng 3cm, tiết diện 0,2cm. Trùn trung bình dài khoảng 3 – 10cm, tiết
diện thân 0,2 – 0,5cm. Trùn lớn dài trên 10cm, đường kính 0,5 – 0,6cm (Gautam và
Chaudhuri, 2002. Trích dẫn bởi Nguyễn Văn Bảy, 2002)
2.1.2 Cấu tạo cơ thề
Hệ thống tiêu hóa
Gồm lỗ miệng xoang miệng hầu thực quản mề dạ dày ruột manh
tràng trực tràng và hậu môn.
Lỗ miệng: Trùn nuốt thức ăn bằng lỗ miệng, lỗ miệng nằm ở đỉnh đầu và hơi lệch về
phía bụng.
Xoang miệng: Nằm ở đốt I và II, không có răng, vách xoang miệng mỏng có tác
dụng tiếp nhận và giữ thức ăn.
Hầu: Vách hầu có tầng cơ dày kéo dài từ đốt thứ III cho đến đốt thứ V.
Thực quản: Nằm ở đốt thứ VI và đốt thứ VII, hai bên thực quản nhô ra 1 hoặc nhiều
đôi có dạng hình túi, có tác dụng điều tiết độ pH, hỗ trợ các enzyme tiêu hóa hoạt động
21
và hệ vi sinh vật hữu ích trong đường tiêu hóa tồn tại và hoạt động đồng thời cũng có tác
dụng quan trọng trong việc thải khí CO2 ra ngoài.
Mề: Là bộ phận phình to của ống tiêu hóa có dạng túi tròn, thành mề mỏng, nằm ở
đốt thứ VIII, IX, X. nó có tác dụng chứa thức ăn tạm thời, làm ướt và làm mềm thức ăn
và cũng có tác dụng nhất định trong việc tiêu hóa một phần protein của thức ăn.
Dạ dày: Là phần thu hẹp lại của ống tiêu hóa, nằm ở đốt thứ XI đến đốt thứ XIV,
thông với ruột non, có tác dụng tiết ra enzyme tiêu hóa như enzyme protease, amylase,
lipase, cellulose, kitinase, ..
Trực tràng: Có thành mỏng và hẹp, không có tác dụng tiêu hóa thức ăn mà chỉ là nơi
chứa các chất thải sau khi tiêu hóa và đẩy ra ngoài qua hậu môn. Lượng thức ăn mỗi
a) Nhiệt độ
Nhiệt độ thích hợp cho trùn phát triển từ 5ᵒC – 30ᵒC, nhiệt độ thích hợp nhất cho sự
sinh trưởng và sinh sản của trùn là 25ᵒC – 30ᵒC, trong điều kiện khí hậu nhiệt đới tương
đối ổn định và có độ ẩm cao như điều kiện của khu vực phía nam, chúng sinh trưởng và
sinh sản rất nhanh. Ở nhiệt độ môi trường quá cao, để thích nghi trùn sẽ huy động năng
lượng bằng cách tăng cường hô hấp, kéo theo quá trình dị hóa tăng theo, từ đó tiêu tốn
thức ăn cũng tăng lên do đó nhiệt độ cao chúng sẽ bỏ đi và chết dần. Quá trình trên theo
chiều ngược lại ở nhiệt độ quá thấp, chúng sẽ ngừng hoạt động và có thể chết.
Tóm lại, chúng có thể chết khi nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp, khi quá khô và nhiều
ánh sáng nhưng chúng lại có thể tồn tại khá lâu trong môi trường nước có đầy đủ oxy
b) Độ ẩm
Nước là thành phần quan trọng chiếm 80 – 85% khối lượng cơ thể trùn, với các
loại giống khác nhau thì ngưỡng độ ẩm thích hợp cũng khác nhau, độ ẩm thích hợp nhất
cho trùn sinh trưởng và phát triển là 60 – 70%. Độ ẩm và nhiệt độ có mối quan hệ lẫn
nhau và tác động trực tiếp đến sự sinh trưởng và sinh sản của trùn.
23
c) Ánh nắng
Trùn rất sợ ánh nắng nên cần phải che chắn để tránh ánh nắng trực tiếp rọi vào
chuồng làm cho giun sợ và chui xuống phía dưới để sống. Tuy nhiên, khi che chắn vẫn
phải đảm bảo được sự thông thoáng của chuồng trại và nhiệt độ trong chuồng nuôi.
d) Độ pH
Chúng có thể sống ở phổ pH khá rộng từ 4 – 9 tuy nhiên trùn quế sống và sinh sản tốt
nhất ở pH 6,5 – 7,5. Nếu pH quá thấp hoặc quá cao chúng sẽ bỏ đi.
e) Không khí
Trùn quế hô hấp qua da, do đó môi trường sống đòi hỏi thoáng khí. Tuy nhiên thức
ăn của giun chủ yếu là phân nên hàm lượng khí độc hại ( CO2 ,H2S, SO2 , NH3...) tồn tại
với nồng độ cao trong môi trường nuôi. Do đó phải tạo sự thông thoáng cho chuồng nuôi,
mạnh có màu mận chín và có sắc ánh kim trên cơ thể.
Sau 60 ngày trùn đạt 8-10 cm (thu trùn thịt lúc này là tốt nhất).
Từ 70 – 90 ngày trùn bắt đầu đẻ trứng nhưng tỷ lệ nở thấp.
Từ 90 ngày tuổi trở đi, trùn trưởng thành hoàn chỉnh, trùn đẻ rất khỏe (1tuần/lần)
và tỷ lê trứng nở cao nếu trùn được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Những con trùn đã già có
đai sinh dục thoái hóa. Thời gian sinh sản của trùn liên tục quanh năm và cứ diễn ra
trung bình một tuần một lần, nếu không có yếu tố bất lợi thì sự phát triển của trùn quế
luôn tăng theo cấp số nhân.
2.2
Kỹ thuật nuôi trùn quế
2.2.1 Đặc điểm chuồng trại
Tùy mục đích và quy mô kinh doanh mà ta xây dụng các dạng chuồn trại khác
nhau. Nếu nuôi với mục đích lấy trùn nhằm tăng khẩu phần ăn của vật nuôi thì có thể làm
chuồng nuôi đơn giản như nuôi trong chum, chậu,... Nếu nuôi lấy phân cần quy mô lớn
hơn ta nên làm chuồng bằng nilon, gạch,...
25