Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện thọ xuân, tỉnh thanh hóa - Pdf 44

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong
luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ
một học vị nào. Tôi cũng xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho
việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích
dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Huế, ngày tháng

năm 2016

Tác giả luận văn

Lê Văn Niệm

i


LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường kết hợp với
sự nỗ lực cố gắng của bản thân. Đạt được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
chân thành đến:
Quý Thầy, Cô giáo Trường Đại học Kinh tế Huế đã truyền đạt kiến thức, nhiệt
tình giúp đỡ cho tôi trong 2 năm học vừa qua. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc nhất đến Thầy giáo, Tiến sĩ Phan Văn Hòa - Phó Trưởng Phòng đào tạo sau
Đại học - người hướng dẫn khoa học - đã dành nhiều thời gian quý báu để giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến lãnh đạo, Cán bộ cơ quan Huyện ủy huyện Thọ
Xuân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học trong 2 năm vừa qua.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ
tôi trong quá trình thực hiện luận văn này.

Xuân - tỉnh Thanh Hóa” là hết sức cần thiết, nhằm định hướng giải pháp tốt hơn
trong giai đoạn tiếp theo.
2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, phương pháp điều tra chọn mẫu ngẫu
nhiên có điều kiện thu thập số liệu sơ cấp.
Phương pháp chuyên khảo, phương pháp thống kê kinh tế gồm thống kê mô
tả, so sánh, phân tổ thống kê; phương pháp toán kinh tế kiểm định giả thuyết thống
kê, phân tích nhân tố và phân tích hồi quy
3. Kết quả nghiên cứu và những đóng góp khoa học của luận văn
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến chất lượng đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã, phường, thị trấn. Đánh giá thực trạng số lượng và chất lượng đội ngũ
cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn tại huyện Thọ Xuân hiện nay và phân tích xác định
các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ, công chức cấp xã ở địa phương. Đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường.

iii


DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CA
CT
CNXH
CN, XD
CNH, HĐH
CP
HĐND
NN - XD – MT
NQ


- Quân sự
- Trung học cơ sở
- Trung học phổ thông
- Thống kê
- Thủ tướng
- Trung ương
- Ủy ban nhân dân
- Văn phòng - Thống kê
- Xã hội chủ nghĩa
- Kinh tế - Xã hội
- An toàn khu
- Thị xã
- Thành phố
- Giá trị sản xuất
- Tiểu thủ công nghiệp
- Đơn vị tính
- Giá trị gia tăng

iv


DANH MỤC BẢNG BIỂU

v


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN.......................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN...........................................................................................................ii
TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ.................................iii

vi tính để bàn, 02 chiếc máy in; 01 chiếc máy photocopy; 01 chiếc máy fax; 03 máy
điện thoại cố định. Nhưng thực tế hiện nay hầu hết các xã đều không được trang bị
đầy đủ. Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế hiệu suất làm việc ở hệ
thống chính trị cấp xã hiện nay................................................................................16
1.3.4.6. Môi trường làm việc...................................................................................17
1.3.4.7. Yếu tố pháp luật về chế độ, chính sách cán bộ, công chức cấp xã..............18
1.4. CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP
XÃ........................................................................................................................... 19
1.4.1. Quy mô, cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã.....................................................19
1.4.2. Chỉ tiêu chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã...................................19
1.4.2.1. Chỉ tiêu biểu hiện trình độ văn hóa.............................................................20
1.4.2.2. Chỉ tiêu phản ánh về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý nhà
nước......................................................................................................................... 20
1.4.2.3. Chỉ tiêu phản ánh phẩm chất, đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
................................................................................................................................. 20
1.5. TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ VÀ KINH
NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ CỦA
MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TRONG NƯỚC..............................................................21
1.5.1. Tình hình đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của nước ta..............................21
1.5.2. Kinh nghiệm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã của một số địa
phương trong nước..................................................................................................25
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THỌ XUÂN..................................................32
2.1.2. Điều kiện tự nhiên.........................................................................................32
2.2. THỰC TRẠNG SỐ LƯỢNG VÀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THỌ XUÂN......................................41
2.2.1. Số lượng cán bộ, công chức cấp xã huyện Thọ Xuân....................................42
2.2.2. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện Thọ Xuân....................42

vii

BIÊN BẢN HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

viii


NHẬN XÉT PHẢN BIỆN 1
NHẬN XÉT PHẢN BIỆN 2
BẢN GIẢI TRÌNH
XÁC NHẬN HOÀN THIỆN LUẬN VĂN

ix


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đảng và Nhà nước ta đã xác định công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ là khâu
quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định tới chất lượng và hiệu quả công việc, là khâu
then chốt trong sự nghiệp cách mạng, là một trong những yếu tố quyết định sự
thành công trong sự nghiệp đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, hội nhập với nền kinh tế thế giới. Chính vì vậy, Hội nghị Trung ương
3 khóa VIII, Hội nghị Trung ương 5 khoá IX Ban chấp hành Trung ương đã ban
hành hai nghị quyết về "chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước" và về "đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở
xã, phường, thị trấn".
Đội ngũ cán bộ công chức trong bộ máy hành chính tạo thành một nguồn lực
lớn phục vụ cho quá trình tổ chức, điều hành hoạt động của Đảng và Nhà nước. Đội
ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước có một vai trò đặc biệt quan trọng trong
việc quản lý và thúc đẩy sự phát triển của toàn xã hội và bảo đảm cho nền hành
chính quốc gia hoạt động.
Chính quyền cấp xã, phường, thị trấn (gọi là chính quyền cấp xã) có vị trí hết

Trên cơ sở phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
của huyện giai đoạn 2012 - 2014 đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Thọ Xuân đến năm
2020.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về đội ngũ cán bộ công chức cấp xã
và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã;
- Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa
bàn huyện Thọ Xuân giai đoạn 2012-2014;
- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã trên địa bàn huyện Thọ Xuân đến năm 2020.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là những vấn đề liên quan đến chất lượng
đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.
- Phạm vi nghiên cứu:

2


+ Phạm vi không gian: huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
+ Phạm vi thời gian: Đề tài sử dụng các số liệu về đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã huyện Thọ Xuân từ năm 2012 đến năm 2014; điều tra thu thập số liệu sơ cấp
năm 2015 và đề xuất giải pháp đến năm 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, thu thập, xử lý và phân tích số liệu.
+ Số liệu thứ cấp: được thu thập ở các cơ quan ban ngành. Cụ thể từ Niên
giám thống kê Phòng Thống kê; số liệu báo cáo chất lượng, số lượng cán bộ, công
chức cấp xã của Phòng Nội vụ huyện Thọ Xuân. Ngoài ra số liệu thứ cấp được thu
thập từ các giáo trình và tạp chí chuyên ngành đã công bố…
+ Số liệu sơ cấp: thu thập trên cơ sở sử dụng phiếu điều tra trực tiếp đội ngũ

từng thời kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính
trị- xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là
cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp
huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Theo quy định này
thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức
vụ, chức danh theo nhiệm kỳ. Những người đủ các tiêu chí chung của CBCC mà
được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm
kỳ thì được xác định là cán bộ.
Như vậy, thuật ngữ cán bộ nói chung, cán bộ xã-thị trấn nói riêng theo quy
định tại khoản 3, điều 4 “Luật cán bộ, công chức” được Quốc hội thông qua ngày
13/11/2008 thì “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm
kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân (HĐND), Uỷ ban nhân dân, Bí thư, Phó
Bí thư Đảng uỷ, người đứng đầu tổ chức chính trị-xã hội”.
- Hiện nay, khái niệm công chức quy định tại khoản 2, điều 4 “Luật cán bộ,
công chức” được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2008, cụ thể là: “ Công chức là công
dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ
quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội ở trung ương,
cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là
sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc
Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà

4


nước, tổ chức chính trị-xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong
biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh
đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của
đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Theo quy định này thì tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển

được xác định là cán bộ không chuyên trách chiếm số đông và được hưởng phụ cấp
theo chức danh không chuyên trách.
1.2. TIÊU CHUẨN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.2.1. Tiêu chuẩn chung
+ Có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội; có năng lực và tổ chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả đường
lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;
+ Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, công tâm, thạo việc, tận tuỵ với dân.
Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức tổ chức
kỷ luật trong công tác. Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân,
được nhân dân tín nhiệm;
+ Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng,
chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hoá, chuyên môn, đủ năng
lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
1.2.2. Tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ, công chức [04]
Hiện nay, tiêu chuẩn đối với CBCC cấp xã được quy định tại Nghị định
114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về CBCC cấp xã; Nghị định 112/2011/NĐ-CP
ngày 05/12/2011 của Chính phủ về CBCC xã, phường, thị trấn và Quyết định
04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 và Thông tư 06/2012/TT-BNV ngày
30/10/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức trách, nhiệm vụ, tiêu chuẩn cụ thể,
nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn quy định, cụ thể:

Bảng 1. 1 Tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ, công chức cấp xã

6


TT

Tiêu chuẩn cụ thể


Phó
Chủ
HĐND

7

Chủ tịch Hội phụ nữ

8

Chủ tịch UB MT
TQ

9

Chủ tịch Hội N.dân

10

Bí thư Đoàn

11
II
1
2
3
4
5
6


THCS
trở lên
THCS
trở lên
THCS
trở lên
THCS
trở lên
THCS
trở lên

QLNN
Chứng chỉ
Chứng chỉ
Chứng chỉ
Chứng chỉ
Chứng chỉ
Chứng chỉ
Chứng chỉ
Chứng chỉ
Chứng chỉ
Chứng chỉ

Chủ tịch Hội CC
Chứng chỉ
binh
Công chức
Chứng chỉ
Văn phòng-Thống
dụng
trở lên
trở lên
lên

sống; quản lý và sử dụng có hiệu quả công sản và ngân sách Nhà nước phục vụ
nhiệm vụ chính trị.
Từ những góc độ khác nhau nêu trên, có thể đưa ra khái niệm chất lượng
đội ngũ CBCC cấp xã như sau: Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã là một hệ
thống những phẩm chất, giá trị được kết cấu như một chỉnh thể toàn diện được thể
hiện qua phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực, thực hiện có

8


hiệu quả nhiệm vụ được giao của mỗi cán bộ, công chức và cơ cấu, số lượng, độ
tuổi, thành phần của cả đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.
1.3.2. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã
- Xuất phát từ đặc điểm chính quyền cấp xã và vị trí, vai trò của đội ngũ
CBCC cấp xã
Chính quyền cấp xã là đơn vị hành chính ở cơ sở, trực tiếp tổ chức đưa
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống.
Đây cũng là nơi gần dân nhất, tiếp thu những ý kiến của nhân dân để phản ánh cho
Đảng và Nhà nước hoàn thiện chính sách, pháp luật. Trên thực tế, CBCC cấp xã
phải giải quyết một khối lượng công việc rất lớn, đa dạng và phức tạp, liên quan đến
mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở cơ
sở. Do đó, nếu đội ngũ CBCC sa sút về phẩm chất, không đủ năng lực công tác sẽ
gây những hậu quả tiêu cực và nghiêm trọng về nhiều mặt đối với mỗi địa phương
nói riêng và cả nước nói chung.
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh, việc nâng cao chất lượng đội ngũ
CBCC cấp xã là nhân tố then chốt trong xây dựng hệ thống chính quyền vững
mạnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy "Cấp xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng của
hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi" (Hồ Chí
Minh, toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H.1995, tr.371). Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa IX xác định: "Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có

CNH, HĐH như Việt Nam, những đổi mới công nghệ diễn ra rất nhanh chóng, đòi
hỏi mỗi người làm việc phải ứng phó linh hoạt với sự thay đổi đó để thích ứng. Để
làm được điều này, người lao động đòi hỏi phải có một nền tảng kiến thức cơ bản và
kiến thức chuyên môn tốt, các kiến thức này chỉ có thể có được nhờ qúa trình học
tập và đào tạo trong đó đặc biệt là đào tạo đại học.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đó là việc sử dụng nguồn nhân
lực hiệu quả trong việc áp dụng các phương pháp sản xuất công nghiệp, các phương
tiện kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất kinh doanh. Sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đặt ra những yêu cầu cao đối với sự phát triển nguồn nhân lực, trên các
phương diện về thể lực, trí lực và ý thức, phẩm chất đạo đức.
Về thể lực, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi sức khỏe và thể lực cường
tráng của người lao động trên các khía cạnh; có sức chịu đựng dẻo dai đáp ứng
những quá trình sản xuất liên tục, kéo dài; có các thông số nhân chủng học đáp ứng
các hệ thống thiết bị công nghệ được sản xuất; luôn có sự tỉnh táo, sảng khoái tinh

11


thần, điều này lại phụ thuộc chủ yếu vào trạng thái sức khỏe của người lao động.
Về trí lực, CNH, HĐH đòi hỏi người lao động phải có trình độ văn hóa,
chuyên môn, kỹ thuật cao, nhất là lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ tự động hóa,
công nghệ sinh học hiện đại,…Vì vậy, đòi hỏi đại bộ phận nguồn nhân lực xã hội
phải được đào tạo về chuyên môn kỹ thuật, đó là: đội ngũ ngày càng đông đảo lao
động trí tuệ có trình độ quản lý ngày càng phức tạp và phương pháp quản lý tiên
tiến, nắm bắt và phát triển các công nghệ hiện đại trong tất cả các lĩnh vực.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là cơ sở tốt cho việc tổ chức sử dụng
lao động, phát huy trí tuệ, óc sáng tạo của đội ngũ lao động trong việc áp dụng khoa
học, công nghệ nhằm làm tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là lao động trí tuệ có ý nghĩa

có trình độ năng lực và xếp họ vào đúng chỗ, đúng việc.
Việc sắp xếp đúng chỗ, đúng việc sẽ tạo điều kiện phát huy tinh thần hăng say
làm việc, khuyến khích tinh thần học tập và rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn.
Chính vì vậy công tác tuyển chọn, bổ nhiệm có ảnh hưởng rất lớn đối với chất
lượng của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã.
Đối với CBCC cấp xã vẫn thực hiện cơ chế Đảng cử dân bầu; tuyển chọn bổ
nhiệm chưa gắn với thi tuyển, lựa chọn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ cùng với
việc một số cấp ủy đảng, một số ngành, địa phương, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ
về chính sách của Đảng đối với khu vực này. Các cấp ủy đảng chưa quán triệt sâu
sắc quan điểm về xây dựng CBCC cấp xã ở vùng dân tộc và miền núi cho các
ngành, các cấp, các đơn vị, cũng như cho CBCC trong điều kiện lịch sử cụ thể cho
nên việc tuyển chọn, bổ nhiệm CBCC cấp xã ở một số địa phương chưa được quan
tâm đúng mức, cán bộ đi học về chưa bố trí; sử dụng chưa đúng năng lực, sở
trường. Số sinh viên dân tộc thiểu số tốt nghiệp chưa được tuyển chọn, bổ nhiệm,
bổ sung tăng cường về cấp xã; việc tuyển chọn, bổ nhiệm nhiều khi mang tính hình
thức sắp đặt không theo những yêu cầu cụ thể về phẩm chất và năng lực của mỗi
chức danh. Việc tuyển chọn bổ nhiệm chưa gắn với công tác đào tạo và quy hoạch.
Như vậy khó tránh khỏi hiện tượng tuyển dụng những người kém về năng
lực, phẩm chất làm ảnh hưởng đến chất lượng của cán bộ, công chức cấp xã.
1.3.4.2. Yếu tố đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã

13


Chất lượng cán bộ, công chức chính quyền cấp xã hình thành và chịu ảnh
hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu và quan trọng là thông qua đào tạo.
Đào tạo CBCC cấp xã là làm cho đội ngũ này có được những năng lực theo
những tiêu chuẩn nhất định. Năng lực ở đây bao gồm trình độ về kiến thức, năng
lực về hiểu biết, nhận thức sự việc, năng lực điều hành, tổ chức thực hiện, sơ kết,
tổng kết rút kinh nghiệm và đề xuất giải pháp để thực hiện đạt mục tiêu...

học viên là người dân tộc thiểu số, không đạt được mục tiêu đào tạo đề ra, không
nâng cao được kỹ năng thực hành; chưa nâng cao được tư duy kinh tế, năng lực
quản lý kinh tế cho CBCC để có thể tổ chức, điều hành nhằm đưa đời sống của
nhân dân thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu.
- Nội dung chương trình đào tạo chưa phù hợp với đối tượng học viên, chưa
có sự đầu tư thỏa đáng trong xây dựng chương trình. Một số bài giảng khô khan,
nặng về truyền đạt lý luận với những thuật ngữ trừu tượng, phức tạp trong khi trình
độ tiếp thu của học viên khá hạn chế.
- Công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng không khoa học, việc quản lý mang
nặng về phương pháp hành chính đơn thuần, chưa kết hợp chặt chẽ giữa quản lý
bằng nội quy, quy chế với quản lý bằng nội dung kiến thức.
- Chưa huy động được nhiều nguồn lực tham gia đào tạo đối với CBCC
thuộc khu vực đặc biệt khó khăn.
- Sau khi đào tạo nhiều người không được sử dụng vào công việc chuyên
môn của mình; chính sách về đào tạo chưa hợp lý.
Từ những phân tích trên đây cho thấy đào tạo, bồi dưỡng ảnh hưởng rất lớn
đến việc hình thành và nâng cao chất lượng của CBCC cấp xã. Tuy nhiên, những bất
cập trong công tác đào tạo, bồi dưỡng nhất là đối với các xã miền núi làm cho chất
lượng CBCC cấp xã chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng của đội ngũ này.
1.3.4.3. Yếu tố quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, công chức cấp xã
Kiểm tra, giám sát và quản lý là hoạt động nhằm nắm chắc thông tin, diễn
biến về tư tưởng, hoạt động của CBCC giúp cho cấp ủy và thủ trưởng phát hiện vấn
đề nảy sinh, kịp thời điều chỉnh và tác động, làm cho CBCC luôn hoạt động đúng
hướng, đúng nguyên tắc.
Qua đó để có thưởng phạt nghiêm minh, ngăn chặn cái xấu, cái tiêu cực, phát
huy những nhân tố tích cực; đồng thời nắm vững thực trạng của CBCC và là cơ sở
để làm tốt công tác cán bộ từ quy hoạch cho đến đào tạo và sử dụng bố trí cán bộ.
Thực tế cho thấy, đối với CBCC cấp xã, một số cán bộ khi mới được đề bạt,

15

chuẩn, định mức trang thiết bị và phương tiện làm việc tính chung cho 01 xã bao

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status