ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐỖ VĂN DŨNG
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI
SGK LỊCH SỬ 10 - CƠ BẢN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Thái Nguyên, năm 2013
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2011
ĐỖ VĂN DŨNG
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG
DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI
SGK LỊCH SỬ 10 - CƠ BẢN
Trang bìa phụ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học lịch sử
Chế độ phong kiến
CNTB
Chủ nghĩa tư bản
ĐHSP
Đại học sư phạm
ĐHQG
Đại học quốc gia
GCTS
Giai cấp tư sản
Nxb
Nhà xuất bản
LSTG
Lịch sử thế giới
PPDH
Phương pháp dạy học
lực nội sinh cho sự phát triển bền vững của quốc gia, dân tộc.
Xuất phát từ nhu cầu phát triển của đất nước, Đảng Cộng Sản Việt Nam
và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc “Bồi dưỡng thế hệ trẻ
cách mạng cho đời sau”. Tại Đại hội lần thứ VIII của Đảng (1996) khẳng
định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Cho tới nay, Nghị quyết Đại hội XI
(01/2011) tiếp tục xác định: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân
trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát
triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam. Phát triển giáo
dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng
đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển” [23, tr52]. Sinh
thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” –
điều đó đã được lịch sử chứng minh và thực tiễn cách mạng Việt Nam kiểm
nghiệm. Nhận thấy rõ tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo, Người luôn
chú trọng xây dựng một nền giáo dục mới - nền giáo dục mà mục tiêu, nội
dung và phương pháp phải hướng đến việc phát triển con người toàn diện,
cũng như động viên mọi lực lượng tham gia sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Kế thừa và phát huy quan điểm ấy, Điều 2, Luật giáo dục 2005 nêu rõ “Mục
tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức,
1
tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất
và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ tổ quốc”. Để đạt được mục tiêu đó, ngoài sự đóng góp, trách nhiệm của
toàn xã hội thì nhà trường được xem là vị trí trung tâm, có vai trò quan trọng
thông qua các môn học của mình, trong đó có môn lịch sử.
Trong hệ thống các môn học ở trường phổ thông, lịch sử với tư cách là
một môn khoa học không chỉ cung cấp hệ thống kiến thức khoa học về lịch sử
hiệu quả. Bởi vậy, vấn đề đổi mới PPDH theo hướng tích cực, “Lấy người học
làm trung tâm” đã và đang được đặt ra, và cần triển khai một cách triệt để, có
hiệu quả. Coi đây là “cuộc cách mạng” trong nhận thức về công tác dạy học
hiện nay.
Để đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh, cũng như mục tiêu
giáo dục bộ môn hiện nay, việc dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói
riêng cần phải đổi mới, nâng cao hơn nữa về cả nội dung cũng như phương
pháp dạy học. Trong đó, cần phát huy được tính tích cực học tập của học sinh,
biến các em trở thành chủ thể của quá trình nhận thức, không bị gò bó, thụ
động. Điều này sẽ giúp học sinh tìm thấy động lực khát khao trong việc lĩnh
hội tri thức mới, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết, tránh áp đặt kiến
thức cho học sinh, làm ảnh hưởng rất xấu đến quá trình nhận thức của các em.
Như Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng căn dặn giáo viên: “Dạy sử cũng
như dạy bất cứ môn học nào, đòi hỏi giáo viên phải khơi gợi trí thông
minh...Làm sao ngay ở nhà trường ta phải bắt buộc học sinh dùng trí thông
minh, trí khôn, sự suy nghĩ để hiểu biết rộng ra và nhờ đó đến lúc vào đời
mới phát huy được tài năng”[9, tr29].
Trong dạy học lịch sử, đồ dùng trực quan nói chung và các loại đồ dùng
trực quan quy ước nói riêng đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải nội
dung kiến thức cho học sinh, đồng thời, còn làm cho giờ học lịch sử trở nên
sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn hơn, giúp các em nhớ kỹ, hiểu sâu kiến thức và
biết vận dụng vào thực tiễn.
3
Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT, và
việc học tập của sinh viên khoa lịch sử ở trường đại học sư phạm trong việc
rèn luyện kỹ năng xây dựng và sử dụng các loại đồ dùng trực quan quy ước
với việc phát huy tính tích cực của học sinh, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Xây
đồ dùng trực quan trong dạy học: chính nhờ trực quan mà hình ảnh thu được
gắn chặt trong trí nhớ học sinh.
2.2. Các công trình nghiên cứu trong nước
Cuốn “Đổi mới việc dạy, học lịch sử lấy học sinh làm trung tâm” của
Hội giáo dục Lịch sử Việt Nam, khẳng định rằng muốn nâng cao chất lượng
dạy học thì trước hết phải tiến hành đổi mới mục tiêu giáo dục, chương trình,
nội dung giáo dục trong đó hướng vào đổi mới PPDH từ quan điểm “Lấy thầy
làm trung tâm” sang “Lấy người học làm trung tâm” mà thực chất là phát huy
tính tích cực của học sinh. Ví dụ, trong bài báo cáo của GS. Phan Ngọc Liên
“Nhận thức và hành động trong đổi mới việc dạy, học lịch sử lấy học sinh làm
trung tâm” có viết: “...Lấy học sinh làm trung tâm trong công tác giáo dục
phổ thông không hề hạ thấp, làm giảm vai trò của giáo viên, không kích thích
tính tự phát của học sinh mà chính là giáo dục, hướng dẫn, phát huy tính chủ
động, năng lực tư duy, sáng tạo của học sinh trong tiếp thu và vận dụng kiến
thức đã học có hiệu quả...” [12, tr23]
Nguyễn Thị Côi – Trịnh Đình Tùng với cuốn “Rèn luyện kỹ năng
nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử”[4], đã trình bày một cách chi tiết, có hệ
thống về những kỹ năng sư phạm cần thiết trong dạy học lịch sử. Trong đó,
khẳng định kỹ năng sử dụng đồ dùng trực quan được coi là yếu tố quan trọng
trong dạy học lịch sử. Trong đó có viết: “Sơ đồ lịch sử nhằm cụ thể hoá nội
dung một biến cố hay một hiện tượng lịch sử để học sinh nắm được những nét
chủ yếu, các logic vận động, phát triển của lịch sử. Trên cơ sở ấy các em nắm
vững được các đặc trưng có bản, cấu tạo nội hàm của khái niệm” [4, tr55]
5
GS. Phan Ngọc Liên (Chủ biên) trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch
sử” (tập 2) đã trình bày khái quát những vấn đề cơ bản về phương pháp sử
dụng đồ dùng trực quan trong giờ học lịch sử.
phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học nội khoá, ngoại khoá phần
lịch sử thế giới cận đại SGK lịch sử 10 - cơ bản.
4. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trước hết là nhằm mục đích nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường
phổ thông. Bởi vì, trong quá trình chuẩn bị bài giảng và lên lớp, yêu cầu
người giáo viên không chỉ biết xác định cách xây dựng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị
mà còn phải có phương pháp sử dụng phù hợp sáng tạo để phát huy tính tích
cực học tập của học sinh.
Nghiên cứu đề tài này, là cơ sở giúp bản thân tác giả đề tài tích luỹ thêm
được nhiều kinh nghiệm cho bản thân trong việc nghiên cứu khoa học; đồng
thời, cũng mong góp một phần nhỏ sáng kiến của mình làm phong phú hơn
phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông.
5. Phương pháp nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
5.1. Phương pháp nghiên cứu
5.1.1. Nghiên cứu lý luận
Dựa trên cơ sở phương pháp luận sử học Mácxit, lý luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng có liên quan; kết
hợp với phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic trong nghiên cứu các tài
liệu phục vụ cho đề tài.
Từ đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu các nguồn tài liệu: Tâm lý – Giáo
dục học, phương pháp dạy học lịch sử, các tài liệu lịch sử có liên quan, SGK
lịch sử 10 (cơ bản), thiết kế bài giảng ở trường THPT, và nhiều tài liệu tham
khảo khác.
5.1.2. Nghiên cứu thực tiễn
Tiến hành điều tra thực tế dạy học lịch sử ở trường THPT (qua sổ điểm,
trao đổi, dự giờ của giáo viên, điều tra qua phiếu...).
7
Trong quá trình dạy học, không có một phương pháp dạy học nào là vạn
năng. Vì vậy, ta phải biết phối hợp nhịp nhàng, linh hoạt và sáng tạo hệ thống
các phương pháp, nhằm nâng cao hiệu quả của bài học. Trong đó, cần chú
trọng phương pháp xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị nhằm phát huy
tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử.
Đề tài thành công, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn, đáp
ứng những đòi hỏi của mục tiêu giáo dục hiện nay.
8. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, thì nội dung chính
gồm 2 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng sơ
đồ, biểu đồ, đồ thị trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông.
Chương II: Một số biện pháp xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ
thị trong dạy học phần lịch sử thế giới cận đại SGK lịch sử 10 - cơ bản.
9
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG
VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ TRONG DẠY HỌC
LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh
1.1.1.1. Tầm quan trọng của việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh
Trong công cuộc đổi mới giáo dục – đào tạo hiện nay, đổi mới PPDH là
một yêu cầu được đặt ra thường xuyên, cấp bách và có ý nghĩa quan trọng.
Bởi vì, theo mục tiêu giáo dục của Đảng và nhà nước thì con người được đào
tạo ra phải là người lao động làm chủ, có trình độ văn hoá cơ bản, đáp ứng
cực của học sinh.
Tích cực là chủ động, hăng hái, nhiệt tình với nhiệm vụ được giao. Tính
tích cực là phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội. Để tồn tại
và phát triển, con người luôn tìm tòi, khám phá, cải biến môi trường để phục
vụ cho cuộc sống của mình. Theo Thái Duy Tuyên thì “Tích cực hoá là một
tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động
sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng
cao hiệu quả học tập” [22, tr269]. Tính tích cực của học sinh có hai mặt tự
giác và tự phát. Mặt tự giác biểu hiện ở sự tò mò, hiếu động, sôi nổi trong
hoạt động vốn có của các em. Mặt tự giác của tính tích cực thể hiện ở óc quan
sát, sự phê phán, nhận xét trong tư duy, tò mò khoa học. Đây chính là trạng
thái tâm lý tích cực có mục đích và đối tượng rõ rệt, có hoạt động cụ thể để
chiếm lĩnh đối tượng đó.
Phát huy tính tích cực học tập của học sinh tức là làm cho các em trở
thành chủ thể của quá trình nhận thức, là “trung tâm” của quá trình dạy học,
chủ động, hăng hái trong việc tự chiếm lĩnh tri thức, dưới sự tổ chức, hướng
dẫn, điều khiển của giáo viên. Như vậy, vai trò của người thầy không những
không bị gạt bỏ, mà ngược lại đòi hỏi người thầy phải giỏi về chuyên môn,
vững về phương pháp.
11
Việc học tập của học sinh là quá trình nhận thức đặc thù với tính gián
tiếp, tính lãnh đạo và tính giáo dục. Như vậy, tính tích cực học tập chính là
tính tích cực của nhận thức. Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động
nhận thức của học sinh thể hiện trong khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và có
nghị lực cao trong quá trình lĩnh hội tri thức. Hoạt động nhận thức tích cực có
ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả dạy học, giáo dục và phát
triển toàn diện học sinh. Trước hết, tính tích cực trong nhận thức giúp các em
trình tìm kiếm cái mới chưa biết, lĩnh hội tri thức một cách sáng tạo, và vận
dụng chúng một cách linh hoạt, có hiệu quả vào thực tiễn.
Để đạt được mục tiêu giáo dục bộ môn, đòi hỏi phải phát huy tính tích
cực của học sinh. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là phó mặc để học sinh
tuỳ tiện, tự chiếm lĩnh nguồn tri thức rộng lớn, mà cần có sự hướng dẫn, tổ
chức và điều khiển của giáo viên. Ở đó, có mối quan hệ tương tác giữa giáo
viên với học sinh chan hoà, thân ái, hợp tác thông hiểu lẫn nhau; làm giảm
dần mối quan hệ điều khiển, chỉ huy và bị điều khiển, bị chỉ huy một chiều.
Muốn thực hiện có hiệu quả việc phát huy tính tích cực của học sinh, yêu
cầu phải đảm bảo thực hiện các nguyên tắc sau:
Một là, tránh dạy học theo lối “Thầy đọc, trò ghi” mang tính giáo điều,
“nhồi sọ”, biến giáo viên thành người thuyết trình, giảng giải và học sinh thụ
động tiếp nhận những điều đã được ghi, được nghe, không tích cực suy nghĩ,
đặt vấn đề và giải quyết vấn đề. Hậu quả của việc làm này là khiến học sinh
dễ rơi vào tình trạng “học vẹt”, chỉ nắm máy móc sự kiện, mà không hề đi vào
tìm hiểu bản chất của sự kiện, không thể hiểu và vận dụng những tri thức đó
vào thực tiễn cuộc sống. Nhà giáo dục Đức Đixteve đã nói: “Người giáo viên
tồi truyền đạt chân lý, người giáo viên giỏi dạy cách tìm ra chân lý”. Nghĩa
là, người giáo viên không nên coi việc cung cấp cho học sinh những kiến thức
có sẵn, để các em học thuộc lòng, rồi kiểm tra việc ghi nhớ của học sinh như
thế nào, mà phải khơi gợi, nêu ra vấn đề để các em bám vào đó nghiên cứu
các nguồn tài liệu, vận dụng những tri thức đã có mà tự tìm ra và lĩnh hội nó
một cách sáng tạo. Phải cho học sinh hiểu rõ rằng, không nên coi những điều
giáo viên cung cấp là tuyệt đối đúng và đầy đủ, mà chỉ nên coi đây là một
trong những “kênh” thông tin, là hướng gợi mở cho các em chủ động, tích cực
13
nắm bắt các nguồn tài liệu tham khảo khác để bổ sung cho vấn đề, làm sâu
sắc, phong phú sự hiểu biết của bản thân. Có như vậy, tri thức mới thực sự là
1.1.2.1. Vai trò, ý nghĩa việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong
dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Sơ đồ, biểu đồ, đồ thị là các loại đồ dùng trực quan quy ước được sử
dụng thường xuyên trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, nhằm minh
hoạ, cụ thể hoá kiến thức trong SGK. Đó còn là nguồn cung cấp kiến thức
mới, củng cố, ôn tập kiến thức đã học, phát triển tư duy, khả năng hoạt động
độc lập của học sinh. Sơ đồ, biểu đồ, đồ thị giúp các em lĩnh hội được tri thức
một cách nhanh nhất, có hệ thống nhất; đồng thời, cũng tránh được sự quá tải,
nhồi nhét kiến thức cho học sinh.
* Sơ đồ, biểu đồ, đồ thị là công cụ đắc lực cho việc tạo biểu tượng lịch sử
Quá trình học tập nói chung, học tập lịch sử nói riêng luôn tuân theo quy
luật: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến
thực tiễn”. Khoa học lịch sử có những đặc trưng riêng với tính quá khứ, tính
không lặp lại, tính cụ thể,...Nên quá trình nhận thức lịch sử cũng mang những
nét độc đáo so với quá trình nhận thức các môn học khác. Đó là, trong quá
trình nhận thức, học sinh không thể trực tiếp quan sát sự kiện, nhân vật lịch sử
mà chỉ được tiếp xúc với tri thức lịch sử một cách gián tiếp qua lời giảng của
giáo viên, các nguồn tài liệu và đồ dùng trực quan. Vì vậy, giai đoạn trực quan
sinh động là bước khởi đầu quan trọng trong quá trình nhận thức, làm cơ sở
hình thành biểu tượng lịch sử. Để có được điều này, ngoài việc cung cấp sự
kiện, giáo viên cần phải biết cách xây dựng và sử dụng một cách linh hoạt
các loại đồ dùng trực quan quy ước (trong đó có sơ đồ, biểu đồ, đồ thị) vào
quá trình dạy học.
Như ta đã biết, học sinh không thể trực quan sinh động quá khứ lịch sử,
nên việc tạo biểu tượng lịch sử là một yêu cầu quan trọng trong DHLS. “Biểu
tượng lịch sử là những hình ảnh về sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiện địa
lý...được phản ánh trong đầu óc học sinh với những nét chung nhất, điển hình
nhất” [18, tập 1-tr189]. Nội dung của một sự kiện lịch sử, được học sinh nhận
15
liên hệ và quan hệ giữa chúng với nhau. Điều này được thể hiện rõ qua những
đặc trưng vốn có của sơ đồ, biểu đồ, đồ thị.
16
* Sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị có tác dụng phát huy tính tích cực học
tập của học sinh
Đồ dùng trực quan (trong đó có sơ đồ, biểu đồ, đồ thị) không chỉ có tác
dụng minh hoạ, cụ thể hoá bài học, mà còn là một nguồn kiến thức lịch sử
quan trọng giúp học sinh tìm ra bản chất, quy luật của sự kiện lịch sử. Sơ đồ,
biểu đồ, đồ thị còn có tác dụng rèn luyện, thúc đẩy các kỹ năng tư duy phát
triển như: phân tích, so sánh, giải thích, tổng hợp...đồng thời gây hứng thú,
say mê, hình thành ý thức tự giác học tập cho học sinh.
* Xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị có ý nghĩa giáo dục lớn đối
với giáo viên và học sinh
Việc xây dựng và sử dụng các loại đồ dùng trực quan quy ước đòi hỏi
phải chính xác và khoa học, qua đó sẽ rèn luyện tính cẩn thận, sự tỉ mỉ trong
giảng dạy và học tập. Hơn nữa, thông qua việc xây dựng và sử dụng sơ đồ,
biểu đồ, đồ thị của giáo viên cũng giáo dục tính thẩm mĩ, biết yêu cái đẹp của
học sinh.
Ngoài ra, việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị còn có tác
dụng to lớn trong việc phát triển tư duy lôgic, năng lực quan sát, trí tưởng
tượng, tư duy, ngôn ngữ, đặc biệt có hiệu lực với các cơ quan cảm giác trong
quá trình nhận thức của học sinh. Về điều này, KĐ Usinxki có nói: “Người
giáo viên nào có kỳ vọng phát triển trí tuệ cho trẻ em, thì trước hết, cần phải
luyện tập năng lực quan sát của chúng, dẫn chúng đi từ sự tri giác tổng hợp
đến sự tri giác định hướng, phân tích” [24, tr106]. Cùng với đó, sơ đồ, biểu
đồ, đồ thị còn có tác dụng to lớn trong việc cung cấp kiến thức mới, củng cố,
ôn tập những kiến thức đã học, khắc sâu tri thức vào đầu óc học sinh.
sự phát triển của khoa học lịch sử.
Ba là, phải đảm bảo tính hiện đại, tiện lợi và thẩm mỹ
Hiện nay, trước sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin thì việc
ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói
riêng là một biện pháp hỗ trợ tích cực góp phần nâng cao hiệu quả dạy học.
Các phần mềm như Power point, Violet...chính là công cụ hữu ích giúp giáo
viên có thể xây dựng hệ thống sơ đồ, biểu đồ, đồ thị một cách dễ dàng, tiện
lợi và đẹp mắt, hơn hẳn phương pháp kẻ, vẽ bằng tay trước đây. Để làm được
điều này, yêu cầu giáo viên cần phải không ngừng học tập, trau dồi các kỹ
năng sử dụng công nghệ thông tin, đồng thời cũng phải biết khai thác triệt để
những tiện ích đó, phục vụ cho quá trình giảng dạy đạt kết quả cao nhất.
18
Khi xây dựng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị yêu cầu giáo viên cần phải có kiến
thức có hiểu biết về hình khối, màu sắc cần thiết để xây dựng sơ đồ, biểu đồ,
đồ thị đẹp mắt và đạt hiệu quả sử dụng cao trong dạy học bộ môn. Việc bố trí
các hình khối, mũi tên, đường kẻ thể hiện mối quan hệ giữa các đối tượng
cũng phải chính xác, lôgic. Màu sắc phải hài hoà, trang nhã, dễ nhìn (nền màu
nhạt, chữ màu đậm). Nếu thiếu hiểu biết, hoặc tuỳ tiện trong việc xây dựng hệ
thống sơ đồ, biểu đồ, đồ thị sẽ dẫn đến hậu quả phản giáo dục.
Việc xây dựng hệ thống sơ đồ, biểu đồ, đồ thị phải đảm bảo tính tiện lợi,
hiệu quả giúp cho học sinh thấy dễ dàng, thuận lợi trong hoạt động nhận thức nội
dung lịch sử, hình thành những biểu tượng lịch sử làm cơ sở cho việc hình thành
khái niệm và rút ra bài học kinh nghiệm, quy luật của sự phát triển lịch sử.
Bốn là, phải phát huy tính tích cực của học sinh.
Sơ đồ, biểu đồ, đồ thị không chỉ để minh hoạ, cụ thể hoá bài học mà còn
là một nguồn kiến thức lịch sử giúp học sinh tìm ra bản chất, quy luật của sự
kiện lịch sử. Do vậy, việc xây dựng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị cần phải hướng đến
cấp kiến thức mới, củng cố hay ôn tập.
Phải sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trên khổ giấy lớn treo tường (loại này
cần phải chuẩn bị trước ở nhà) nếu lớp rộng và đông học sinh để tất cả các em
đều có thể quan sát được. Khi sử dụng, phải treo đúng nơi quy định, tiện cho
quá trình giảng dạy và theo dõi của học sinh. Yêu cầu, giáo viên cần có
phương tiện hỗ trợ (thước, đèn laze) để chỉ dẫn cho học sinh, tránh sử dụng
một cách tuỳ tiện.
Đối với những loại sơ đồ, biểu đồ, đồ thị có kích thước nhỏ, giáo viên vẽ
nhanh lên bảng cho các em tiện theo dõi, hoặc yêu cầu các em theo dõi trong
SGK (nếu có), hoặc in sẵn ra giấy phát cho các em, trên cơ sở đó hướng dẫn
học sinh nghiên cứu nội dung bài học. Yêu cầu, phải luôn đảm bảo cho tất cả
học sinh trong lớp đều có thể tiếp cận được với sơ đồ, biểu đồ, đồ thị, có điều
kiện thuận lợi để học tập, tránh việc sử dụng một cách hình thức, đối phó.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Đặc điểm tâm, sinh lý học sinh THPT
Lứa tuổi học sinh THPT bao gồm những em có độ tuổi từ 14 đến 18 tuổi,
đó là những học sinh đang theo học lớp 10, 11,12 ở các trường THPT. Các
nhà tâm lý học lứa tuổi còn gọi độ tuổi này là tuổi thanh niên mới lớn, và đây
cũng được coi là thời kỳ đặc biệt quan trọng của cuộc đời. Là thời kỳ kết thúc
căn bản quá trình trưởng thành và phát triển lâu dài của đứa trẻ về tâm, sinh
20
lý. Là thời kỳ năng lực trí tuệ, nhân sinh quan, thế giới quan, lý tưởng và toàn
bộ nhân cách con người đang biến đổi và phát triển về chất. Ở độ tuổi này,
hầu hết các em đã phát triển, hoàn thiện về mọi mặt, cả về thể chất và tâm lý.
Có thể nói, nhân cách của các em đã được định hình về cơ bản.
Cùng với sự phát triển về các mặt như: Chiều cao, trọng lượng cơ thể, hệ
xương, hệ cơ, các chức năng sinh lý được hoàn thiện thì sự phát triển của hệ
thần kinh cũng có những thay đổi quan trọng, do cấu trúc bên trong của bộ