Trường THPT Phú Thònh Đề cương ôn tập Văn học 12
NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH
I. QUAN ĐIỂM SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ
MINH:
Hồ Chí Minh xem văn nghệ là một
hoạt động tinh thần phong phú và phục
vụ có hiệu quả cho cách mạng. Nhà
văn phải có sự gắn bó sâu sắc với
đời để từ đó khám phá và sáng tạo
góp phần vào nhiệm vụ đấu tranh và
phát triển xã hội. Người khẳng đònh
“văn học nghệ thuật cũng là một
mặt trận, anh chò em là chiến só trên
mặt trận ấy”.
Hồ Chí Minh chú ý đến đối tượng
thưởng thức. Văn chương trong thời đại
cách mạng phải coi quảng đại quần
chúng là đối tượng phục vụ. Tác
phẩm văn chương phải thể hiện tinh
thần dân tộc của nhân dân và được
nhân dân yêu thích. Người nêu kinh
nghiệm chung cho hoạt động báo chí,
văn chương. Viết cho ai? Viết cái gì?
Viết như thế nào? Bên cạnh đó người
chú ý đến mối quan hệ giữa phổ
cập và nâng cao trong văn nghệ.
Hồ Chí Minh quan niệm tác phẩm
văn chương phải có tính chân thực.
Người yêu cầu các nhà văn phải
miêu tả cho hay, cho chân thật, cho
hùng hồn sự phong phú của đời sống
thiết tha, chân tình với đồng bào cả
nước.
b. Truyện và kí: cô đọng , sáng tạo
giàu chất trí tuệ và tính hiện đại. Các
truyện ngắn thường dựa vào sự kiện
có thật, người viết hư cấu để thực
hiện ý đồ của mình.
Tác phẩm tiêu biểu: Lời than
vãn của bà Trưng Trắc(1922), Vi hành
(1923), Những trò lố hay là Varen và
Phan Bội Châu (1925),…
c. Thơ trữ tình:
- Nhật kí trong tù: gồm 133 bài thơ
chữ Hán viết trong nhà tù Tưởng Giới
Thạch. Tập thơ phản ánh sâu sắc, sinh
động và tài hoa, tâm hồn, nhân cách
cao đẹp của Hồ Chí Minh.
- Những bài thơ sáng tác trong
thời kì Người ở Việt Bắc trước năm
1945 và trong chín năm kháng chiến
chống thực dân Pháp có sự kết hợp
chất trữ tình đằm thắm với cảm hứng
anh hùng ca.
Các bài thơ tiêu biểu: Pac Pó
hùng vó, Tức cảnh Pác Pó, Rằm
tháng giêng, Tin thắng trận,…
- Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh (1990)
tập hợp 36 bài thơ chữ Hán viết ở
nhiều thời điểm, thể hiện nhiều đề
tài khác nhau.
thành công những mẫu chuyện nhỏ
là một nét độc đáo của tài năng
tác giả trong văn xuôi.
Truyện và kí của NAQ là những
tác phẩm mở đầu và góp phần đặt
nền móng đầu tên cho nền văn xuôi
Cách mạng. Ngòi bút của Người trong
truyện
móng mở đường cho nền văn học
cách mạng Việt Nam hiện đại.
III. PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT:
Hồ Chí Minh là người bước đầu
đặt nền móng và mở đường cho nền
văn học Cách mạng. Văn chương của
Hồ Chí Minh có phong cách đa dạng mà
thống nhất, đã kết hợp được sâu sắc
tự bên trong mối quan hệ giữa chính trò
và văn học, giữa tư tưởng và nghệ
thuật, giữa truyền thống và hiện đại.
mỗi thể
ngắn rất chủ động và sáng tạo: có
khi là giọng điệu sâu sắc, châm biếm
thâm thúy và tinh tế. Chất trí tuệ và
tính hiện đại là những nét đặc sắc
trong truyện ngắn của NAQ.
Về thơ ca, phong cách sáng tạo của
Người rất đa dạng. Nhiều bài viết theo
hình thức cổ thi hàm súc, uyên thâm,
đạt chuẩn mực cao về nghệ thuật. Thơ
của HCM mang đặc điểm của thơ cổ
Bằng bút pháp trào phúng bật
thầy và hình thức viết thư,tác giả
đã phê phán một cách đích đáng
sự lố lăng kệch cõm của tên vua
bù nhìn KĐ ,vạch trần bản chất xấu
xa của thực dân pháp và tội ác
của chúng đối với dân thuộc đòa .
4. NỘI DUNG TÁC PHẨM
A. Nội dung đả kích
* Chân dung Khải Đònh:
Qua mẫu đối thoại của đôi thanh
niên Pháp,chân dung Khải Đònh hiện
lên sinh động bằng bút pháp châm
biếm
- Ngoại hình:
+ Mũi tẹt, mắt xếch, mặt bủng như
vỏ chanh
+ Trang phục: hắn khoác lên người
cả bộ lụa là,bộ hạt cườm,có cả cái
Giáo viên Nguyễn Thò Thúy Liễu
2
Trường THPT Phú Thònh Đề cương ôn tập Văn học 12
Đảng cộng sản VN năm 1923.
2. MỤC ĐÍCH SÁNG TÁC :
Vi hành chủ yếu là vạch trần bộ
mặt xấu xa của Khải Đònh - một tên
vua bù nhìn vô dụng
Vi hành cũng đả kích mạnh mẽ
bọn thực dân Pháp với các chính sách
“khai hóa” thâm độc và hành động vi
vach ra những thủ đoạn xảo trá của
chính phủ pháp cuộc sống của thanh
niên pháp thời bấy giờ.
B. Đặc sắc nghệ thuật:
* Tạo tình huống nhầm lẫn:
-Đôi thanh niên pháp tửơng nhầm
NAQ là KĐ tái hiện chân dung kòch
cởm lố lăng của KĐ là do cách
nhìn ,sự đánh gía của người p chứ k
phải của tác giả tăng sức thuyết
phục c01 tính khách quan
-Người pháp nhầm những ai có
chụp đèn chụp lên cái đầu quấn
khăn,ngón tay đeo đầy nhẫn
+ Điệu bộ: nhút nhát,lúng ta lúng
túng
Ngoại hình xấu xí,trang phục lố lăng
kệch cỡm.Đây là bức chân dung biếm
họa gây cười
-Hành động:
+ Lén lút vi hành theo lệnh quan
thầy Pháp
+ Vi hành đến trường đua,tiệm cầm
đồ nếm thử cuộc đời của các cậu
công tử bé
Dưới con mắt người Pháp, Khải Đònh
chỉ là một thứ đồ cổ, một con rối,
một trò hề không hơn không kém.
→
phóng đại (ngay đến chính phủ pháp
cũng chẳng nhận ra khách thật của
mình )
- Sử dụng lối chơi chữ vừa hài hước
Giáo viên Nguyễn Thò Thúy Liễu
3
Trường THPT Phú Thònh Đề cương ôn tập Văn học 12
màu da vàng đều là đế An Nam
đón tiếp bằng thái độ kỳ thò
chủng tộc (hắn đấy xem hắn kìa)
-Chính phủ Pháp nhầm k biết ai là
KĐ nên phái người theo hộ giá
“thầm kín ,rụt rè ,vô tư và hết sức
tận t “cho mật thám theo dõi
những người VN yêu nước, một sự vi
phạm về nhân quyền ngay trên đất
nước vần có tiếng là tự do, tôn
trọng nhân quyền .
vừa châm biếm mà ý vò sâu
cay.dùng nhiều từ đẹp đẽ để diễn
tả sự thật xấu xa.
- Tiếng cười có nhiều sắc thái và
đậm chất trí tuệ
Tóm lại, hóm hỉnh và giễu cợt, nhầm lẫn và
giả định, cùng với lối viết ngắn mang màu sắc
văn xi hiện đại phương Tây, đã tạo nên tính
chiến đấu của truyện “Vi hành”. “Vi hành” thể
hiện sâu sắc tư tưởng chống chế độ thực dân
Pháp và bọn bù nhìn tay sai. Nó tiêu biểu cho
phong cách nghệ thuật giản dị mà sắc bén,
sớm )
-Trằn trọc lo âu không bao giờ nguôi nỗi đau lớn của dân tộc và nhân
loại nhiều đêm một mình đối diện với vầng trăng?(đêm thu ,đêm lạnh …)
III. NGHỆ THUẬT
1.Phong cách đa dạng:
Hồn nhiên, bình dò ,cổ điển mà hiện đại ,chiến só mà thi só ,luôn ẩn hiện
nụ cười thoải mái trẻ trung pha chút hóm hỉnh ,hài hước
2.Màu sắc cổ điển:
-Giàu cảm hứng về vẻ đẹp thiên nhiên
-Thiên nhiên được miêu tả bằng một vài nét chám phá ,ghi linh hồn tạo
vật
-Nhân vật trữ tình ung dung ,nhân nhã tâm hồn hoà hợp thiên nhiên như
một ẩn só.
3.Kết hợp giữa màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại :
-Hình tượng thiên thiên luôn vận động hướng về ánh sáng tương lai
-Nhân vật trữ tình là một chiến só ,vượt lên trên mọi cảnh khó khăn .
- Tinh thần dân chủ thể hiện sâu sắc ở đề tài , tư tưởng, nhân vật trữ
tình.
4. Thể loại :thơ chữ hán ,tứ tuyệt ,cổ điển
5. Hình ảnh: ước lệ tượng trưng.
Hồ Chí Minh
“Quyện
đ
iểu quy lâm tầm túc thụ
Cơ vân mạn mạn
đ
ộ thiên khơng;
Sơn thơn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hồn lơ d
ĩ
chữ “tối” đã mất đi ý vị “ý tại ngơn ngoại” vẻ đẹp hàm súc của thơ chữ Hán cổ điển:
“Cơ em xóm núi xay ngơ tối
Xay hết lò than đã rực hồng”
Bài thơ có cảnh bầu trời và xóm núi, có áng mây, cánh chim chiều. Chim về rừng, mây lơ lửng.
Có thiếu nữ xay ngơ và lò than hồng. Đằng sau bức tranh cảnh chiều tối là một nỗi niềm buồn, cơ đơn,
là một tấm lòng hướng về nhân dân lao động, tìm thấy trong khoảnh khắc chiều tối. Nghệ thuật mượn
cảnh để tả tình. Điệu thơ nhè nhẹ, man mác bâng khng, đậm đà màu sắc cổ điển. Tinh tế trong biểu
hiện, đậm đà trong biểu cảm là vẻ đẹp trữ tình của bài thơ “Chiều tối” này… Rất nhân hậu, rất người.
I
“Nhất thứ kê đề dạ vị lan,
Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san;
Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,
Nghênh diện thu phong trận trận hàn.
II
Đơng phương bạch sắc dĩ thành hồng,
U ám tàn dư tảo nhất khơng;
Nỗn khí bao la tồn vũ trụ,
Hành nhân thi hứng hốt gia nồng”
Hồ Chí Minh
I.HOÀN CẢNH SÁNG TÁC
Tảo giải (Giải đi sớm) là chùm thơ 2 bài 42, 43 trong “Ngục trung nhật ký” của Hồ Chí
Minh.
Giáo viên Nguyễn Thò Thúy Liễu
6
Trường THPT Phú Thònh Đề cương ôn tập Văn học 12
Trên đường chuyển lao từ Long An đến Đồng Chính, Hồ Chí Minh viết chùm thơ này.
Như một trang ký sự của người đi đày thế nhưng đằng sau cảnh sắc thiên nhiên hé lộ một
hồn thơ khống đạt, mạnh mẽ và tự tin, u đời.
Bài I, ngay câu đầu ghi lại thời điểm chuyển lao:
“Nhật ký trong tù” gồm có 133 bài thơ, phần lớn là thơ tứ tuyệt. Bài thơ “Mới ra tù, tập leo núi”
khơng nằm trong số 133 bài thơ ấy. Một số tài liệu cho biết, ngày 10/9/1943, tại nhà giam
Liễu Châu, Hồ Chí Minh đã giành được tự do. Ra tù, chân yếu, mắt mờ, tóc bạc. Người đã kiên
trì tập luyện để phục hồi sức khỏe. Tập leo núi, và khi leo đến đỉnh núi, Bác cao hứng viết bài
thơ này. Bài tứ tuyệt “Mới ra tù, tập leo núi” được Bác Hồ viết vào rìa một tờ báo Trung Quốc,
kèm theo dòng chữ: “Chúc chư huynh ở nhà mạnh khỏe và cố gắng cơng tác. Ở bên này bình
n”. Ngồi mục đích bí mật nhắn tin về nước, bài thơ thể hiện một tình u nước và thương nhớ
đồng chí, bạn bè của Hồ Chủ tịch.
II. PHÂN TÍCH
1. Hai câu đầu: Bức tranh sơn thủy hữu tình .
Giáo viên Nguyễn Thò Thúy Liễu
7
Trường THPT Phú Thònh Đề cương ôn tập Văn học 12
Hai câu đầu là hai câu thơ tuyệt bút tả cảnh sơn thủy hữu tình. Có mây, núi ơm ấp
quấn qt. Có lòng sơng như tấm gương trong, khơng gợn một chút bụi nào! Câu thơ dịch
khá hay:
“Núi ấp ơm mây, mây ấp núi,
Lòng sơng gương sáng bụi khơng mờ”
Ba nét vẽ chấm phá đã lột tả được cái hồn cảnh vật. Nghệ thuật sử dụng điệp ngữ, nhân
hóa và so sánh đã làm hiện lên phong cảnh sơn thủy hùng vĩ và hữu tình. Bức tranh sơn thủy
được miêu tả ở tầm cao và xa, đậm đà màu sắc cổ điển. Trong bối cảnh lịch sử bài thơ ra đời,
hình ảnh mây, núi, lòng sơng mang hàm nghĩa sâu sắc, tượng trưng cho tâm hồn trong sáng, cao cả và
thủy chung của con người.
2. Hai câu cuối : Tâm trạng của tác giả
Hai câu 3, 4 thể hiện một tâm trạng rất điển hình của người chiến sĩ cách mạng đang ở
nơi đất khách q người. Từ Tây Phong Lĩnh (Liễu Châu) đến Nam thiên là mn dặm xa
cách. Vừa leo núi, dạo bước mà lòng bồi hồi, bồn chồn, khơng n dạ. Leo núi đến tầm cao
rồi ngóng nhìn xa (dao vọng) trời Nam, q hương đất nước mà lòng xúc động “nhớ bạn xưa”
(Ức cố nhân):
“Bồi hồi dạo bước Tây Phong Lĩnh
8
Trường THPT Phú Thònh Đề cương ôn tập Văn học 12
điệu thơ tha thiết ngân vang. Lòng u đời, u cuộc sống, niềm khao khát tự do càng trở
nên sơi sục, mạnh mẽ:
“Nghe chim reo trong gió mạnh lên triều
Nghe vội vã tiếng dơi chiều đập cánh
Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh
Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về…
(…) Nghe gió xối trên cành cây ngọn lá
Nghe mênh mang sức khỏe của trăm lồi”
Người chiến sĩ trẻ lần đầu bị thực dân Pháp bắt bớ, giam cầm. Hầu như suốt đêm
ngày thao thức “lắng nghe” những âm thanh, “những tiếng đời lăn náo nức” lay gọi. Tâm tư
xao xuyến, bồi hồi, mênh mang. Trong hồng hơn, tiếng dơi đập cánh nghe sao mà “vội vã”.
Và giữa đêm khuya, một tiếng “lạc ngựa”, một cái “rùng chân”, một “tiếng guốc đi về”, tiếng
“gió xối” - tất cả là âm thanh cuộc đời, gần gũi, thân quen, nhưng giờ đây trong cảnh thân tù
những âm thanh ấy mang một ý nghĩa vơ cùng mới mẻ, đó là tiếng gọi tự do, là tiếng lòng sơi sục,
trẻ trung và căng đầy nhựa sống.
“Tâm tư trong tù” là sự thể hiện một cách chân thật, cảm động những suy ngẫm về tự do,
để tự vượt mình, tự khẳng định mình của người chiến sĩ cách mạng trong xiềng xích uất hận.
Phút mơ hồ về “một trời rộng rãi”, về một “cuộc đời sây hoa trái”, về “hương tự do thơm
ngát cả ngàn ngày” đã bị nhà thơ tự phủ định. Cả một dân tộc đang quằn quại trong xích
xiềng nơ lệ “đọa đày trong những hố thẳm khơng cùng”. Đất nước đang bị thực dân Pháp
thống trị. Dù ở trong song sắt hay ở ngồi song sắt nhà tù, mỗi con người Việt Nam đều là
vong quốc nơ. Nhận thức mới về tự do được diễn tả qua hai hình ảnh tương phản đầy ý
nghĩa:
“Tơi chiều nay, giam cấm hận trong lòng,
Chỉ là một giữa lồi người đau khổ.
Tơi chỉ một con chim non bé nhỏ
Vứt trong lồng con giữa một lồng to”
“Con chim non bé nhỏ” ấy đang bay đi trong bão táp. Cũng như trong bài thơ “Trăng trối” viết
Khép lại bài thơ là âm thanh một tiếng còi xa rúc gọi: “Có một tiếng còi xa trong gió
rúc”. Đó là tiếng gọi lên đường đấu tranh. Như một mệnh lệnh trang nghiêm! Sống và chết vì
tự do!
Viết theo thể thơ mới, điệu thơ hùng hồn, mạnh mẽ, lý tưởng cách mạng, tinh thần
chiến đấu hy sinh được khẳng định như một lời thề. Tâm tư trong tù phản ánh chân thực niềm
khao khát tự do và dũng khí giữ vững niềm tin của người thanh niên cộng sản trong chốn tù
ngục. Đó là phần đóng góp của thơ Tố Hữu trong “Từ ấy”. Đẹp nhất, đáng khâm phục nhất là
Tố Hữu đã sống và chiến đấu như thơ ơng đã viết. Đó là bài học về nhân sinh quan cách
mạng mà hơn nửa thế kỷ sau vẫn làm chấn động hồn ta.
I. HỒN CẢNH LỊCH SỬ
Ngày 19/8/1945 chính quyền ở thủ đơ Hà Nội đã về tay nhân dân ta. 23/8/1945, tại
Huế trước hàng vạn đồng bào ta, vua Bảo Đại thối vị. 25/8/1945, gần 1 triệu đồng bào Sài
Gòn - Chợ Lớn quật khởi đứng lên giành chính quyền. Chỉ khơng đầy 10 ngày, Tổng khởi
nghĩa và Cách mạng tháng Tám đã thành cơng rực rỡ.
Cuối tháng 8/1945, tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Hà Nội, lãnh tụ Hồ Chí Minh
soạn thảo bản Tun ngơn Độc lập. Và ngày 2/9/1945; tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội,
Người thay mặt Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hồ, đọc bản Tun ngơn
Độc lập trước hàng chục vạn đồng bào ta, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ
ngun mới Độc lập, Tự do.
II. BỐ CỤC
1. Cơ sở pháp lý và chính nghĩa của bản Tun ngơn Độc lập (Từ đầu đến “khơng ai
chối cãi được”)
2. Bản cáo trạng tội ác của thực dân Pháp và q trình đấu tranh giành độc lập của
nhân dân ta (“Thế mà hơn 80 năm nay… Dân tộc đó phải được độc lập!”)
3. Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tun bố với thế giới
(Phần còn lại).
III. PHÂN TÍCH
1. Cơ sở pháp lý và chính nghĩa của bản Tun ngơn Độc lập là khẳng định quyền bình đẳng,
quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người. Đó là những quyền khơng
ai có thể xâm phạm được; người ta sinh ra phải ln ln được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
giết nốt số đơng tù chính trị ở n Bái và Cao Bằng”.
b. Q trình đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta
- Từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ khơng phải thuộc
địa của Pháp nữa. Nhân dân ta đã nổi dậy giành chính quyền khi Nhật hàng Đồng minh.
- Nhân dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân và chế độ qn chủ mà lập nên chế
độ Dân chủ Cộng hồ. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thối vị.
- Chế độ thực dân Pháp trên đất nước ta vĩnh viễn chấm dứt và xố bỏ.
- Trên ngun tắc dân tộc bình đẳng mà tin rằng các nước Đồng minh “quyết khơng
thể khơng cơng nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”:
“Một dân tộc đã gan góc chống ách nơ lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã
gan góc về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do. Dân tộc
đó phải được độc lập.
Phần thứ hai là những bằng chứng lịch sử khơng ai chối cãi được, đó là cơ sở thực tế và
lịch sử của bản Tun ngơn độc lập được Hồ Chí Minh lập luận một cách chặt chẽ với những lí
lẽ đanh thép, hùng hồn.
3. Lời tun bố với thế giới
- Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước
tự do, độc lập (từ khát vọng đến sự thật lịch sử hiển nhiên)
- Nhân dân đã quyết tâm giữ vững quyền tự do, độc lập ấy (được làm nên bằng
xương máu và lòng u nước).
* Tun ngơn độc lập là một văn kiện lịch sử vơ giá của dân tộc ta,
thể hiện phong cách chính luận của Hồ Chí Minh
1. Cùng với bài thơ “Sơng núi nước Nam” của Lý Thường Kiệt, “Bình Ngơ đại cáo” của
Nguyễn Trãi, bản “Tun ngơn độc lập”, phản ánh đúng diện mạo tinh thần và truyền thống
chống xâm lăng của dân tộc Việt Nam trong trường kỳ lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ
nước.
2. Một lối viết ngắn gọn (950 từ). Có câu văn 9 từ mà nêu đủ nêu đúng một cục diện
chính trị: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thối vị”. Những bằng chứng lịch sử về 10 tội ác
của thực dân Pháp và q trình đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta là khơng ai chối cãi
được. Sử dụng điệp ngữ tạo nên những câu văn trùng điệp đầy ấn tượng: “Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”
2. Nẻo đường hành qn chiến đấu vơ cùng gian khổ:
Phải vượt qua bao cồn mây, dốc thẳm, phải vượt qua những đỉnh núi “ngàn thước lên
cao…” phải lần bước trong đêm, trong màn mưa rừng. Lấy cái gian khổ vơ cùng để ca ngợi
bản lĩnh chiến đấu và chí can trường của đồn binh Tây Tiến. Đó là một nét vẽ lãng mạn:
“Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Lng mưa xa khơi”
3. Những kỷ niệm đẹp một thời trận mạc đã trở thành hành trang của người lính Tây Tiến :
Nhớ hội đuộc hoa, nhớ “nàng e ấp”, nhớ “khèn man điệu”:
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”
Nhớ hương vị núi rừng đậm đà tình qn dân. Nhớ “Mai Châu mùa em thơm nếp xơi”.
Nhớ cơ gái miền Tây – bơng hoa rừng một chiều sương cao ngun Châu Mộc trên con
thuyền độc mộc:
“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trơi dòng nước lũ hoa đong đưa”
Giáo viên Nguyễn Thò Thúy Liễu
12
Trường THPT Phú Thònh Đề cương ôn tập Văn học 12
Những kỷ niệm đẹp ấy cho thấy tâm hồn trẻ trung, u đời, hồn nhiên, hào hoa của
người chiến sĩ Tây Tiến. Đó cũng là những nét vẻ lãng mạn đáng u.
4. Hình ảnh đồn binh Tây Tiến được khắc họa bằng những chi tiết vừa hiện thực vừa lãng mạn :
Nếm trải nhiều gian khổ, thiếu thốn giữa chiến trường núi rừng ác liệt nên “qn xanh
màu lá”, “khơng mọc tóc”. Oai phong lẫm liệt trong lửa đạn: “mắt trừng” (hốn dụ), “dữ oai
II. CHỦ ĐỀ
Bài thơ thể hiện tình u mến, thương nhớ và tự hào đối với q hương kinh Bắc; căm giận
qn xâm lược đang giày xéo q hương; niềm tin vào một ngày mai giải phóng, q hương
trở lại thanh bình.
III. NỘI DUNG
1. Hai câu thơ mở đầu với tiếng “em” thần tình . Khơng xác định. Có thể là người thương trong
nỗi nhớ đồng vọng. Có thể là một nhân vật trữ tình xuất hiện mơ hồ trong tâm tưởng thi
nhân? Cũng có thể là sự phân thân của tác giả?
“Em” xuất hiện, gợi nhớ gợi thương, để vỗ về an ủi và chia xẻ nỗi đau buồn, thương
nhớ. Cũng là để thi sĩ khơi nguồn cảm xúc đang dào dạt trong lòng. Ý vị đậm đà chất thơ của
bài “Bên kia sơng Đuống” là ở tiếng “em” và 2 câu thơ này:
“Em ơi buồn làm chi
Anh đưa em về sơng Đuống”
2. Dòng sơng tuổi thơ
Giáo viên Nguyễn Thò Thúy Liễu
13
Trường THPT Phú Thònh Đề cương ôn tập Văn học 12
Với Hồng Cầm thì sơng Đuống là dòng sơng thơ ấu với bao thương nhớ. Con sơng đã
gắn bó với tâm hồn nhà thơ. Nhớ khơng ngi “cát trắng phẳng lì”, nhớ nao nao lòng “Sơng
Đuống trơi đi - Một dòng lấp lánh”; lấp lánh ánh bình minh, lấp lánh trăng sao soi vào gương
sơng trong xanh. Nhớ về dáng hình, về thế đứng của nó trong lịch sử: “Nằm nghiêng nghiêng
trong kháng chiến trường kỳ”. Câu thơ mang hàm nghĩa thế đứng hiên ngang của q hương trong
kháng chiến.
Đơi bờ dòng sơng q hương là một màu “xanh xanh” bát ngát, là sắc “biêng biếc” của bãi
mía, bờ dâu, của ngơ khoai. Bức tranh q trù phú, giàu đẹp thật “nhớ tiếc” và “xót xa” vơ
cùng:
“Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngơ khoai biêng biếc
Đứng bên này sơng sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay”
nỗi đau trước sự tàn phá, điêu tàn, tan tác của một miền văn hóa lâu đời thời máu lửa.
Thuận Thành, Kinh Bắc có núi sơng mĩ lệ, chùa chiền thắng cảnh với bao lễ hội tưng
bừng mang theo bao huyền thoại, sự tích thần kỳ, với những gác chng, những tháp, những
tượng Phật cổ kính bao đời nay. Chùa Phật Tích, núi Thiên Thai, chùa Dâu, chùa Bút Tháp,
Giáo viên Nguyễn Thò Thúy Liễu
14
Trường THPT Phú Thònh Đề cương ôn tập Văn học 12
tượng Phật Quan Âm nghìn mắt nghìn tay. Ca dao: “Dù ai đi đẩu đi đâu - Cứ nhìn thấy tháp
Chùa Dâu mà về”. Tục ngữ: “Mồng bảy hội Khám, mồng tám hội Dâu, mồng chín đâu đâu
cũng về hội Gióng”. Phan Huy Chú đã viết trong “Lịch triều hiến chương loại chí”: “Kinh Bắc
có mạch núi cao chót vót, nhiều sơng quanh vòng, là mạn trên của nước ta… Mạch đất tốt tụ
vào đấy nên càng nhiều chỗ có dấu tích đẹp, tinh hoa hợp vào đấy nên sinh ra nhiều danh
thần”.
Trong chiến tranh, đưa con ly hương nhớ tiếc, xót xa q hương:
“Ai về bên kia sơng Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thống mộng bình n
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chua Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chng chùa văng vẳng nay người ở đâu”…
4. Nhớ con người q hương
Nhớ sơng Đuống, nhớ bãi mía bờ dâu, nhớ hương lúa nếp thơm nồng… Nhớ mãi, nhớ
nhiều những hội hè đình đám, nhớ tranh gà lợn, nhớ giấy điệp. Nhớ núi Thiên Thai, nhớ
chng chùa ngân nga… Nhớ “nàng mơi cắn chỉ quết trầu”, nhớ cụ già “phơ phơ tóc trắng”,
nhớ “những em sột soạt quần nâu”. Nhớ bồi hồi “từng khn mặt búp sen - Những cơ hàng
xén răng đen - Cười như mùa thu tỏa nắng”. Nhớ “những nàng dệt sợi – Đi bán lụa mầu”…
nhớ “Những người thợ nhuộm - Đồng Tỉnh, H Cầu…”.
“Sáng mát trong” (1948) và “Đêm mít tinh” (1949).
III. CHỦ ĐỀ
Bài thơ nói lên lòng u nước và niềm tự hào dân tộc; nghĩ về đất nước theo chiều dài
lịch sử; tầm cao của giống nòi; quyết chiến đấu và hy sinh để bảo vệ và xây dựng đất nước
u q.
IV. NỘI DUNG
1. u những mùa thu q hương :
- Mùa thu Hà Nội q vãng đẹp mà buồn:
“Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu khơng ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”.
- Mùa thu chiến khu, đất nước và con người dào dạt một sức sống và niềm vui thiết
tha:
“Gió thổi rừng tre phấp phới.
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha”
Cả đất trời “mát trong” ngào ngạt “hương cốm mới” mang theo trong làn gió thu nhẹ:
“Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới”
Cái hay của đoạn thơ là giàu cảm xúc hồi niệm hiện về trong hiện tại, “những ngày
thu đã xa” sống lại trong “mùa thu này”, tạo nên chất thơ ngọt ngào.
2. Đất nước hùng vĩ tráng lệ :
Vui sướng tự hào trong tâm thế của người chiến sĩ đang làm chủ đất nước. Diễn đạt trùng
điệp khẳng định tạo nên âm điệu hào hùng, đĩnh đạc:
“Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sơng đỏ nặng phù sa”
Các tính từ - vị ngữ: “Xanh, thơm, mát, bát ngát, đỏ nặng - gợi tả vẻ đẹp vĩnh hằng