HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
HỒ ANH TUẤN
XÂY DỰNG HẠ TẦNG MẠNG VIỄN THÔNG - CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN PHỤC VỤ TRIỂN KHAI CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ TẠI
NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2017-2020
ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP CAO CÁP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI, THÁNG 6 NĂM 2017
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
ĐỀ ÁN
XÂY DỰNG HẠ TẦNG MẠNG VIỄN THÔNG - CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN PHỤC VỤ TRIỂN KHAI CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ TẠI
NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2017-2020
Người thực hiện: Hồ Anh Tuấn
Lớp: Cao cấp lý luận chính trị Nghệ An
Chức vụ: Phó Giám đốc
Đơn vị công tác: VNPT Nghệ An
HÀ NỘI, THÁNG 6 NĂM 2017
MỤC LỤC
năm gần đây Nghệ An đã đạt được những thành tích nổi bật trong các lĩnh vực
5
Nông - Lâm - Ngư nghiệp; Công nghiệp - xây dựng; Thương mại - du lịch và dịch
vụ, Công nghệ Thông tin và Truyền thông, kêu gọi và thu hút vốn đầu tư...
Công nghệ Thông tin - Truyền thông là lĩnh vực mới, có tốc độ phát triển
nhanh và Nghệ An có nguồn nhân lực dồi dào cho lĩnh vực này. Việc đẩy mạnh ứng
dụng CNTT bước đầu đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý trong các cơ quan
Nhà nước và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và là mục tiêu quan trọng
được Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện.
Trong những năm gần đây, hệ thống viễn thông và CNTT của Nghệ An đã liên tục
phát triển và hiện đại hoá, phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ an
ninh - quốc phòng, góp phần to lớn vào sự tăng trưởng kinh tế chung của toàn tỉnh,
đáp ứng các nhu cầu phát triển của địa phương và nhu cầu ngày càng cao của các cơ
quan quản lý Nhà nước, người dân và các doanh nghiệp.
Việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước, hướng tới phát
triển Chính phủ điện tử (CPĐT) là xu thế tất yếu, là mô hình phổ biến của nhiều
quốc gia. Hiện nay, có nhiều định nghĩa về CPĐT, tuy nhiên khái niệm chung nhất,
bao quát nhất có nội dung chính như sau:“Chính phủ điện tử là Chính phủ ứng
dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước,
tăng cường công khai, minh bạch thông tin, cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho
người dân và doanh nghiệp”. Xây dựng CPĐT trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu của bất cứ Chính phủ nào. Chính phủ điện tử góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu
quả hoạt động của Chính phủ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội, bảo đảm an
ninh, quốc phòng. Chính phủ điện tử cho phép người dân tương tác, nhận được các
dịch vụ từ Chính phủ 24 giờ một ngày, 07 ngày một tuần, đảm bảo tính công khai
minh bạch, giảm được số lần đi lại, tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của tổ
chức, cá nhân, doanh nghiệp trong giải quyết thủ tục hành chính; tăng cường cơ chế
giám sát, hạn chế tệ quan liêu, nhũng nhiễu, tiêu cực, cửa quyền, nâng cao tính
dịch vụ VT-CNTT của các tổ chức, cá nhân khi triển khai CPĐT và từ đó đề xuất kế
hoạch xây dựng hạ tầng mạng VT-CNTT của VNPT Nghệ An giai đoạn 2017 - 2020
đáp ứng tốt nhất cho công cuộc triển khai xây dựng CPĐT của tỉnh.
7
2. Mục tiêu của đề án
2.1. Mục tiêu chung của đề án
Cơ sở hạ tầng mạng Viễn thông - Công nghệ Thông tin phục vụ triển khai
Chính phủ điện tử tại Nghệ An được triển khai xây dựng, đáp ứng yêu cầu cải cách
hành chính trong bộ máy quản lý nhà nước hiện nay.
2.2. Mục tiêu cụ thể của đề án
- Đến năm 2020, cơ bản hoàn thiện khung kiến trúc CPĐT tỉnh Nghệ An,
đảm bảo hoạt động các cơ quan của tỉnh cơ bản trên môi trường mạng.
- 100% UBND cấp xã sử dụng phần mềm quản lý văn bản, phần mềm một
cửa điện tử liên thông; 100% cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, huyện chỉ đạo điều hành
công việc qua phần mềm, hộp thư điện tử công vụ; 80% văn bản (trừ văn bản mật)
trao đổi giữa các cơ quan nhà nước được gửi dưới dạng điện tử và văn bản giấy,
đồng thời được ký số; 100% cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh sử dụng hộp thư
điện tử công vụ trong trao đổi văn bản, công việc.
- 80% các thông tin dữ liệu về tài nguyên và môi trường phải được quản lý,
tích hợp, chia sẻ và thường xuyên cập nhật tình trạng thông qua các hệ thống thông
tin quản lý tài nguyên và môi trường.
- 100% Trung tâm Y tế từ tuyến xã vận hành tốt hệ thống phần mềm quản lý
khám, chữa bệnh, quản lý tổng thể bệnh viện.
- Ứng dụng mạnh mẽ CNTT trong tất cả các ngành, lĩnh vực theo hướng
triển khai các ứng dụng thông minh, hỗ trợ lãnh đạo ra quyết định, trong đó tập
trung vào các lĩnh vực bức xúc, cấp bách như: quản lý và phát triển đô thị, tài
nguyên môi trường, giao thông, giáo dục, y tế,....
- 100% cổng/trang thông tin điện tử của các cơ quan hành chính cấp tỉnh, cấp
doanh nghiệp cạnh tranh trong môi trường toàn cầu hoá. Nếu vẫn tồn tại dưới hình
thức truyền thống, Chính phủ sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện vai trò của
mình. Vậy làm thế nào để bộ máy Chính phủ giải quyết được vấn đề trên? Câu trả
lời được nhiều người tán thành là phát triển CPĐT. Trong bối cảnh chi phí công
đang ngày càng trở thành nỗi ám ảnh thời hậu khủng khoảng, CPĐT càng là bước đi
cấp thiết của tất cả nền kinh tế. CPĐT ra đời có thể sẽ dễ dàng đáp ứng yêu cầu của
toàn cầu hoá bàng cách áp dụng công nghệ hiện đại, rút ngắn không gian và tiết
kiệm thời gian, tạo khả năng kiểm soát các “rủi ro toàn cầu” một cách hiệu quả.
Cuộc khủng hoảng toàn cầu trên thực tế khách quan cũng khiến các Chính
phủ nhận thấy nhu cầu bức thiết trong việc phát triển CPĐT. Đứng trước nguy cơ bị
phá giá nội tệ hoặc vỡ nợ công, hầu hết Chính phủ ở các nền kinh tế có thu nhập cao
và trung bình đều đã tiến hành một loạt các biện pháp khắc khổ. Nhưng các biện
pháp đó đang đẩy nhanh bất ổn xã hội và khiến Chính phủ ngày càng ít lựa chọn
hơn ngoài việc phát triển CPĐT. Là một quốc gia đang phát triển và cũng chịu ảnh
10
hưởng không nhỏ từ những biến động trên thị trường phát sinh từ cuộc khủng hoảng
kinh tế thế giới, Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.
Công nghệ Thông tin đang làm biến đổi sâu sắc đời sống, kinh tế, văn hoá xã
hội của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ trên toàn thế giới. Phát triển và ứng dụng
CNTT đang là cơ sở hạ tầng cho việc phát triển nền kinh tế quốc dân, từ cơ sở này
cùng với sự điều hành Nhà nước, khái niệm CPĐT đã ra đời.
Hiện nay, có nhiều định nghĩa về CPĐT, tuy nhiên khái niệm chung nhất, bao
quát nhất có nội dung chính như sau:“Chính phủ điện tử là Chính phủ ứng dụng
CNTT nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước, tăng
cường công khai, minh bạch thông tin, cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho người
dân và doanh nghiệp”. Các dịch vụ của CPĐT thông thường bao gồm các nhóm
dịch vụ: G2C (Government to Citizens) - Chính phủ cung cấp thông tin và dịch vụ
cho người dân; G2B (Governemnt to Business) - Chính phủ cung cấp thông tin và
Việc phân chia các giai đoạn phát triển CPĐT nhằm xác định mức độ phát triển
CPĐT của mỗi cơ quan, cũng như làm cơ sở xác định lộ trình, kế hoạch triển khai
CPĐT đúng hướng, phù hợp với điều kiện, nhu cầu thực tế.
Các tổ chức khác nhau có cách phân chia các giai đoạn phát triển CPĐT của
riêng mình, trong đó nổi bật là cách phân chia của Gartner (một công ty tư vấn,
nghiên cứu hàng đầu thế giới về CNTT), bao gồm các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Hiện diện (Presence)
Sự phát triển CPĐT giai đoạn này được đặc trưng bởi sự hiện diện các cơ
quan chính phủ trên mạng Internet, mục đích chính là cung cấp các thông tin cơ bản
về các cơ quan chính phủ như chức năng, nhiệm vụ, địa chỉ liên hệ, thời gian làm
việc và có thể cung cấp thêm các văn bản liên quan đến xã hội.
Giai đoạn 2: Tương tác (Interaction)
Trong giai đoạn này, các trang thông tin điện tử của các cơ quan chính phủ
cung cấp các chức năng tìm kiếm cơ bản, cho phép tải về các biểu mẫu điện tử, các
đường liên kết với các trang thông tin điện tử liên quan, cũng như địa chỉ thư điện
tử của các cơ quan, cán bộ chính phủ.
12
Giai đoạn 3: Giao dịch (Transaction)
Trong giai đoạn này, các trang thông tin điện tử của các cơ quan chính phủ
cho phép thực hiện hoàn chỉnh các dịch vụ, bao gồm việc nộp hồ sơ, xử lý hồ sơ, trả
phí dịch vụ trực tuyến.
Giai đoạn 4: Chuyển đổi (Transformation)
Giai đoạn này là mục tiêu dài hạn của các cơ quan chính phủ. Ngoài việc
thực hiện các chức năng trong giai đoạn 3, CPĐT giai đoạn này cung cấp cho người
dân một điểm truy cập duy nhất tới các cơ quan chính phủ để thực hiện mọi giao
dịch, các hoạt động của cơ quan chính phủ là minh bạch với người dân.
1.1.3. Kiến trúc khung Chính phủ điện tử cấp tỉnh.
Căn cứ yêu cầu kết nối giữa các cấp, thực tế phát triển CPĐT của Việt Nam
(email), điện thoại (cố định hoặc di động), máy fax, kiosk hoặc có thể đến trực tiếp
các cơ quan nhà nước. Trong giai đoạn đầu, kênh truy cập chủ yếu là các trang
thông tin điện tử và thư điện tử, sau đó mở rộng đến các hình thức khác như: điện
thoại di động (điện thoại thông minh hoặc máy tính bảng) hoặc kiosk (thường được
đặt ở không gian công cộng). Tại các tỉnh hiện nay, người dân thường đến trực tiếp
bộ phận một cửa để thực hiện các thủ tục hành chính.
(3) Dịch vụ cổng thông tin điện tử
Cổng thông tin điện tử là thành phần đảm bảo cho người sử dụng có thể truy
cập đến các thông tin trực tuyến và cũng là giao diện giữa người sử dụng với các
dịch vụ CPĐT. Cổng thông tin điện tử cung cấp chức năng liên quan trực tiếp đến
việc quản lý người sử dụng dịch vụ (cả nội bộ và bên ngoài), quản lý nghiệp vụ
tương tác với người sử dụng. Thành phần này đảm bảo sự thống nhất quản lý về
truy cập đến cả người sử dụng dịch vụ và các ứng dụng dịch vụ thông qua các kênh
truy cập khác nhau.
(4) Dịch vụ công trực tuyến:
Là những dịch vụ công trực tuyến mà cơ quan nhà nước cung cấp cho người
dân và doanh nghiệp. Trong mô hình này bao gồm các dịch vụ cấp tỉnh do các sở,
ban, ngành cung cấp. Việc triển khai các dịch vụ công trực tuyến cần theo lộ trình
phù hợp. Danh mục nhóm các dịch vụ công các cấp được ưu tiên cung cấp trực
tuyến mức độ cao tại các tỉnh theo các giai đoạn được nêu trong Chương trình quốc
gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước và trong kế hoạch
ứng dụng CNTT các tỉnh.
15
(5) Ứng dụng và cơ sở dữ liệu
Thành phần này bao gồm các ứng dụng cần thiết cho hoạt động nội bộ và
cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Ứng dụng ở đây, được phân loại thành các ứng
dụng nội bộ, các ứng dụng của tỉnh, các ứng dụng dùng chung cấp quốc gia và các
ứng dụng phục vụ tổng hợp và báo cáo.
Quốc gia. Danh mục các hệ thống thông tin/cơ sở dữ liệu Quốc gia được cập nhật
trong các Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan
nhà nước do Thủ tướng chính phủ phê duyệt.
(6) Các dịch vụ chia sẻ và tích hợp
Các dịch vụ này được sử dụng để hỗ trợ các ứng dụng lớp trên và cơ sở dữ
liệu. Đây là các dịch vụ có thể dùng chung, chia sẻ giữa các ứng dụng trong quy mô
tỉnh, điều này làm giảm đầu tư trùng lặp, lãng phí, thiếu đồng bộ. Mặt khác, một
trong các chức năng quan trọng của các dịch vụ nhóm này là để kết nối, liên thông,
tích hợp các ứng dụng. Một số dịch vụ tiêu biểu của nhóm này bao gồm:
(7) Nền tảng chia sẻ, tích hợp cấp tỉnh
Ở một số tỉnh có điều kiện, nên xây dựng một nền tảng chia sẻ, tích hợp dùng
chung cấp tỉnh, tối thiểu bao gồm các dịch vụ chia sẻ và tích hợp như đã nêu trên.
Thành phần này đóng vai trò là nền tảng CNTT liên cơ quan cho các sở, ban, ngành,
quận, huyện và các cơ quan nhà nước trực thuộc tỉnh.Với nền tảng này, thông tin
nghiệp vụ có thể được trao đổi theo chiều ngang và theo chiều dọc giữa các cơ quan
nhà nước thuộc tỉnh. Thành phần này cũng hoạt động như một cổng nghiệp vụ, cùng
với các dịch vụ cấp tỉnh để trao đổi thông tin với các Bộ, tỉnh khác, hoặc với các cơ
quan Đảng, hay các hệ thống thông tin của doanh nghiệp, tổ chức khác khi cần thiết.
(8) Hạ tầng kỹ thuật
Thành phần này cung cấp phần cứng/phần mềm máy tính, mạng, thiết bị, an
toàn thông tin, cơ sở vật chất để triển khai các ứng dụng CNTT.
Thiết bị phần cứng/phần mềm cho người dùng cuối:
Bao gồm máy tính cá nhân, máy tính xách tay và thiết bị hỗ trợ cá nhân.
Cơ sở hạ tầng mạng bao gồm:
- Mạng diện rộng của tỉnh;
- Mạng cục bộ;
- Mạng riêng ảo;
17
18
chia thành nhiều mức độ áp dụng tùy thuộc vào trình độ CNTT của chính quyền địa
phương, có thể chia thành các mức:
+ Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1: là dịch vụ đảm bảo cung cấp đầy đủ
các thông tin về quy trình, thủ tục; hồ sơ; thời hạn; phí và lệ phí thực hiện dịch vụ.
+ Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 và
cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ sơ
theo yêu cầu. Hồ sơ sau khi hoàn thiện được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện
đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ.
+ Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 và
cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ
chức cung cấp dịch vụ. Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch
vụ được thực hiện trên môi trường mạng. Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận
kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ.
+ Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và
cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến. Việc
trả kết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện
đến người sử dụng.
- Hệ thống quản lý văn bản và điều hành.
Hệ thống quản lý văn bản và điều hành là hệ thống quản lý văn bản và điều
hành công việc điện tử, liên thông ngang/dọc 4 cấp, giúp các cơ quan nhà nước thực
hiện hóa các mục tiêu xây dựng một văn phòng điện tử không giấy tờ.
- Hệ thống cổng thông tin điện tử.
Hệ thống cổng thông tin điện tử là giải pháp cho phép cơ quan chính quyền
tạo ra một đầu mối trực tuyến duy nhất cho mọi đối tượng. Tích hợp tất cả các kênh
cung cấp dịch vụ trực tuyến tạo ra năng lực lớn hơn trong việc xử lý các yêu cầu
thường gặp, góp phần giải phóng nhân viên trực và nhân viên điện thoại để xử lý
công việc phức tạp hơn. Người dân có thể tiếp cận thông tin trực tiếp từ internet,
cung cấp dịch vụ... do đó mức độ cung cấp dịch vụ sẽ tăng đáng kể.
- Các cơ chế chính sách của nhà nước đã tạo ra thị trường Viễn thông CNTT có tính cạnh tranh cao giữa các doanh nghiệp, giá cước thấp, thúc đẩy sự
phát triển nhanh chóng của thị trường và kéo theo là phát triển nhanh của hạ tầng.
- Các doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư vào công nghệ tiên tiến, chất lượng
tốt, tiêu thụ nhiên liệu ít.
- Giá cả các thiết bị, vật tư dùng cho xây dựng hạ tầng mạng ngày càng rẻ và
phổ dụng hơn.
Bên cạnh những thuận lợi, hiện nay xây dựng công trình hạ tầng Viễn thông CNTT đang gặp một số khó khăn sau đây:
- Công nghệ viễn thông có sự thay đổi nhanh, liên tục, kéo theo xu hướng
phát triển và sử dụng dịch vụ mới. Tuy nhiên, hạ tầng mạng viễn thông hiện nay
được xây dựng và quản lý chưa đồng bộ với hạ tầng kinh tế - kỹ thuật khác, đặc biệt
các công trình hạ tầng kỹ thuật ngầm chưa được thiết kế cho cáp viễn thông. Do đó
các doanh nghiệp viễn thông thường triển khai đầu tư chậm so với đòi hỏi của xã
hội, đồng thời tiêu tốn nguồn vốn đầu tư lớn nhưng thời gian sử dụng không dài;
- Các tầng lớp nhân dân chưa được tuyên truyền sâu rộng về ảnh hưởng của
sóng điện từ đến sức khỏe nên thường phản đối xây dựng các trạm phát sóng di động;
- Tỷ lệ ngầm hóa mạng truyền dẫn, mạng ngoại vi thấp gây mất mỹ quan và
độ ổn định cung cấp dịch vụ không cao;
- Tỷ lệ sử dụng chung cơ sở hạ tầng mạng Viễn thông - CNTT còn thấp gây
lãng phí cho xã hội
- Cơ chế chính sách của nhà nước nhiều lúc còn chưa theo kịp sự phát triển
của xã hội làm ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng công trình mạng Viễn thông CNTT của các doanh nghiệp.
21
1.2. Cơ sở pháp lý
- Trước sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của CNTT và hiệu quả cao của ứng
dụng CNTT trong các lĩnh vực đời sống xã hội cùng với những đòi hỏi, những yêu
cầu mới, ngày 1/7/2014, Bộ Chính trị đã thông qua Nghị quyết số 36-NQ/TW về
đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội
nhập quốc tế (Nghị quyết 36) định hướng, tư tưởng, giải pháp lớn và là tiền đề quan
tục hành chính - một trong những rào cản của quá trình phát triển kinh tế xã hội địa
phương. Đồng thời sẽ là động lực thúc đẩy các lĩnh vực khác phát triển, tạo tiền đề
đưa Nghệ An trở thành tỉnh khá như Nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị đã đề ra.
- Trong lĩnh vực xây dựng chính phủ điện tử, Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 về Chính phủ điện tử và Quyết
định 1819/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 về việc duyệt chương trình Quốc gia về ứng
dụng Công nghệ Thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 2020. Bộ Thông tin và Truyền thông cũng đã ban hành Ban hành khung kiến trúc
Chính phủ điện tử Việt Nam, phiên bản 1.0 tại Công văn số 1178/BTTT-THH ngày
21/04/2015.
- Thực hiện các chỉ đạo của Bộ Chính trị và Chính phủ, UBND tỉnh Nghệ An
cũng đã có kế hoạch hành động số 103/KH-UBND ngày 29/02/2016 của UBND
tỉnh Nghệ An về Thực hiện Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính
phủ về Chính phủ điện tử và kế hoạch số 653/KH-UBND ngày 04/11/2016 của
UBND tỉnh Nghệ An về Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước
tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2016 – 2020.
- Năm 2014, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam và UBND tỉnh Nghệ
An đã ký Thỏa thuận hợp tác chiến lược về VT-CNTT giai đoạn 2014 - 2020. VNPT
Nghệ An với tư cách là đơn vị thành viên của VNPT có nhiệm vụ triển khai những
cam kết của Tập đoàn trong thỏa thuận hợp tác. Đầu tư hạ tầng phục vụ xây dựng
chính quyền điện tử của tỉnh Nghệ An là một trong những nhiệm vụ mà VNPT
Nghệ An phải thực hiện theo thỏa thuận hợp tác.
23
1.3. Cơ sở thực tiễn
Dựa trên quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác-LêNin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về khoa học và công nghệ và vai trò của khoa
học, công nghệ đối với sự phát triển xã hội. Thực tiễn đổi mới của đất nước đòi hỏi
đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT để phù hợp với quá trình hội nhập nền kinh tế khu
vực và quốc tế, đặc biệt nhu cầu quản lý Nhà nước hiện đại, thống nhất, tạo môi
2. Nội dung thực hiện của đề án
2.1. Khái quát về VNPT Nghệ An
2.1.1. Giới thiệu về VNPT Nghệ An
VNPT Nghệ An là đơn vị thành viên, hạch toán phụ thuộc Tập đoàn Bưu
chính Viễn thông Việt Nam là Tập đoàn nhà nước chủ lực của quốc gia chuyên cung
cấp các dịch vụ VT-CNTT. Tập đoàn VNPT đã có 72 năm xây dựng và phát triển
đồng hành cùng với đất nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, được
tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lao động, Huân chương Sao vàng, Huân chương
Hồ Chí Minh và nhiều danh hiệu cao quý khác. Tập đoàn VNPT có hạ tầng kỹ thuật
hiện đại đồng bộ vươn đến tận vùng sâu vùng xa, là Tập đoàn Viễn thông duy nhất
của quốc gia được giao quản lý vận hành 2 quả Vệ tinh VINASAT. Hiện Tập đoàn
VNPT có trên 5 vạn lao động, 128 đơn vị trực thuộc, có chi nhánh tại tất cả các tỉnh,
thành phố và một số quốc gia trên thế giới, có các đơn vị chuyên về lĩnh vực CNTT,
sản xuất các thiết bị điện tử viễn thông.
VNPT Nghệ An tiền thân là Bưu điện tỉnh Nghệ An - đơn vị đã có 72 năm
truyền thống, 2 lần được phong tặng danh hiệu anh hùng: Anh hùng Lực lượng Vũ
trang Nhân dân và Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới. Ngày 01/01/2008
thực hiện phương án chia tách Bưu chính - Viễn thông trên địa bàn tỉnh thành phố,
Bưu điện tỉnh Nghệ An (cũ) được tách ra thành 2 đơn vị: VNPT Nghệ An chuyên
cung cấp các dịch vụ VT-CNTT, trực thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt
Nam VNPT, và Bưu điện tỉnh Nghệ An (mới) chuyên cung cấp các dịch vụ Bưu
chính chuyển phát, là đơn vị hạch toán phụ thuộc, trực thuộc Tổng công ty Bưu điện
Việt nam (VNPOST). Tiếp tục quá trình tái cơ cấu Tập đoàn VNPT theo chỉ đạo của
25
Chính phủ, ngày 01/10/2015 VNPT Nghệ An lại tiếp tục được chia tách thành 2 đơn
vị là VNPT Nghệ An và Trung tâm Kinh doanh VNPT VinaPhone, theo đó VNPT
Nghệ An là Chi nhánh thuộc Tập đoàn VNPT và sẽ chuyên tâm vào việc xây dựng
hạ tầng mạng VT-CNTT, còn Trung tâm Kinh doanh VNPT VinaPhone trực thuộc