Nghiên cứu hiện trạng ấu trùng sán lá có khả năng lây truyền cho người nhiễm trên cá ở Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam - Pdf 44

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

BÙI NGỌC THANH

NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG ẤU TRÙNG SÁN LÁ
CÓ KHẢ NĂNG LÂY TRUYỀN CHO NGƢỜI NHIỄM
TRÊN CÁ Ở KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

HÀ NỘI - 2017


iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................i
LỜI CÁM ƠN ............................................................................................................ ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT..................................................................................vi
DANH MỤC BẢNG ................................................................................................ vii
DANH MỤC HÌNH ...................................................................................................ix
PHẦN MỞ ĐẦU .........................................................................................................1
Đặt vấn đề__________________________________________________________ 1
Mục tiêu nghiên cứu __________________________________________________ 2
Nội dung nghiên cứu _________________________________________________ 2
Những đóng góp mới của Luận án _______________________________________ 3

3.1. Thành phần ấu trùng sán lá nhiễm trên cá ở khu vực miền núi phía Bắc ____ 56
3.1.1. Ấu trùng sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis _________________________ 56
3.1.2. Ấu trùng sán lá ruột nhỏ Haplorchis pumilio ________________________ 59
3.3.3. Ấu trùng sán lá ruột nhỏ Haplorchis taichui _________________________ 62
3.3.4. Ấu trùng sán lá ruột nhỏ Haplorchis yokogawai ______________________ 64
3.3.5. Ấu trùng sán lá ruột nhỏ Procerovum varium ________________________ 65
3.1.6. Ấu trùng sán lá ruột nhỏ Centrocestus formosanus ____________________ 66
3.2. Kết quả khảo sát nhanh ấu trùng sán ở khu vực miền núi phía Bắc _________ 68
3.2.1. Tình hình nhiễm ấu trùng sán lá trên cá _____________________________ 68
3.2.2. Thành phần ấu trùng sán lá nhiễm trên cá ở các loại hình mặt nƣớc _______ 68
3.3. Kết quả nghiên cứu về sán lá nhiễm trên cá tại hồ Thác Bà _______________ 75
3.3.1. Ấu trùng sán lá ruột nhỏ _________________________________________ 75
3.3.2. Ấu trùng sán lá gan nhỏ ________________________________________ 79


vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Sán lá truyền qua cá trên người tại một số vùng dịch tễ ở nước ta .........14
Bảng 1.2: Sán lá truyền qua cá trên động vật tại một số vùng dịch tễ ở nước ta.....15
Bảng 1.3: Danh mục loài cá đã được xác định nhiễm ấu trùng sán lá gan nhỏ ......23
Bảng 1.4: Danh mục loài cá đã được xác định nhiễm ấu trùng sán lá ruột nhỏ ......24
Bảng 2.1: Địa điểm thu mẫu khảo sát ấu trùng sán lá truyền qua cá ......................35
Bảng 2.2: Các loài cá thu được ở khu vực miền núi phía Bắc .................................36
Bảng 2.3: Các loài cá thu được ở hồ Thác Bà, Yên Bái ...........................................38
Bảng 2.4: Thí nghiệm thực nhằm xác định điều kiện bất hoạt ấu trùng sán lá ........46
Bảng 2.5: Thí nghiệm đông lạnh nhằm bất hoạt ấu trùng sán lá ruột nhỏ ..............47
Bảng 2.6: Thí nghiệm đông lạnh bất hoạt ấu trùng sán lá gan nhỏ .........................48
Bảng 2.7: Thí nghiệm đông lạnh bất hoạt ấu trùng sán lá gan nhỏ trong cá...........48
Bảng 2.8: Thí nghiệm gia nhiệt nhằm bất hoạt ấu trùng sán lá ruột nhỏ ................49
Bảng 2.9: Thí nghiệm gia nhiệt nhằm bất hoạt ấu trùng sán lá gan nhỏ .................50

DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Vòng đời sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis ............................................4
Hình 1.2: Các tinh thuộc khu vực miền núi phía Bắc, Việt Nam ..............................30
Hình 1.3: Khu vực vùng của hồ Thác Bà, Yên Bái ...................................................31

Hình 2.1. Cách tiếp cận của nghiên cứu ...................................................................34
Hình 2.2: Quy trình chung để xác định thành phần ấu trùng sán nhiễm trên cá ....39
Hình 2.3: Quy trình phân lập ấu trùng sán lá truyền qua cá ..................................40
Hình 2.4: Ấu trùng sán thoát khỏi bào nang.............................................................43
Hình 3.1: Ấu trùng sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis ...........................................57
Hình 3.2: Sự khác biệt về kích cỡ ấu trùng sán lá gan nhỏ và sán lá ruột nhỏ ........57
Hình 3. 3: Bào nang ấu trùng Haplorchis pumilio ...................................................60
Hình 3. 4: Bào nang ấu trùng Haplorchis taichui ....................................................62
Hình 3. 5: Bào nang ấu trùng Haplorchis yokogawai ..............................................64
Hình 3. 6: Bào nang ấu trùng Procerovum varium ..................................................65
Hình 3. 7: Bào nang ấu trùng Centrocestus formosanus ..........................................66
Hình 3.8: Tép dầu, vật chủ ấu trùng sán lá gan nhỏ ở hồ Thác Bà, Yên Bái ...........80
Hình 3.9: Mương xanh, vật chủ của sán lá gan nhỏ tại hồ Thác Bà ........................82
Hình 3.10: Biến động ấu trùng sán lá gan nhỏ theo tháng trên cá tại hồ Thác Bà ..83
Hình 3.11: Biến ấu trùng sán lá gan nhỏ trên Tép dầu hồ Thác Bà .........................84
Hình 3.12: Tỷ lệ sống sót của ấu trùng H. pumilio trong điều kiện đông lạnh ........85
Hình 3.13: Ấu trùng sán lá ruôt nhỏ H. pumilio trong điều kiện đông lạnh ............87
Hình 3.14: Tỉ lệ sống sót của ấu trùng C. sinensis trong điều kiện đông lạnh .........88
Hình 3.15: Tỉ lệ sống sót của ấu trùng C. sinensis trong cá đông lạnh ...................89
Hình 3.16: Ấu trùng sán lá gan nhỏ C. sinensis trong cá đông lạnh........................90
Hình 3.17: Tỉ lệ sống sót của ấu trùng H. pumilio trong điều kiện gia nhiệt ...........91
Hình 3.18: Ấu trùng sán lá ruột nhỏ H. pumilio trong điều kiện gia nhiệt ..............92
Hình 3.19: Tỉ lệ ấu trùng C. sinensis sống sót trong điều kiện gia nhiệt .................93



sinensis, đƣợc cho là nhiễm phổ biến trên ngƣời [4–6] và động vật thủy sản [5,7] thì
những nghiên cứu gần đây lại ít gặp và có mức độ nhiễm thấp trên động vật thủy
sản, cá [8–11].
Khu vực miền núi phía Bắc (MNPB) là vùng thƣợng nguồn của hệ thống
sông ngòi tạo nên vùng châu thổ sông Hồng; nơi này có các hệ thống sông suối, hồ
chứa lớn, là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của động vật thủy sản nhƣ cá,
tôm,… đây là nguồn thực phẩm quan trọng của ngƣời dân và cũng có thể là mối
nguy với sức khỏe bởi SLTQC do tập quán ăn gỏi cá ở đây [12]. Hiện nay, hầu nhƣ
chƣa có khảo sát nào về vấn đề SLTQC trên các động vật thủy sản tại MNPB, ngoại
trừ có báo cáo về ấu trùng sán lá ruột Centrocestus formosanus nhƣng là trên khía
cạnh tác nhân gây bệnh cho cá [13]. Chính vì vậy, cần thiết phải tiến hành khảo sát


2
về ấu trùng SLTQC tại đây nhằm bổ sung thông tin về vùng dịch tễ, đối tƣợng
nhiễm và sự biến động mùa vụ để thấy đƣợc bức tranh tổng thể về hiện trạng
SLTQC ở Việt Nam nói chung.
Hơn nữa, hầu hết các nghiên cứu về SLTQC ở Việt Nam trong thời gian gần
chủ yếu trung vào điều tra, khảo sát nhằm xác định vùng phân bố của SLTQC, mức
độ nhiễm và đối tƣợng nhiễm. Tập quán ăn gỏi cá vẫn khá phổ biến không chỉ ở khu
vực ĐBSH [14] mà cả MNPB [12]. Trong khi đó, những mô hình can thiệp thử
nghiệm nhằm giảm thiểu sự lây nhiễm ấu trùng SLTQC trong nuôi hệ thống NTTS
vẫn chƣa thực sự hiệu quả [10,15,16]. Do vậy cần phải có những nghiên cứu xác
định các điều kiện để vô hiệu hóa khả năng lây nhiễm của ấu trùng SLTQC cho con
ngƣời, đây là cơ sở khoa học để xây dựng các hƣớng dẫn trong bảo quản, chế biến
sản phẩm thủy sản đảm bảo an toàn với SLTQC nhƣ sán lá gan nhỏ C. sinensis.
Với kinh nghiệm, hiểu biết và trăn trở của bản thân về vấn đề SLTQC ở Việt
Nam, chúng tôi đã triển khai Đề tài “Nghiên cứu hiện trạng ấu trùng sán lá có
khả năng lây truyền cho người nhiễm trên cá ở Khu vực miền núi phía Bắc Việt
Nam” làm Luận án tiến sỹ với những mục tiêu cụ thể nhƣ sau:

xác định đƣợc vật chủ chỉ thị có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc khảo sát xác
định vùng dịch tễ của sán lá gan nhỏ này.
Nghiên cứu đã bổ sung cơ sở khoa học mới về điều kiện bất hoạt ấu trùng
sán lá truyền qua cá, đặc biệt là ấu trùng sán lá gan nhỏ C. sinensis góp phần xây
dựng các hƣớng dẫn trong việc chế biến và bảo quản đúng quy trình nhằm đảm bảo
an toàn đối với ấu trùng sán lá trong các sản phẩm thủy sản.


4
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1.

Đặc điểm vòng đời sán lá truyền qua cá
SLTQC có vòng đời phức tạp qua nhiều giai đoạn vật chủ khác nhau; vật chủ

trung gian thứ 1 (ốc, nhuyễn thể), vật chủ trung gian thứ 2 (cá, tôm) và vật chủ cuối
cùng hay vật chủ chính (ngƣời và động vật ăn cá). Hình 1.1 là vòng đời của sán lá
gan nhỏ C. sinensis, đại diện cho SLTQC.

Nguồn: [17]

Hình 1.1: Vòng đời sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis
Sán lá gan nhỏ C. sinensis trƣởng thành sản sinh ra trứng (b), trứng thoát ra
ngoài theo phân của vật chủ cuối cùng, vào môi trƣờng nƣớc. Ốc (B) – Vật chủ
trung gian thứ 1, trong môi trƣờng nƣớc đã thụ động hoặc chủ động nhiễm trứng sán


5
trong quá trình lọc mùn bã hữu cơ làm thức ăn. Trong vật chủ ốc phù hợp, trứng sẽ
phát triển qua một số giai đoạn (c, d, e, f) để thành trùng đuôi gọi là cercariae (f).

Lan là vùng dịch tễ lớn nhất của sán lá gan nhỏ O. viverrini, tỉ lệ nhiễm trung bình
là 14%, ƣớc tính khoảng 7 triệu ngƣời nhiễm theo kết quả điều tra năm 1980-1981
[25]. Sau nhiều nỗ lực can thiệp, Thái Lan hiện có khoảng 6 triệu ngƣời nhiễm O.
viverrini [26]. Tại Lào, có khoảng 1,7 triệu ngƣời nhiễm sán lá gan nhỏ O. viverrini
năm 1992 [24]. Vùng dịch tễ của O. viverrini trên ngƣời tại Lào cũng nằm dọc theo
sông Mekong, nhƣ tỉnh Khammuane, Saravane hoặc Savannakhet, nơi có tỉ lệ
nhiễm tƣơng ứng là 32,2%; 21,5% và 25,9% [27], một số vùng của huyện Saravane
còn đƣợc ghi nhận tỉ lệ nhiễm loài sán lá gan này tới 58,5% trong báo cáo cách đây
khoảng 10 năm [28]. Tại Căm – Pu - Chia, trong một điều tra nghiên cứu tập trung
vào sán lá gan nhỏ O. viverrini tại một số cộng đồng ngƣời sống dọc sông Mekong
cho thấy tỉ lệ nhiễm O. viverrini là trên 10% [29] và trƣớc đó O. viverrini cũng
đƣợc báo cáo tại đây [30].
Sán lá gan nhỏ O. felineus, mới đây tiếp tục đƣợc ghi nhận trên ngƣời ở khu
vực phía Tây Siberia (Liên Bang Nga) nhƣ Tomsk Oblast, Khanty Mansiysk
Autonomous Okrug [31]. Một điều tra dịch tễ trên ngƣời dựa trên phƣơng pháp
Kato-Katz, các nhà khoa học đã cho biết có tới 55,3% số ngƣời đƣợc xét nghiệm
dƣơng tính với trứng của O. felineus tại cộng đồng dân cƣ khu vực phía Tây Siberia
[32].
1.2.1.2. Vấn đề sức khỏe cộng đồng
Một số loài SLTQC có ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng
nhƣ sán lá gan nhỏ. Sán lá gan nhỏ có thể tồn tại trong ống mật của ngƣời bệnh tới
26 năm [33]. Năm 2009, Hiệp hội nghiên cứu ung thƣ quốc tế đã xếp sán lá gan nhỏ
C. sinensis và O. viverrini vào nhóm tác nhân gây ung thƣ (nhóm 1) ở ngƣời [34].
Phân tích dựa trên hàng loạt các công trình nghiên cứu đƣợc xuất bản đăng
trên tạp chí quốc tế cho thấy nguy cơ (Incidence Risk Ratio - IR) dẫn đến ung thƣ của
các nhóm ngƣời; 1) nhiễm sán lá gan nhỏ, 2) nhiễm vi rút gây viêm gan B và 3)
nhiễm vi rút viêm gan C tƣơng ứng là là 4,8; 2,6 và 1,8. Nhƣ vậy, có thể thấy nhiễm
sán lá gan nhỏ có nguy cơ dẫn đến ung thƣ gan ở ngƣời cao hơn so với ngƣời nhiễm




8
1.2.2. Ấu trùng sán lá truyền qua cá ở động vật thủy sản
1.2.2.1. Những nghiên cứu về ấu trùng sán lá truyền qua cá ở động vật thủy sản
Các nhà ký sinh trùng học ngƣời Nhật bản là những ngƣời đã góp công lớn
trong việc làm sáng tỏ vòng đời của sán lá gan C. sinensis là đại diện cho những
loài SLTQC nói chung và những hiểu biết về dịch tễ học của bệnh. Harujiro
Kobayashi là ngƣời đầu tiên xác định cá thuộc họ cá chép là ký chủ trung gian thứ 2
của C. sinensis vào năm 1912 [43].
Trung Quốc là vùng dịch tễ của SLTQC, đặc biệt là sán lá gan nhỏ C.
sinensis. Nghiên cứu điều tra dịch tễ học trên cá nƣớc ngọt và tôm tại 32 điểm, 9
vùng thuộc Đồng bằng Sông Pearl. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan nhỏ trung bình
trên cá là 37,09% (2,160/5,824) với cƣờng độ là 14.269 ấu trùng trên mỗi cá nhiễm
và 0,460 ấu trùng/g. Trong đó cá nuôi nhiễm 36,69% với 10,743 ấu trùng/cá nhiễm
và 0,312 ấu trùng/g; cá tự nhiên nhiễm tới 40,50% với 41,829 ấu trùng/cá nhiễm và
8,812 ấu trùng/g. Tôm nhiễm 3,07% với cƣờng độ 1,00 ấu trùng/tôm nhiễm. Cá
Pseudorasbora parva và Ctenopharyngodon idellus (Trắm cỏ) có tỷ lệ nhiễm cao
nhất [44].
Shen và cs. (2010) cũng đã có nghiên cứu dịch tễ học về hiện trạng sán lá gan
nhỏ trên cá tƣ nhiên tại các Sông thuộc các địa hạt Sanjiang, Rongan, Rongshui,
Liucheng, Liuzhou và Xiangzhou, Trung Quốc. Tổng số 16.204 cá thể thuộc 35 loài
thu đƣợc, đã tìm thấy C. sinensis trên 32 loài với tỷ lệ nhiễm chung là 10,5% và
cƣờng độ 4,6 metacercariae/g. Tỷ lệ nhiễm cao nhất 21,5% và cƣờng độ 9,9/g trên cá
P. parva, tiếp theo là Zacco platypus 17,8% và 8,9/g. Có sự dao động về tỷ lệ nhiễm
giữa các vùng; Xiangzhou 12,3% Sanjiang 9,1% và Liuzhou 9,7% và giữa các mùa
trong năm; cao ở mùa Hè và Thu, nhƣng thấp hơn ở mùa Xuân và Đông. Cá sống các
tầng đáy có tỷ lệ nhiễm cao hơn so với tầng mặt và tầng giữa. Các loài cá ăn tạp và ăn
thực vật nhiễm cao hơn so với các loài cá ăn động vật [44].
Năm 2007 - 2008, Hàn Quốc đã có một khảo sát toàn quốc về hiện trạng ấu
trùng sán lá gan nhỏ C. sinensis trên cá nƣớc ngọt. Khảo sát thực hiện tại 34 vùng

[48].
Tại Thái Lan, 9 loài cá tự nhiên thuộc họ cá chép thu tại Hồ chứa nhân tạo và


10
tự nhiên tại huyện Ban Pao, tỉnh Chiang Mai, Thái Lan có nhiễm sán lá gan nhỏ O.
viverrini, ngoài ra còn phát hiện ấu trùng sán lá ruột nhỏ họ Heterophidae nhƣ H.
taichui, H. pumilio và Centrocestus spp. Đặc biệt sán lá ruột nhỏ H. taichui nhiễm
cao hơn 384 lần so với sán lá gan nhỏ O. viverrini. Trong số các loài cá, Puntius
leiacanthus nhiễm H. taichui với cƣờng độ cao nhất; 182 ấu trùng/cá trong khi đó P.
orphoides nhiễm O. viverrini nặng nhất; 1,4 ấu trùng/cá [49].
Hồ chứa lớn không những là môi trƣờng sống cho các loài động vật thủy sản
mà còn là môi trƣờng sinh thái phù hợp cho sự phát triển của sán lá truyền qua cá.
Thu mẫu và xét nghiệm tới 62 loài cá khác nhau tại 2 hồ chứa là Mae Ngad và Mae
Kuang Udomtara tại tỉnh Chiang Mai, Thái Lan. Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện
ít nhất 2 loài sán lá ruột nhỏ là Haplorchis taichui và Haplorchoides sp., nhiễm với
tỷ lệ; 83,9 và 74,2% tƣơng ứng ở các hồ chứa nói trên [50].
1.2.2.2. Tính đặc trưng vật chủ của metacercariae
Một số loại ấu trùng SLTQC đƣợc xem là có vật chủ trung gian (loài cá) đặc
trƣng. Theo Rhee et al (1980) đó là a xít linoleic trong nhớt đƣợc tiết ra từ biểu mô
cá nó giúp vật chủ kháng lại ấu trùng cercariae [51]. Nghiên cứu trƣớc đây cho thấy
nhớt tiết ra từ biểu mô của cá vàng Cyprinus carpio và Aplocheilus latipes không
chỉ hoạt hóa với cercariae mà còn cả với metacercariae [52]. Khả năng hoạt hóa của
thành phần hóa học này khác nhau ở mỗi loài cá cũng nhƣ tác dụng đặc hiệu với
mỗi loại ấu trùng sán. Đây cũng chính là lý do cá P. parva là vật chủ đặc trƣng của
ấu trùng sán lá gan nhỏ C. sinensis. Bởi theo nghiên cứu, nhớt của P. parva cần đến
8,5 giờ để làm chết cercariae của C. sinensis trong khi đó nhớt của loài cá khác chỉ
mất đến 3-6 phút, mà thông thƣờng, cercariae chỉ cần cần 2-3 phút để xâm nhập qua
da cá [52].
Theo tổng hợp, có đến khoảng 102 loài cá thuộc 59 giống, 15 họ tại Trung

[53].
Tại Thái Lan, lƣợng ấu trùng sán lá gan nhỏ O. viverrini trong cá cũng biến
động theo mùa vụ tại vùng Đông Bắc - vùng dịch tễ của sán lá gan nhỏ O. viverrini.
Nghiên cứu cho thấy, sự biến động khác nhau tùy theo vật chủ nhƣng lƣợng ấu trùng


12
tìm thấy trên cá có xu hƣớng cao hơn vào cuối mùa mƣa từ tháng 7 đến tháng 1 và
thấp hơn vào mùa Hè từ tháng 3 đến tháng 6 [59]. Tƣơng tự, điều tra nghiên cứu tại
Chiang Mai, Thái Lan, cho thấy ấu trùng sán lá ruột nhỏ họ heterophyid cũng biến
động theo mùa vụ. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng các loài sán lá ruột trên cá cao nhất 95%
trong thời kỳ mùa đông tháng 11 đến tháng 1 và thấp nhất 90% trong giai đoạn mùa
Hè; tháng 2 đến tháng 4 [60].
1.2.2.4. Điều kiện bất hoạt ấu trùng sán lá truyền qua cá
Nghiên cứu khả năng sống sót của ấu trùng sán lá gan nhỏ C. sinensis trong cá
P. parva, ở nhiệt độ -12oC ấu trùng vẫn còn sống trong vòng 10-20 ngày, tuy nhiên ở
-20oC ấu trùng này chết sau 3-7 ngày [61]. Quy chế số 852/2004 của Nghị viện và
Hội đồng cộng đồng Châu Âu có quy định; ấu trùng sán trong sản phẩm thủy sản phải
đƣợc bất hoạt (không còn khả năng lây nhiễm) bằng phƣơng pháp đông lạnh ở -100C
trong 10 ngày, –200C trong 3 - 4 ngày, -280C trong vòng 28 giờ hoặc -350C trong
vòng 15 giờ. Theo khuyến cáo của Bộ Y tế, USSR - Cộng hòa liên bang Soviet
(1990), ấu trùng sán lá gan nhỏ O. felineus trong cá cần đƣợc bảo quản ở -280C trong
32 giờ hoặc -400C trong 7 giờ để bất hoạt chúng. Fattakhov (1989) cho biết đông lạnh
cá ở -28, -35 và -400C sẽ cần 20 giờ, 8 giờ và 2 giờ tƣơng ứng để bất hoạt ấu trùng
sán lá gan nhỏ O. felineus [62].
Muối cũng đƣợc sử dụng nhƣ một biện pháp làm bất hoạt ấu trùng sán.
Trong điều kiện nƣớc muối (3 mg muối/10 mg cá) ử ở 26oC, ấu trùng sống từ 5-15
ngày [61]. Ở nồng độ muối 13,6% ấu trùng Opisthorchis sp. trong cá đƣợc lên men
sẽ bị chết sau 24 giờ [63] nhƣng ở độ muối 20%, ấu trùng bị bất hoạt sau 5 giờ [64].
Tuy nhiên, ấu trùng C. sinensis ở cá nhiễm tự nhiên trong để bất hoạt dung dịch

Côn trùng Trung ƣơng xác nhận vùng dịch tễ của sán lá gan nhỏ C. sinensis ở Hà
Nam, Thanh Hóa, Hòa Bình và Hà Nội và O. viverrini ở Phú Yên, Bình Định,
Quảng Trị và Đắc Lắc [72]. Một vùng dịch tễ của sán lá truyền lây qua cá mới gần
đầy vừa đƣợc phát hiện tại huyện Lục Yên, Yên Bái. Kết quả xét nghiệm phân
dƣơng tính với trứng sán lá lên tới 35% [73].
Hầu hết các khảo sát về SLTQC trên ngƣời (Bảng 1.1) trong thời gian qua
đều đƣợc trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện bởi Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn
trùng Trung ƣơng dựa trên phƣơng pháp xét nghiệm mẫu phân hay gọi là Kato-


14
Katz. Sự tƣơng đồng về hình thái trứng của các loài SLTQC trong tiêu bản KatoKatz là một trở ngại trong chẩn đoán đòi hỏi các kỹ thuật viên xét nghiệm cần có
kinh nghiệm. Tuy nhiên, hầu hết các khảo sát trên ngƣời chỉ dừng lại ở việc xác
định tỉ lệ nhiễm SLTQC nói chung. Để xác định rõ hơn về thành phần loài SLTQC
thì cần phải cho bệnh nhân uống thuốc và đãi phân để thu sán trƣờng thành - đây là
việc hết sức phức tạp.
Bảng 1.1: Sán lá truyền qua cá trên người tại một số vùng dịch tễ ở nước ta
SLTQC

THỜI GIAN ĐỊA ĐIỂM

NGUỒN

Sán lá

2005

Nghệ An

[67]


[11]

Sán lá và sán lá gan nhỏ

2015

Yên Bái

[73]

Sán lá gan nhỏ

-

Hòa Bình, Hà Nội, Thanh [72]
Hóa, Ninh Bình

Sán lá gan nhỏ
Sán lá gan nhỏ *

2016
-

Hà Nam
Phú Yên,

[72]
Bình


VẬT CHỦ
ĐỊA ĐIỂM
NGUỒN
Sán lá

Mèo, chó, lợn

Nam Định

[77]

Sán lá

Mèo, chó, lợn

Nghệ An

[75]

Sán lá

Vịt, gà

Nam Định

[78]

Sán lá

Chuôt


Mèo#

Thái Bình

[82]

Sán lá gan nhỏ**

Mèo#

Đồng Tháp, Tây Ninh

[83]

SLTQC: Sán lá truyền qua cá; *Clonorchis sinensis; **Opisthorchis viverrini; # mèo từ lò mổ

Tại Nam Định, kết quả điều tra về vật chủ lƣu trữ phản ảnh đúng tình hình
nhiễm sán trên ngƣời [68], tỉ lệ nhiễm đƣợc công bố là 70,2% ở mèo; 56,9% ở chó
và 7,7% ở lợn. Nghiên cứu xác định đƣợc 1 loài sán lá gan nhỏ C. sinensis và 11
loài sán lá ruột nhỏ thuộc các giống Haplorchis, Stellantchasmus, Stictodora và
Centrocestus [77]. Cũng tại vùng dịch tễ này; vịt, gà và chuột cũng đƣợc xem là vật
chủ chính của một số loài sán lá ruột nhỏ mặc dù tỉ lệ nhiễm thấp [78,79].
Tại Ninh Bình, chó, mèo và lợn cũng đƣợc xác nhận là vật chủ chính của
SLTQC bởi tỉ lệ nhiễm khá cao, tƣơng ứng là 32,7%; 9,0%, và 6,0% trong đó có sán
lá gan nhỏ C. sinensis [11]. Nghiên cứu gần đây của Dao et al. (2013, 2016) đã công
bố loài O. viverrini đƣợc phát hiện nhiễm trên vịt nuôi tại Bình Định thuộc khu vực
miền Trung với tỉ lệ nhiễm là 34,3% [80,81], đây vốn là vùng dịch tễ của O.
viverrini. Nhóm tác giả cũng cung cấp bằng chứng về phân tử giữa những mẫu




17
Mặc dù, tỉ lệ ốc nhiễm ấu trùng rất nhỏ nhƣng rủi ro lây truyền rất lớn bởi nó
có thể thải ra một lƣợng lớn ấu trùng. Nhóm ấu trùng parapleurolophocercous phát
triển thành các loài sán lá ruột nhỏ trong khi đó pleurolophorcercous phát triển
thành cả sán lá ruột và sán lá gan nhỏ. Những kết quả nghiên cứu trên cho thấy ấu
trùng nhóm parapleurolophocercous chiếm ƣu thế [11,85,87,88]. Điều này giải thích
tại sao sán lá ruột nhỏ là những loài chủ yếu nhiễm trên vật chủ cuối cùng và cá tại
các tỉnh miền Bắc [15,68,75,77,89]. Hình thái ấu trùng cercariae của sán khá phức
tạp – khó xác định dựa vào hình thái, cả C. sinensis và O. viverrini đã phát trên cá
nƣớc ngọt, động vật (chó, mèo…) và ngƣời nhƣng vẫn chƣa rõ về ấu trùng của
chúng ở các vật chủ tiềm năng là ốc B. fuchsiana và P. manchouricus.
1.3.4. Ấu trùng sán lá trên cá
1.3.4.1. Một số kết quả nghiên cứu về ấu trùng sán lá trên cá
Có 2 loài sán lá gan nhỏ bao gồm C. sinensis và O. viverrini và ít nhất 14
loài sán lá ruột nhỏ đƣợc xác định nhiễm trên cá ở nƣớc ta [90]. Ấu trùng sán lá gan
nhỏ C. sinensis phát hiện ở các tỉnh thuộc khu vực ĐBSH và O. viverrini ở khu vực
miền Trung và ĐBSCL. Trong số các loài sán lá ruột nhỏ, H. pumilio là loài phổ
biến nhất và chỉ phát hiện ở cá nƣớc ngọt. Mức độ nhiễm ấu trùng sán lá ruột nhỏ
cao nhất ở khu vực ĐBSH, rồi đến khu vực miền Trung và thấp nhất là ở khu vực
ĐBSCL.
Ở khu vực ĐBSH: Báo cáo đầu tiên về hiện trạng nhiễm ấu trùng SLTQC ở
Việt Nam đƣợc thực hiện bởi Lê Văn Châu và cộng sự (1997) tại huyện Kim Sơn,
tỉnh Ninh Bình. Ấu trùng sán lá gan nhỏ C. sinensis đƣợc xác định trên cá Mè trắng
với tỷ lệ nhiễm 44,47%, cá Chép 25%, cá Trắm cỏ 13,33%, cá Trôi việt 13,85% và
cá Rô đồng là 32% [5]. Hà Duy Ngọ (2003) có công bố thứ 2 về ấu trùng sán lá gan
nhỏ C. sinensis trên cá tại 2 tỉnh Nam Định và Ninh Bình. Các loài cá đƣợc xác định
nhiễm loại ấu trùng này bao gồm cá Rô phi đen, cá Diếc, cá Thiểu và cá Quả [7].
Giai đoạn năm 2002-2003, Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn trùng Trung Ƣơng đã

lệ 1,5% trên cá Trắm cỏ, Rohu và cá Mè trắng nhƣng không phát hiện ở cá Mrigal
và Chim trắng. Trong khi đó, tỷ lệ nhiễm ấu trùng H. pumilio là 55,6% và C.
formosanus là 41,0% ngoại trừ ấu trùng H. taichui nhiễm thấp 0,3% trên cá Trắm cỏ
và Mè trắng [9]. Tƣơng tự, ấu trùng sán lá nhỏ chỉ phát hiện với tỷ lệ 0,05% trên cá
hƣơng và cá giống tại Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình và Thanh Hóa trong khi đó



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status