ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-------***-------
NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI
PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà nội – 2005
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-------***-------
NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI
PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và Pháp luật
Mã số:
6.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN 11
BỘ, CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ Ở CÁC TỈNH
MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM
Tổng quan lý luận chung về giáo dục pháp luật.
Khái niệm và đặc điểm của giáo dục pháp luật cho cán bộ,
công chức chính quyền cấp xã ở các tỉnh miền núi phía
Bắc Việt Nam.
1.3.
Các yếu tố ảnh hƣởng đến việc giáo dục pháp luật cho cán
bộ, công chức chính quyền cấp xã ở các tỉnh miền núi phía
Bắc Việt Nam.
Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ,
1.1.
1.2.
11
26
32
38
CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI
PHÍA BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY
Khái quát thực trạng cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay.
92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
94
3.1.
"Con người vốn là sản phẩm của hoàn cảnh và giáo dục. Và do đó, con
người đã thay đổi là sản phẩm của những hoàn cảnh khác và của một
nền giáo dục đã thay đổi" [25.tr10]
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
GDPL cho toàn thể nhân dân nói chung, cho đội ngũ cán bộ, công chức
nói riêng luôn là mối quan tâm lớn đối với Đảng và Nhà nước ta. Điều đó
được phản ảnh qua các văn kiện của Đảng và thể hiện trong nhiều quy định
pháp luật do Nhà nước ban hành.
Trong các văn kiện của Đảng, quan điểm coi trọng công tác GDPL được
thể hiện nhất quán và ngày càng rõ nét, đặc biệt là kể từ Đại hội Đại biểu toàn
quốc lần thứ VI tới nay. Thể chế hoá quan điểm do Đảng đề ra, nhiều văn bản
pháp luật đã được Nhà nước ban hành, như: Chương trình tổng thể cải cách
hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
kèm theo Quyết định số 136-2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001, trong đó xác
định một trong những nhiệm vụ cần thực hiện nhằm đảm bảo việc tổ chức
thực thi pháp luật nghiêm minh của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức
là “cung cấp cho cán bộ, công chức đầy đủ thông tin về chính sách, pháp luật
của Nhà nước để vận dụng, giải quyết công việc theo chức trách, thẩm
quyền"; Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg ngày 17 tháng 01 năm 2003 được
Thủ tướng Chính phủ ban hành Phê duyệt chương trình phổ biến, GDPL từ
năm 2003 đến năm 2007; Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg ngày 16 tháng 12
năm 2004 do Thủ tướng Chính phủ ban hành Phê duyệt Chương trình hành
tranh cãi nhiều về khái niệm, nội dung, hình thức, phương pháp GDPL, song,
thực hiện đầy đủ, có hiệu quả những lý thuyết ấy trên thực tế quả thực còn là
câu chuyện trăn trở của những nhà giáo dục, các báo cáo viên, tuyên truyền
viên; còn là niềm hy vọng, sự nỗ lực của nhà làm luật, nhà quản lý.
Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để đưa pháp luật vào cuộc sống? Làm thế
nào để GDPL đạt hiệu quả? Theo khoa học lý luận chung về nhà nước và
3
pháp luật, một trong những nguyên tắc được đề cập đến đầu tiên là “phải tính
toán khả năng lĩnh hội những kiến thức pháp lý của các tầng lớp dân cư, các
loại đối tượng, từ đó lựa chọn những biện pháp và hình thức giáo dục thích
hợp” [49.tr285].
Như vậy, đối tượng là yếu tố mà GDPL hướng tới, là yếu tố quyết định
hình thức, biện pháp, nội dung và cũng là yếu tố quan trọng kiểm định hiệu
quả GDPL.
Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là đối tượng hết sức đông đảo và
quan trọng của GDPL. Thời gian qua, được sự chú trọng xây dựng và phát
triển của Đảng, của Nhà nước, họ đã không ngừng lớn mạnh. Tuy nhiên,
trước những yêu cầu ngày càng cao của xã hội, đội ngũ này không phải không
có những bất cập, cả về lực lượng, về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, về kỹ
năng thực hiện công việc và về kiến thức pháp luật.
Sự bất cập này thể hiện rõ nét hơn ở các địa phương miền núi phía Bắc,
xuất phát từ nhiều lý do khách quan và chủ quan.
Về khách quan, miền núi phía Bắc Việt Nam là địa bàn có nhiều đồi núi,
gây khó khăn trong quy tụ dân cư, là trở lực lớn đối với công tác quản lý ngay
từ cấp chính quyền cơ sở; ở đây có nhiều đồng bào dân tộc ít người sinh sống
với sự đa dạng phong tục, tập quán tham gia chi phối, điều chỉnh quan hệ xã
hội, mà nhiều khi các phong tục, tập quán đó còn có vai trò ưu trội hơn pháp
thức pháp luật, nhu cầu tạo dựng nền văn hoá pháp lý cho cán bộ, công chức
chính quyền cấp xã các tỉnh miền núi phía Bắc thì đã và đang ngày càng trở
nên vô cùng bức thiết.
Xuất phát từ nhận thức đó, học viên lựa chọn đề tài: "GDPL cho cán bộ,
công chức chính quyền cấp xã ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện
nay" để làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu.
GDPL là một nội dung quan trọng của lý luận chung về nhà nước và
pháp luật. Vì vậy, đây là vấn đề luôn được nhiều cơ quan nghiên cứu khoa
5
học, các nhà khoa học pháp lý, giáo dục học quan tâm nghiên cứu dưới nhiều
góc độ khác nhau.
Tìm hiểu các công trình khoa học đã được công bố trong nước và nước
ngoài cho thấy, GDPL được đề cập dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau,
về cơ bản gồm các nhóm vấn đề sau:
Nhóm 1, nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về GDPL, gồm khái
niệm, mục đích, đối tượng, nội dung, hình thức của GDPL. Điều này được
minh chứng qua các công trình khoa học:
Giáo dục ý thức pháp luật, Nguyễn Trọng Bích, Tạp chí Xây dựng Đảng,
số 4/1989, tr34-35.
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc
đổi mới, Đề tài khoa học cấp Bộ năm 1994, mã số 92-98-223 ĐT, Viện
Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp.
Cơ sở khoa học của việc xây dựng ý thức pháp luật và lối sống theo pháp
luật, Đề tài khoa học cấp nhà nước, mã số KX 07 - 17, Viện Nhà nước và
Pháp luật - Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn chủ trì.
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong thời kỳ đổi
nước ta hiện nay, Đề tài khoa học cấp Bộ, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, năm 2000.
Thực trạng và phương hướng đổi mới giáo dục pháp luật hệ đào tạo
trung học chính trị ở nước ta hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật học
của Đặng Ngọc Hoàng, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia, năm
2000.
Nhìn lại một năm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở Gia Lai,
Trần Xuân Thiệp, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 2/2000.
Giáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc ít người ở tỉnh Đắk
Lắk - thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sĩ Luật học của Phạm
Hàn Lâm, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia, năm 2001.
7
Nhóm 3, nghiên cứu GDPL trong mối quan hệ với các nội dung khoa
học pháp lý khác, với một số công trình nghiên cứu:
Giáo dục ý thức pháp luật để tăng cường pháp chế XHCN và xây
dựng con người mới, Phùng Văn Tửu, Tạp chí Giáo dục Lý luận, số
4/1985, tr18-22.
Ý thức pháp luật và giáo dục pháp luật ở Việt Nam, Luận án Phó tiến
sĩ Luật học của Nguyễn Đình Lộc, năm1985.
Giáo dục ý thức pháp luật với việc tăng cường pháp chế XHCN,
Luận án Phó tiến sĩ Luật học của Trần Ngọc Đường, năm 1988.
Mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về GDPL nói chung,
GDPL cho các đối tượng đặc thù và GDPL trong mối quan hệ với các vấn đề
khác như đã kể trên, song đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu về
GDPL cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã gắn với địa bàn cụ thể là
miền núi phía Bắc Việt Nam. Vì vậy, đây là công trình đầu tiên nghiên cứu
vấn đề này ở cấp độ Luận văn thạc sĩ. Tuy nhiên, các công trình nêu trên là
quốc tế hoặc quốc gia; hầu hết các tỉnh có sự phát triển kinh tế – xã hội không
đồng đều giữa các vùng, các dân tộc…
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn.
4.1- Mục đích của luận văn.
Luận văn có mục đích là trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và
thực trạng GDPL cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã miền núi phía
Bắc, đưa ra những phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường GDPL cho
cán bộ, công chức chính quyền cấp xã miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay.
4.2- Nhiệm vụ của luận văn.
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
+ Phân tích cơ sở lý luận về GDPL và GDPL cho cán bộ, công chức
chính quyền cấp xã ở miền núi phía Bắc Việt Nam, trên cơ sở đó, làm rõ khái
niệm, đặc trưng, mục đích, chủ thể, nội dung, hình thức, phương pháp GDPL
cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã miền núi phía Bắc.
9
+ Phân tích, đánh giá thực trạng GDPL cho cán bộ, công chức chính
quyền cấp xã ở miền núi phía Bắc.
+ Nêu và phân tích phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường GDPL
cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở miền núi phía Bắc Việt Nam
hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn.
5.1- Cơ sở lý luận.
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và khoa
học lý luận Nhà nước, pháp luật nói chung, lý luận về GDPL nói riêng.
5.2- Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp nghiên cứu của chủ
11
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ
Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM
1.1- Tổng quan lý luận chung về giáo dục pháp luật.
1.1.1- Khái niệm GDPL.
GDPL là một nội dung quan trọng của lý luận chung về nhà nước và
pháp luật. Nghiên cứu các công trình khoa học đã được công bố cho thấy, có
nhiều quan điểm khác nhau về GDPL.
Có quan điểm cho rằng, GDPL đồng nghĩa với hoạt động dạy, học
pháp luật ở các trường học. Như vậy, quan điểm này không xếp các hoạt động
tuyên truyền, phổ biến pháp luật diễn ra ngoài phạm vi trường học là GDPL.
Khi coi GDPL chỉ là hoạt động dạy, học pháp luật ở trong nhà trường thì vô
hình chung chúng ta đã coi nhẹ các hoạt động GDPL diễn ra ngoài trường
học, được tiến hành bởi các chủ thể khác những người giáo viên, mà hoạt
động GDPL diễn ra ngoài trường học nhiều khi lại có ý nghĩa xã hội hết sức
to lớn, có tác dụng cho nhiều đối tượng, có tác động kịp thời, thường xuyên,
lâu dài.
Một quan điểm khác lại cho rằng, GDPL là hoạt động tuyên truyền, phổ
biến, thông tin pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Quan
điểm này là nguyên nhân dẫn đến thái độ thụ động của những người làm công
tác GDPL, khiến họ chỉ thực hiện việc GDPL khi có văn bản mới ra đời, do
vậy, hoạt động GDPL không được tiến hành thường xuyên, có mục đích, có
định hướng, khó tạo nên nền văn hoá pháp lý ổn định và ngày càng phát triển
trong xã hội.
Có quan niệm thậm chí còn cho rằng, pháp luật vốn dĩ có chức năng
giáo dục, bản thân pháp luật với những chế tài nghiêm khắc của nó là sự giáo
định của đối tượng giáo dục. Yếu tố khách quan ở đây bao gồm chế độ xã hội,
13
trình độ phát triển kinh tế, môi trường sống v.v..; Còn yếu tố chủ quan chính
là các tác động tự giác, có chủ định và có định hướng của nhân tố con người.
Theo nghĩa hẹp, giáo dục là quá trình tác động có định hướng của nhân
tố chủ quan lên khách thể giáo dục, nhằm truyền bá những kinh nghiệm đấu
tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, để họ có đầy
đủ khả năng tham gia vào lao động và đời sống xã hội.
Trong hai cách tiếp cận về giáo dục theo khoa học giáo dục học nêu
trên, mặc dù các nhà khoa học luôn đề cao yếu tố khách quan, tức là giáo dục
hiểu theo nghĩa rộng, song, vấn đề được đặc biệt nhấn mạnh, được coi là có ý
nghĩa quyết định chính là nhân tố chủ quan. Bởi, trong cả hai yếu tố khách
quan và chủ quan thì yếu tố khách quan là nhóm yếu tố ảnh hưởng, nó có
thể ảnh hưởng theo các chiều hướng tiêu cực và tích cực khác nhau, vai trò
chủ động của chủ thể và đối tượng giáo dục rất mờ nhạt; còn yếu tố chủ quan
là nhóm yếu tố tác động, ở đây, vai trò của chủ thể vô cùng quan trọng. Do
vậy, chúng ta thường sử dụng khái niệm giáo dục theo nghĩa hẹp.
Theo đó, GDPL với tính cách là một hoạt động có định hướng, có mục
đích, cũng cần được tiếp cận dưới góc độ nghĩa hẹp của khái niệm giáo dục.
GDPL là sự tác động có hệ thống, có định hướng của chủ thể giáo dục
lên đối tượng giáo dục nhằm hình thành nên ở đối tượng giáo dục những tri
thức pháp lý, tạo nên niềm tin vào pháp luật, để họ có đầy đủ khả năng tham
gia các quan hệ xã hội một cách phù hợp với quy định của hệ thống pháp luật
hiện hành.
Như vậy, GDPL là hoạt động có mục đích, được tiến hành bởi các chủ
thể nhất định, tác động lên những đối tượng nhất định, chứa đựng các nội
dung và được truyển tải bằng các hình thức, phương pháp cụ thể.
tự chủ, tự tin và phù hợp với đòi hỏi của pháp luật.
Hiện nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng các quan hệ xã hội cần có
sự điều chỉnh của pháp luật, với xu thế hội nhập quốc tế, gia nhập các tổ chức
hợp tác nhiều lĩnh vực trên thế giới, yêu cầu tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
1
Quan niệm của PGS, TS Nguyễn Đăng Dung – Khoa Luật ĐHQG Hà Nội.
15
hệ thống pháp luật luôn đặt ra như một thách thức với Việt Nam. Trong bối
cảnh đó, mục tiêu cung cấp tri thức pháp lý cho các đối tượng GDPL lại càng
trở nên cần thiết và phải được chú trọng thực hiện.
Vấn đề cần lưu ý là, khối lượng tri thức pháp lý ngày càng đồ sộ và
luôn có sự biến động, phần lớn các đối tượng không thể nắm bắt chúng một
cách trọn vẹn. Từng nhóm đối tượng của GDPL sẽ có những nhu cầu về tri
thức pháp lý khác nhau. Xác định rõ nhu cầu đó, hay nói cách khác, xác định
rõ tính đặc thù của mục đích nhận thức là nhiệm vụ không thể xem nhẹ của
các chủ thể GDPL.
Thứ hai, tạo niềm tin vào pháp luật.
Ngoài việc cung cấp những tri thức pháp lý, hoạt động GDPL còn
nhằm mục đích tạo ra những tình cảm pháp lý, hay còn gọi là niềm tin vào
pháp luật. Đối tượng GDPL cần cảm nhận được những ưu việt, những giá trị
xã hội của pháp luật như tính nhân đạo, sự công bằng, thước đo tính chuẩn
mực của hành vi, giá trị thông tin nằm trong các quy phạm v.v.., cần có thái
độ không khoan nhượng với các hành vi vi phạm pháp luật. Niềm tin pháp
luật là động lực mạnh mẽ thôi thúc con người hành động đúng pháp luật.
Trên thực tế, có nhiều người rất am hiểu về pháp luật, song lại không xử sự
đúng yêu cầu pháp luật đặt ra, mà luôn tìm cách "lách luật". Đó là bởi, ngoài
đánh giá về hiệu quả GDPL, chúng ta lại cần tham chiếu đến mục đích ban
đầu đó, bao gồm những kiến thức pháp luật cụ thể mà các đối tượng lĩnh hội
được, những tình cảm pháp lý nảy sinh trong lòng đối tượng GDPL, sự biểu
hiện ra bên ngoài thành thói quen cư xử đúng pháp luật của đối tượng được
GDPL thể hiện qua sự giảm thiểu vi phạm pháp luật trong xã hội. Như vậy, ba
mục đích trên đồng thời cũng là ba tiêu chí đánh giá hiệu quả của hoạt động
GDPL.
1.1.3- Chủ thể và đối tượng của GDPL.
1.1.3.1- Chủ thể của GDPL
Khi phân tích, đánh giá hoạt động có mục đích của con người, yếu tố
chủ thể luôn được đề cập, coi trọng, như là một nguyên nhân chính dẫn đến sự
17
thành công của hoạt động đó. Theo quan niệm thông thường, chủ thể "là đối
tượng gây ra hành động trong quan hệ đối lập với đối tượng bị hành động là
khách thể" [51.tr394]. Còn trong khoa học giáo dục học, chủ thể chính là các
thầy giáo, cô giáo, những người thực hiện nhiệm vụ truyền đạt kiến thức đến
cho đối tượng giáo dục là học sinh, sinh viên, học viên.
Như vậy, chủ thể của GDPL là những người tiến hành hoạt động
GDPL. Hoạt động GDPL do các chủ thể tiến hành có thể là theo chức năng,
nhiệm vụ, những chủ thể này còn gọi là những chủ thể mang tính chuyên
nghiệp, có trình độ chuyên môn về GDPL, tiến hành hoạt động GDPL một
cách thường xuyên, liên tục với tư cách là công việc được giao đảm nhiệm.
Họ có thể là những người giáo viên làm nhiệm vụ giảng dạy về pháp luật, các
báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật ở các cơ quan của Đảng, của Nhà
nước, các tổ chức xã hội v.v.. Hoạt động GDPL cũng có thể do các cá nhân, tổ
chức tiến hành một cách không trực tiếp, thực hiện do phái sinh từ nhiệm vụ
chính hoặc do nhận thức về trách nhiệm xã hội, hay còn gọi là những chủ thể
chi phối nội dung GDPL, là vấn đề cần xác định trước để tìm ra hình thức,
phương pháp giáo dục phù hợp và là yếu tố kiểm nghiệm hiệu quả GDPL.
Với tầm quan trọng đó, xác định đúng đối tượng là nguyên nhân hàng đầu
quyết định thành công trong GDPL.
Do tính đa dạng, phong phú của đối tượng GDPL, việc xác định các
nhóm đối tượng của GDPL phải được tiến hành dựa trên những tiêu chí cụ
thể. Về cơ bản, có một số tiêu chí xác định đối tượng của GDPL như sau:
1, Tiêu chí giới tính: dựa vào tiêu chí này, chúng ta có đối tượng của
GDPL là nam giới và nữ giới. Thông thường, chúng ta sử dụng tiêu chí này để
xác định đối tượng nhằm tập trung vào việc GDPL cho phụ nữ, xuất phát từ
quan điểm cho rằng, phụ nữ là đối tượng dễ bị tổn thương và xâm hại, cần
được giáo dục về các lĩnh vực pháp luật như Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật
Dân sự (về vấn đề thừa kế v.v..).
19
2, Tiêu chí độ tuổi: tiêu chí này thường được sử dụng trong trường hợp
muốn tập trung vào giáo dục cho đối tượng thanh – thiếu niên với quan niệm
cho rằng đây là nhóm đối tượng đang ở đổ tuổi định hình nhân cách, dễ bị ảnh
hưởng bởi các tác động khách quan, cần GDPL để nhóm đối tượng này có
được tri thức, tình cảm pháp lý và hình thành thói quen xử sự đúng pháp luật.
3, Tiêu chí nghề nghiệp: đây là loại tiêu chí được sử dụng nhiều nhất
trong việc xác định đối tượng. Ngoài các quy định pháp luật mang tính phổ
thông, bắt buộc mọi thành viên trong xã hội phải hiểu biết như nhau, thì phần
lớn các quy định của pháp luật được sử dụng ít hay nhiều tuỳ thuộc và nghề
nghiệp, môi trường làm việc của mỗi người. Dựa vào tiêu chí này, chúng ta có
các nhóm đối tượng như:
- Cán bộ, công chức nhà nước.
Đây là nhóm đối tượng có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, công tác
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ngày càng phát triển đã làm
nên nhiều thành tựu trong các mặt của đời sống, song cũng đặt con người
trước nhiều thách thức bởi mặt trái của vấn đề. Trong bối cảnh đó, pháp luật
luôn được nhà nước sử dụng như là một công cụ quản lý hữu hiệu và tạo hành
lang an toàn cho cả xã hội trong vòng quay thị trường.
Đối với các chủ doanh nghiêp, những người quản lý, cán bộ công đoàn
ở các doanh nghiệp, họ là những người trực tiếp tham gia vào chu trình vận
hành của nền kinh tế thị trường, trực tiếp chịu tác động của pháp luật cũng
như tất cả các chính sách kinh tế của Nhà nước. Hiểu biết về pháp luật không
những giúp họ quản lý, điều hành doanh nghiệp có hiệu quả, đúng pháp luật
mà còn hạn chế đến mức tối đa các thiệt hại không đáng có mà chúng ta vẫn
thường đổ cho là tại "cơ chế". Bởi vì, trong điều kiện hiện nay, dù pháp luật
có thường xuyên thay đổi, thì Nhà nước vẫn luôn tuân theo những quy luật
phát triển xã hội, dựa vào nhu cầu của xã hội để ban hành pháp luật. Và khi có
sự thay đổi, Nhà nước vẫn tạo điều kiện để các doanh nghiệp không bị những
ảnh hưởng xấu từ sự thay đổi pháp luật gây ra, miễn là người lãnh đạo, quản
21
lý và những người liên quan nắm được pháp luật, làm chủ được công cụ mà
nhà nước cung cấp cho mình.
- Các tầng lớp dân cư khác.
Mặc dù nhu cầu hiểu biết về từng văn bản pháp luật cụ thể, từng lĩnh
vực pháp luật cụ thể đối với tất cả các tầng lớp dân cư trong xã hội không
giống nhau, song, trong Nhà nước pháp quyền, nhu cầu hiểu biết về pháp luật
của mọi người dân nói chung rất cao. Điều cơ bản là, chúng ta phải xác định
được nhóm đối tượng nào thì cần hiểu biết sâu sắc về những lĩnh vực pháp
luật nào. Từ đó, có các nội dung, hình thức GDPL phù hợp.
Việc xác định tính chất của đối tượng đối với các tầng lớp dân cư khác