ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HUYỀN TÚ
TỔNG HỢP, NGHIÊN CỨU TÍNH CHẤT PHỨC CHẤT
HỖN HỢP PHỐI TỬ SALIXYLAT VÀ 1,10-PHENANTROLIN
CỦA MỘT SỐ NGUYÊN TỐ ĐẤT HIẾM NHẸ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC VẬT CHẤT
THÁI NGUYÊN, NĂM 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HUYỀN TÚ
TỔNG HỢP, NGHIÊN CỨU TÍNH CHẤT PHỨC CHẤT HỖN
HỢP PHỐI TỬ SALIXYLAT VÀ 1,10-PHENANTROLIN
CỦA MỘT SỐ NGUYÊN TỐ ĐẤT HIẾM NHẸ
Chuyên ngành: Hóa vô cơ
Mã số: 60 44 01 13
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC VẬT CHẤT
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN THỊ HIỀN LAN
THÁI NGUYÊN, NĂM 2017
học liệu Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng em hoàn
thành bản luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới bạn bè cùng những người thân yêu trong
gia đình đã luôn giúp đỡ, quan tâm, động viên, chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp tôi
hoàn thành tốt khóa học.
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2017
iii
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ.................................................................................................................. i
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................................... ii
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. iii
MỤC LỤC .................................................................................................................... iv
CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT ............................................................................................ v
DANH MỤC BẢNG .................................................................................................... vi
DANH MỤC HÌNH .................................................................................................... vii
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................................... 2
1.1. Giới thiệu chung về các nguyên tố đất hiếm và khả năng tạo phức của chúng..... 2
1.1.1. Đặc điểm chung của các nguyên tố đất hiếm (NTĐH).............................................. 2
1.1.2. Khả năng tạo phức của các nguyên tố đất hiếm ......................................................... 6
1.2. Axit cacboxylic, 1,10 - Phenantrolin và cacboxylat kim loại ....................................... 8
1.2.1. Đặc điểm cấu tạo và khả năng tạo phức của các axit monocacboxylic
Axit monocacboxylic ............................................................................................................... 8
1.2.2. Đặc điểm cấu tạo và khả năng tạo phức của 1,10 - Phenantrolin ...........................11
1.2.3. Tình hình nghiên cứu cacboxylat thơm trong và ngoài nước..................................12
1.3. Một số phương pháp hoá lí nghiên cứu phức chất ......................................................14
3.6. Nghiên cứu các phức chất bằng phương pháp phân tích nhiệt...................................33
3.7. Nghiên cứu các phức chất bằng phương pháp phổ khối lượng ..................................37
3.8. Nghiên cứu khả năng phát huỳnh quang của các phức chất.......................................43
KẾT LUẬN ................................................................................................................. 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 48
v
CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
HSal
: axit salixylic
Phen
: 1,10 - phenantrolin
Ln
: Nguyên tố lantanit
NTĐH
: Nguyên tố đất hiếm
EDTA
: Etylendiamintetraaxetat
Hình 3.3. Phổ hấp thụ hồng ngoại của Nd(HSal)3 .Phen ............................................ 29
Hình 3.4. Phổ hấp thụ hồng ngoại của Sm(HSal)3.Phen ............................................. 30
Hình 3.5. Phổ hấp thụ hồng ngoại của Eu(HSal)3.Phen .............................................. 30
Hình 3.6. Phổ hấp thụ hồng ngoại của Gd(HSal)3.Phen ............................................. 31
Hình 3.7. Giản đồ phân tích nhiệt của phức chất Nd(HSal)3.Phen ............................... 33
Hình 3.8. Giản đồ phân tích nhiệt của phức chất Sm(HSal)3.Phen .............................. 33
Hình 3.9. Giản đồ phân tích nhiệt của phức chất Eu(HSal)3.Phen .............................. 34
Hình 3.10. Giản đồ phân tích nhiệt của phức chất Gd(Hsal)3.Phen ............................ 34
Hình 3.11. Phổ khối lượng của phức chất Nd(Hsal)3.Phen ......................................... 37
Hình 3.12. Phổ khối lượng của phức chất Sm(HSal)3.Phen........................................ 38
Hình 3.13. Phổ khối lượng của phức chất Eu(HSal)3.Phen ........................................ 38
Hình 3.14. Phổ khối lượng của phức chất Gd(HSal)3.Phen ........................................ 39
Hình 3.15. Phổ phát xạ huỳnh quang của phức chất Nd(HSal)3.Phen ........................ 43
Hình 3.16. Phổ phát xạ huỳnh quang của phức chất Sm(HSal)3.Phen ........................ 44
Hình 3.17. Phổ phát xạ huỳnh quang của phức chất Eu(HSal)3.Phen ........................ 45
Hình 3.18. Phổ phát xạ huỳnh quang của phức chất Gd(HSal)3 .Phen ....................... 46
vii
MỞ ĐẦU
Tổng hợp và nghiên cứu phức chất là một trong những hướng phát triển ưu tiên
của hóa học vô cơ hiện đại trong những năm gần đây. Ngày nay hóa học phức chất
đang phát triển rực rỡ và là nơi hội tụ của những thành tựu của hóa lí, hóa phân tích,
hóa hữu cơ, hóa sinh, hóa môi trường.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ trong lĩnh vực chế tạo vật liệu
mới thì hướng nghiên cứu các cacboxylat thơm lại càng có giá trị. Thực tế, các phức
chất này có tiềm năng ứng dụng rất lớn trong khoa học vật liệu để tạo ra các chất siêu
dẫn, các đầu dò phát quang trong phân tích sinh học, đánh dấu huỳnh quang sinh y,
trong vật liệu quang điện, trong khoa học môi trường, công nghệ sinh học tế bào và
chia thành hai phân nhóm.
Bảy nguyên tố đầ u từ Ce đế n Gd có electron điề n vào các obitan 4f tuân theo
quy tắ c Hun, nghiã là mỗi obitan mô ̣t electron, ho ̣p thành phân nhó m xeri hay nhóm
lantanit nhe ̣; bảy nguyên tố còn la ̣i từ Tb đế n Lu có electron thứ hai lần lươ ̣t điề n
vào các obitan 4f, ho ̣p thành phân nhóm tecbi, hay nhóm lantanit nặng [13].
La
4f0 5d1
Phân nhó m xeri
Phân nhó m tecbi
Ce
Pr
Nd
Pm
Sm
Eu
Gd
4f2
4f3
4f4
4f7+6
4f7+7
4f7+75d1
2
Các nguyên tố lantanit có phân lớp 4f đang được xây dựng và có số electron
lớp ngoài cùng như nhau (6s 2 ). Theo các dữ kiện hóa học và quang phổ, phân lớp
4f và 5d có mức năng lượng gần nhau, nhưng phân lớp 4f thuận lợi hơn về mặt
năng lượng. Khi được kích thích một giá tri ̣ nhỏ năng lượng, mô ̣t trong cá c
electron 4f nhả y sang obitan 5d, electron 4f cò n la ̣i bi ̣ các electron 5s 2 5p6 chắn
vớ i tá c du ̣ng bên ngoà i cho nên không ảnh hưở ng quan trọng đế n tính chấ t củ a
đa số lantanit. Bởi vậy, các lantanit giố ng nhiề u vớ i nguyên tố d nhó m IIIB,
chú ng rấ t giố ng vớ i ytri và lantan, có cá c bá n kính nguyên tử và ion tương
đương [20].
Sự khác nhau về cấu trúc nguyên tử của các nguyên tố trong họ chỉ thể
hiện ở lớp thứ ba từ ngoài vào, lớp này ít ảnh hưởng đến tính chất hóa học của
các nguyên tố nên tính chất hóa học của các nguyên tố lantanit rất giống nhau.
Tuy có tính chất giống nhau nhưng do có sự khác nhau về số electron trên phân
lớp 4f nên ở mức độ nào đó các nguyên tố lantanit cũng có một số tính chất
không giống nhau. Từ Ce đến Lu, một số tính chất biến đổi tuầ n tư ̣ và một số
tính chất biến đổi tuần hoàn. Một số đại lượng đặc trưng của các nguyên tố đất
hiếm được trình bày ở bảng 1.1.
3
920
3464
6,16
Ce
58
1,825
1,034
804
3470
6,77
Pr
59
1,828
1,013
935
7,26
Sm
62
1,802
0,964
1072
1670
7,54
Eu
63
2,042
0,950
826
1430
5,24
66
1,773
0,908
1380
2330
8,56
Ho
67
1,776
0,894
1500
2380
8,78
Er
68
0,858
824
1320
6,95
Lu
71
1,747
0,848
1675
2680
9,85
NTĐH
Số thứ tự
(Ln)
nguyên tử
electron ở phân lớp 6s, Sm ( 4f66s2) cũng có số oxi hóa +2 nhưng kém đặc trưng
hơn so với Eu.
Mà u sắ c củ a cá c ion Ln3+ biến đổi một cá ch có quy luâ ̣t theo đô ̣ bề n tương
đố i củ a tra ̣ng thá i 4f. Chẳ ng hạn, cá c ion có cấu hình 4f 0, 4f 7 và 4f14 cũ ng như
4f1 và 4f13 (4f1 gầ n 4f0 , 4f 13 gầ n 4f14) đề u không mà u, cá c ion cò n la ̣i đề u có mà u.
Sư ̣ biế n đổi màu của cả da ̃y NTĐH có tính chấ t tuầ n hoà n. Bả y nguyên tố đầ u
(các nguyên tố phân nhóm xeri) màu đâ ̣m hơn bả y nguyên tố sau (các nguyên tố
phân nhóm tecbi). Số electron phân lớ p 4f củ a 7 nguyên tố sau đươ c̣ điền nhiề u
hơn do đó bề n hơn. Vì thế , nguyên nhân biế n đổ i mà u là do mứ c đô ̣ lấ p đầ y
electron và o phân lớp 4f.
La3+
(4f0)
không màu
Lu3+
(4f14)
không màu
Ce3+
(4f1)
không màu
Yb3+
(4f4)
hồng
Ho3+
(4f10)
vàng
Sm3+
(4f5)
trắng ngà
Dy3+
(4f9)
vàng nhạt
Eu3+
(4f6)
hồng nhạt
Tb3+
họ d (0,85 ÷ 1,06 Å) làm giảm lực hút tĩnh điện giữa chúng và phối tử. Vì vậy, xét
về mặt tạo phức của các NTĐH chỉ tương đương với kim loại kiềm thổ. Liên kết
trong các phức chất chủ yếu là liên kết ion. Tuy nhiên, liên kết cộng hoá trị cũng
đóng góp một phần nhất định do các obitan 4f không hoàn toàn bị che chắn nên sự
xen phủ giữa obitan kim loại và phối tử vẫn có thể xảy ra mặc dù yếu [4].
Người ta nhâ ̣n thấ y rằ ng, các ion đất hiếm Ln3+ có thể tạo những phức chất không
bền với nhiều phối tử vô cơ như NO3 , CO32-, CN , halogenua,…do các phố i tử vô cơ có
dung lượng phố i trí thấ p và điê ̣n tić h nhỏ. Trong dung dịch loãng, các hợp chất này phân
ly hoàn toàn, còn trong dung dịch đặc chúng kết tinh ở dạng tinh thể muối kép. Những
muối kép này tương đối khác nhau về độ bền nhiệt và độ tan nên có thể được sử dụng để
tách các nguyên tố đất hiếm. Các nguyên tố đất hiếm có khả năng tạo các phức chất vòng
càng bền với các phối tử hữu cơ (đặc biệt là các phối tử có dung lượng phối trí cao và điện
tích âm lớn). Đi từ Lantan đến Lutexi thì khả năng tạo phức của ion đất hiếm và độ bền
6
của phức chất tăng do bán kính ion giảm nên lực hút của các ion trung tâm với các phối
tử mạnh lên.
Đối với các phố i tử có các nguyên tử phối trí khác nhau, ở dãy kim loa ̣i chuyển
tiếp d thể hiện khuynh hướng ta ̣o phức giảm dầ n theo trâ ̣t tự N>S>O. Còn đố i với các
NTĐH trâ ̣t tự này là O>N>S, giố ng với các kim loại kiề m thổ . Xét theo quan điể m
axit - bazơ cứng - mề m của Pearson, các ion đấ t hiế m Ln3+ thuộc loại axit cứng, do
đó ưu tiên tạo phức bề n hơn với các bazơ cứng đó là các phố i tử chứa nguyên tử cho
là O và mô ̣t số phố i tử chứa nguyên tử cho là N, còn các phối tử phố i trí qua nguyên
tử S thường là các bazơ mề m [16].
đất hiếm là cơ sở quan trọng để tách các nguyên tố đất hiếm ra khỏi hỗn hợp của
chúng bằng các phương pháp như kết tinh phân đoạn, thăng hoa phân đoạn, chiết với
dung môi hữu cơ, tách sắc ký [1].
1.2. Axit cacboxylic, 1,10 - Phenantrolin và cacboxylat kim loại
1.2.1. Đặc điểm cấu tạo và khả năng tạo phức của các axit monocacboxylic
Axit monocacboxylic
Axit monocacboxylic là hợp chất hữu cơ có công thức cấu tạo chung:
O
R
C
H
O
Như vậy, phân tử axit gồm hai phần: Nhóm chức cacboxyl (-COOH) và gốc
hiđrocacbon (-R). Nhóm cacboxyl là tổ hợp của hai nhóm cacbonyl C=O và
hiđroxyl -OH. Hai nhóm này tác động qua lại lẫn nhau do có sự liên hợp giữa
electron ở liên kết đôi của nhóm C=O và electron p tự do của nguyên tử O trong
nhóm -OH. Do đó, liên kết O-H ở phân tử axit phân cực hơn ở phân tử ancol và
liên kết hiđro cũng mạnh hơn. Vì vậy, các axit có thể tạo những đime vòng:
O
R
H
O
C
Mặt khác, các phân tử axit cacboxylic tạo liên kết hiđro với các phân tử nước
bền hơn so với các ancol nên chúng dễ tan trong nước hơn các ancol.
8
.
O ...... H
R
H
O .......
C
O
H.......O
H .......
H
Khả năng tan trong nước của các axit cacboxylic giảm khi tăng số nguyên tử
cacbon trong gốc hiđrocacbon R.
Tính chất đặc trưng của axit cacboxylic do nhóm chức -COOH quyết định. Vì
hiệu ứng liên hợp p- đã trình bày ở trên mà liên kết O-H trong axit cacboxylic phân
cực hơn so với trong ancol và chúng dễ bị proton hoá hơn các ancol. Tuy nhiên,
chúng đều là các axit yếu (Ka 10-5) và tính axit giảm khi mạch cacbon của gốc R
càng dài hoặc càng phân nhánh.
Nhờ tính linh động của nguyên tử H trong nhóm –OH và khả năng cho electron
- Dạng (4) được gọi là dạng liên kết cầu - ba càng
- Dạng (5) được gọi là dạng một càng
Dạng phối trí của nhóm -COOH phụ thuộc vào bản chất của gốc R và ion đất
hiếm Ln3+. Khi hằng số phân li của axit giảm thì số nhóm cacboxylat ở dạng cầu - hai
càng sẽ tăng, còn dạng vòng - hai càng sẽ giảm. Số thứ tự của đất hiếm càng lớn thì
số nhóm cacboxylat ở dạng vòng - hai càng càng tăng và số nhóm ở dạng cầu - hai
càng càng giảm.
Kiểu phối trí vòng - hai càng thường ít phổ biến hơn kiểu phối trí một càng.
Trong cả hai kiểu cacboxylat phối trí vòng - hai càng và cầu - hai càng có hai liên kết
cacbon-oxi tương đương như trong ion tự do, tuy nhiên, góc OCO trong phức chất vòng
- hai càng thường nhỏ hơn trong phức chất cầu - hai càng [30].
Quá trình tổng hợp các cacboxylat đất hiếm có thể được tiến hành theo nhiều
phương pháp khác nhau. Phương pháp tổng hợp phổ biến là đun hồi lưu một lượng
axit cacboxylic với oxit, hiđroxit hoặc cacbonat đất hiếm tương ứng.
Tuỳ thuộc vào điều kiện tổng hợp mà các cacboxylat đất hiếm thu được ở dạng
khan hay hiđrat với thành phần khác nhau. Chẳng hạn, phản ứng giữa oxit hoặc
cacbonat đất hiếm với axit axetic theo tỉ lệ hợp thức tạo ra phức chất hyđrat
[Ln(CH3COO)3.nH2O] (n = 3 - 4), các phức chất này có thể bị mất nước ở 1900C tạo
ra phức chất khan. Pr(CH3COO)3 được hình thành từ quá trình đề hyđrat của
Pr(CH3COO)3.1,5 H2O ở 1800C, trong đó Pr có số phối trí 9. Các axetat khan của
xeri được tạo thành khi kết tinh dung dịch xeri axetat trong axit axetic loãng ở
1200C. Các monohyđrat [Ln(CH3COO)3.H2O] (Ln = Ce, Nd) có cấu trúc polime với
các cầu nối axetat và số phối trí bằng 9 của các lantanit, còn các tetrahyđrat
Ln(CH3COO)3.4H2O (Ln = Sm, Lu) là các đime cầu nối axetat, trong đó các Ln 3+
cũng có số phối trí 9 [30].
Axit salixylic.
Axit salixylic là axit monocacboxylic
Công thức phân tử: C7H6O3 Công thức cấu tạo:
10
chất hỗn hợp phối tử salixylat và 1,10-Phenantrolin của các nguyên tố đất hiếm
Nd(III), Sm(III), Eu(III), Gd(III) và nghiên cứu tính chất của chúng.
1.2.3. Tình hình nghiên cứu cacboxylat thơm trong và ngoài nước
Trên thế giới, hóa học phức chất của đất hiếm với các cacboxylat thơm đang
thu hút được nhiều sự quan tâm nghiên cứu bởi sự phong phú về tính chất và khả
năng ứng dụng của chúng. Tính chất phát quang của các phức chất đất hiếm được
sử dụng rộng rãi trong phân tích huỳnh quang, khoa học môi trường, công nghệ
sinh học tế bào và nhiều lĩnh vực khoa học kĩ thuật khác [21,22,25,26]. Nhóm tác
giả NaZhao đã tổng hợp và nghiên cứu tính chất phức chất [Eu(oMOBA)3phen]2.2H2O (o-MOBA: o-metoxybenzoat) có khả năng phát quang màu
đỏ, phức chất [Tb(o-MOBA)3phen]2.2H2O có khả năng phát quang màu xanh lá
cây. Cả hai phức đều phát quang mãnh liệt ngay ở nhiệt độ phòng, thời gian phát
quang của phức Eu(III) và Tb(III) tương ứng là 1,56 ms và 1,24 ms [27]. Các phức
chất có khả năng phát quang của La(III), Eu(III), Tb(III) với axit (Z)-4-(4metoxyphenoxy)-4-oxobut-2-enoic, đã được nhóm tác giả [23] tổng hợp, trong đó
nhóm cacboxylat phối trí chelat hai càng với các ion đất hiếm, chúng có cường độ
phát quang mạnh với ánh sáng đơn sắc có bước sóng bằng 616 nm đối với phức
chất của Eu(III) và 547 nm đối với phức chất của Tb(III). Tác giả [31] đã tổng hợp
thành công phức chất của Eu(III), Tb(III) với hỗn hợp phối tử picrat và
biphenylamit, nghiên cứu chúng bằng các phương pháp phân tích nguyên tố, phổ
hấp thụ hồng ngoại, phổ UV-Vis và phổ phát xạ huỳnh quang. Kết quả nghiên cứu
chỉ ra rằng ở trạng thái rắn phức chất của Eu(III) phát huỳnh quang rất mạnh khi
được kích thích bởi bước sóng 415nm. Trong dung dịch CHCl 3, phức chất này có
khả năng phát quang mạnh nhất. Phức chất của Eu(III) có cường độ phát quang
mạnh hơn so với phức chất của Tb(III) với cùng phối tử là biphenylamin. Nhóm tác
giả [29] đã tổng hợp được phức chất dạng dime-chelate [Er(benzoate)3(bipyridine)]2,
trong đó khoảng cách giữa hai ion Er3+ đã được xác định và khả năng phát xạ huỳnh
quang của phức chất Er(III) đã được nghiên cứu. Phức chất của Eu (III) với HTTA,
12
N-HPA và 1,10-phenanthroline (HTTA: α-thenoyltrifluoroacetone; N-HPA: axit Nphenylanthranilic) đã được tác giả [32] tổng hợp thành công, phức chất này phát ra
hiếm còn chưa nhiều, đặc biệt việc nghiên cứu phức chất hỗn hợp cacboxylat thơm và
13
1,10-Phenantrrolin có ít công trin
̀ h đề câ ̣p đế n.
1.3. Một số phương pháp hoá lí nghiên cứu phức chất
1.3.1. Phương pháp phổ hấp thụ hồng ngoại
Phương pháp phổ hấp thụ hồng ngoại là một trong những phương pháp vật lý
hiện đại và thông dụng dùng để nghiên cứu phức chất. Các dữ kiện thu được từ phổ
hấp thụ hồng ngoại cho phép xác định sự tạo thành phức chất và cách phối trí giữa
phối tử và ion trung tâm. Ngoài ra, nó còn cho phép xác định kiểu phối trí và độ bền
liên kết của kim loại - phối tử.
Khi phân tử vật chất hấp thụ năng lượng điện từ có thể dẫn đến các quá trình
thay đổi trong phân tử như quá trình quay, dao động, kích thích điện tử... Mỗi quá
trình như vậy đều đòi hỏi một năng lượng nhất định đặc trưng cho nó, có nghĩa là
đòi hỏi một bức xạ điện từ có tần số đặc trưng để kích thích. Trong đó, bức xạ
hồng ngoại đặc trưng cho sự kích thích quá trình dao động của các nhóm nguyên
tử trong phân tử. Mỗi một liên kết trong phân tử đều hấp thụ một bức xạ có tần số
đặc trưng để thay đổi trạng thái dao động của mình, tần số đặc trưng này không
những phụ thuộc vào bản chất liên kết mà còn phụ thuộc rất nhiều vào cấu tạo
phân tử và các nguyên tử, nhóm nguyên tử xung quanh [3]. Có hai kiểu dao động
chính của phân tử là dao động hóa trị (chủ yếu làm thay đổi chiều dài liên kết) và dao
động biến dạng (chủ yếu làm thay đổi góc liên kết). Đối với những phân tử gồm n
nguyên tử, người ta xác định là phải có 3n-6 (đối với phân tử không thẳng) và 3n-5
(đối với phân tử thẳng) dao động chuẩn. Sự xuất hiện của dao động trong phổ hồng
ngoại cần thỏa mãn các điều kiện của quy tắc lọc lựa:
1) Năng lượng của bức xạ phải trùng với năng lượng dao động.
2) Sự hấp thụ năng lượng phải đi kèm với sự biến đổi momen lưỡng cực của
Ln(HSal)2.2H2O (Ln3+: Nd3+, Sm3+, Dy3+; Hsal: axit salixylic). Trong phổ hấp thụ
hồng ngoại của các phức chất đều xuất hiện dải ở vùng (3000÷3500 ) cm-1, chứng tỏ
nước có trong thành phần của các phức chất. Dải ở vùng 1665 cm-1 đặc trưng cho dao
động của nhóm –COOH trong axit bị dịch chuyển về vùng có số sóng thấp hơn trong
các phức chất salixylat của Nd(III), Dy(III), Sm(III) chứng tỏ đã hình thành liên kết
kim loại - phối tử qua nguyên tử oxi của nhóm –COO- làm cho liên kết C=O trong
phối tử bị yếu đi và liên kết kim loại - phối tử mang chủ yếu đặc tính ion.
Tác giả [11] đã đưa ra dữ kiện về phổ hồng ngoại của các phức chất 2thiophenaxetat. Tác giả đã so sánh phổ hấp thụ của chúng với phổ của axit HTPA tự
15
do và muối NaTPA. Trong phổ hồng ngọai của các phức chất đều xuất hiện các dải
hấp thụ có cường độ mạnh ở vùng (1548÷ 1588) cm-1, các dải hấp thụ này quy gán
cho dao động hoá trị bất đối xứng của nhóm –COO-. Các dải hấp thụ này được dịch
chuyển về vùng có số sóng thấp hơn so với vị trí tương ứng của nó (1696) cm-1 trong
phổ hấp thụ hồng ngoại của HTPA (2-thiophenaxetat). Chứng tỏ các phức chất không
còn nhóm –COOH tự do mà đã hình thành sự phối trí của phối tử tới ion đất hiếm qua
nguyên tử oxi của nhóm –COO- làm cho liên kết C=O trong phức chất bị yếu đi. Các
dải hấp thụ thường có cường độ tương đối mạnh ở vùng (1382÷1434) cm-1 được quy
gán cho dao động hóa trị đối xứng của nhóm –COO-. Trong phổ hấp thụ của các phức
chất nhận thấy giá trị hiệu số sóng của các dao động bất đối xứng nằm trong khoảng
(154÷166) cm-1, được giả thiết khuynh hướng phối trí hai càng là đặc trưng cho các
2-thiophenaxetat đất hiếm. Các dải có cường độ tương đối mạnh ở vùng (3075÷3110)
cm-1 được quy gán cho dao động hóa trị của liên kết C-H. Sự xuất hiện các dải hấp
thụ ở vùng (420÷478) cm-1 trong phổ hấp thụ hồng ngoại của các phức chất được quy
gán cho dao động hóa trị của liên kết Ln-O. Trong phổ hấp thụ của các phức chất đều
không xuất hiện các dải hấp thụ ở vùng (3000÷3500) cm-1 đặc trưng cho dao động
hóa trị của nhóm OH trong phân tử nước, chứng tỏ các phức chất này đều tồn tại ở
trạng thái khan.