Nghiên cứu một số giải pháp góp phần quản lý rừng bền vững tại vườn quốc gia vũ quang, tỉnh hà tĩnh - Pdf 44

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-----------------------------

NGUYỄN THƯỢNG HẢI

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP
GÓP PHẦN QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG
TẠI VƯỜN QUỐC GIA VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-----------------------------

NGUYỄN THƯỢNG HẢI

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP
GÓP PHẦN QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG
TẠI VƯỜN QUỐC GIA VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH


vật và là nơi thực tập cho học sinh, sinh viên về nhiều lĩnh vực khác nhau như: Sinh
vật học, sinh thái học, khí tượng, thủy văn…
Để bảo vệ những cánh rừng nguyên sinh, bảo tồn sự đa dạng sinh học đặc trưng của
vùng rừng phía Tây Nam khu IV, góp phần duy trì sự cân bằng về sinh thái, tăng độ che
phủ của rừng, bảo đảm an ninh môi trường và phát triển về kinh tế, đồng thời phát huy
các giá trị sinh thái phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, tham quan và du lịch. Ngày
30/7/2002 Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 102/2002/QĐ-TTg chuyển Khu
BTTN Vũ Quang thành Vườn quốc gia Vũ Quang.
Cùng với tình trạng chung trong cả nước, Vườn quốc gia Vũ Quang đang phải
đối mặt với tệ nạn khai thác gỗ, lâm sản ngoài gỗ, săn bắt các loài động vật rừng trái


2

phép, nếu tình trạng này vẫn cứ tiếp diễn thì trong tương lai không xa tài nguyên
rừng VQG Vũ Quang sẽ bị suy thoái, mất đi những giá trị quý báu của nó.
Ngăn chặn những tác động xâm hại đến tài nguyên rừng là điều băn khoăn, trăn
trở của các cấp, các ngành, cán bộ và người dân địa phương. Để góp phần giải quyết
vấn đề trên, trong khuôn khổ một luận văn cao học, tôi tiến hành thực hiện đề tài
“Nghiên cứu một số giải pháp góp phần quản lý rừng bền vững tại Vườn quốc gia
Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh”.


3

Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Định nghĩa về quản lý rừng bền vững
Từ lâu quản lý rừng bền vững đã được các nhà lâm học xem là vấn đề cơ bản
của kinh doanh rừng. Phần lớn các học thuyết về rừng đều hướng vào phân tích

đó việc khai thác lợi dụng rừng không mâu thuẫn với việc duy trì được diện tích và
chất lượng của rừng, đồng thời duy trì và phát huy được chức năng bảo vệ môi
trường sinh thái lâu bền đối với con người và thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học,
bảo tồn loài, bảo tồn các hệ sinh thái. Quản lý rừng bền vững nhằm phát huy đồng
thời những giá trị về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường của rừng.
Mục tiêu cơ bản của quản lý rừng bền vững là đồng thời đạt được bền vững về
kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường.
- Bền vững về kinh tế là đảm bảo kinh doanh rừng lâu dài liên tục với năng
suất, hiệu quả ngày càng cao (không khai thác lạm vào vốn rừng; duy trì, phát triển
diện tích, trữ lượng rừng; áp dụng các biện pháp kỷ thuật làm tăng năng suất rừng).
- Bền vững về xã hội là đảm bảo kinh doanh rừng phải tuân thủ các luật pháp,
thực hiện tốt các nghĩa vụ đóng góp với xã hội, đảm bảo quyền hạn và quyền lợi
cũng như mối quan hệ tốt với nhân dân, với cộng đồng địa phương.
- Bền vững về môi trường là đảm bảo kinh doanh duy trì được khả năng phòng
hộ môi trường, duy trì được tính đa dạng sinh học của rừng, đồng thời không gây
tác hại đối với các hệ sinh thái khác.
Trên quan điểm kinh tế sinh thái thì hiệu quả về mặt môi trường của rừng hoàn
toàn có thể xác định được bằng giá trị về kinh tế. Thực chất việc nâng cao giá trị về
môi trường sinh thái của rừng sẽ góp phần giảm những chi phí cần thiết để góp phần
phục hồi và ổn định môi trường sống. Với ý nghĩa này, quản lý sử dụng rừng bền
vững đã trở thành một nhiệm vụ cấp bách, một giải pháp quan trọng cho sự tồn tại
lâu dài của con người và thiên nhiên.
1.2. Khái quát tình hình phát triển và nghiên cứu về quản lý rừng bền vững
1.2.1. Quản lý rừng bền vững trên thế giới
Trên thế giới, lịch sử quản lý rừng được phát triển từ rất sớm. Đầu thế kỷ 18, các
nhà lâm học Đức (G.L.Hartig, 1840; Heyer, 1883, Hundeshagen, 1926...) đã đề xuất
nguyên tắc lợi dụng lâu bền đối với rừng thuần loại đồng tuổi. Cũng vào thời điểm đó,


5


6

Lâm nghiệp xã hội sẽ là một hình thức mang tính bền vững nhất về cả phương diện kinh
tế, xã hội lẫn môi trường sinh thái.
1.2.2. Quản lý rừng bền vững ở Việt Nam
Tài nguyên rừng ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và đời sống kinh tế nói chung
của chừng một phần ba dân số của cả nước. Nó không chỉ cung cấp những sản phẩm
phục vụ sinh hoạt hàng ngày như: gỗ, củi, lương thực, thực phẩm, dược liệu v.v..., mà
còn cung cấp những sản phẩm phục vụ nhu cầu công nghiệp, thủ công nghiệp và xuất
khẩu. Trong nhiều trường hợp rừng mang lại tới 60% tổng thu nhập của người dân.
Ngoài ra, do phân bố ở những vùng sinh thái nhạy cảm như các vùng đầu nguồn rộng
lớn, các vùng ngập mặn, các vùng sình lầy v.v.... rừng còn là một trong những yêú tố
có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến hoàn cảnh môi trường của đất nước. Nó góp phần
quan trọng vào chống lại biến đổi khí hậu, điều tiết nguồn nước, giảm tần suất và mức
nguy hiểm của các thiên tai như lũ lụt, hạn hán v.v…
Sự thất bại của công tác quản lý rừng và tài nguyên đất đai vùng đầu nguồn
trong những thập kỷ qua đã làm Việt Nam mất đi hàng triệu ha rừng và là nguyên
nhân chủ yếu gây ra những biến đổi khí hậu, gia tăng tần suất xuất và mức độ thiệt
hại của hạn hán và lũ lụt, là nguyên nhân buộc Nhà nước phải đầu tư hàng nghìn tỉ
đồng mỗi năm để củng cố đê điều và chống lũ cho các cánh đồng, là nguyên nhân
của xói mòn và sự hoang hoá tới trên 50% diện tích đất đồi núi. Quản lý rừng không
hiệu quả trong những năm qua cũng làm cho nhiều vùng đất trũng, đất ngập mặn trù
phú bởi các thảm rừng tràm, rừng đước với hàng trăm loài động vật hoang dã có giá
trị cao đã và đang bị thay thế bởi các vùng nuôi tôm, các rừng trồng công nghiệp
với mức độ măn hoá, phèn hoá ngày một nghiêm trọng.
Trước những biến đổi mạnh mẽ của môi trường và hiểm hoạ sinh thái có thể
xảy ra thì quản lý rừng bền vững ngày càng trở lên quan trọng. Phần lớn các chương
trình, dự án quốc tế hỗ trợ ngành lâm nghiệp hiện nay đều hướng vào quản lý rừng
bền vững. Những chương trình phát triển lâm nghiệp lớn của Nhà nước như chương


Phân theo chức năng sử dụng
Đặc dụng

Phòng hộ

Sản xuất

I. Đất có rừng

12.306.858

1.920.453

5.920.688

4.465.717

1. Rừng tự nhiên

10.088.288

1.837.076

5.105.961

3.145.251

2. Rừng trồng


nhiệm vụ quan trọng, nặng nề của đất nước. Công tác tổ chức quản lý sử dụng tài
nguyên rừng ở Việt Nam có thể được chia thành 3 thời kỳ như sau.
1.2.2.1. Thời kỳ trước năm 1945
Đơn vị quản lý rừng trong thời kỳ này được gọi là hạt lâm nghiệp có qui mô
tương đương với cấp tỉnh. Nội dung hoạt động lâm nghiệp trong thời kỳ này chủ
yếu là quản lý tài nguyên rừng nhằm để thu thuế là chính. Để thực hiện mục tiêu
khai thác tài nguyên rừng, người ta đã chia rừng thành ba loại.
- Rừng không thuộc quản lý của Nhà nước. Đây là những khu rừng ở vùng
sâu vùng xa với mật độ dân địa phương rất thấp, khó tiếp cận và kiểm soát. Ở những
khu rừng này dân địa phương có quyền tự do khai thác gỗ, lâm sản và phát nương
làm rẫy để đáp ứng các nhu cầu hàng ngày của họ.
- Rừng khai thác là những khu rừng tự nhiên nằm gần các khu dân cư và có
điều kiện giao thông thuận lợi. Rừng được phân chia thành các đơn vị quản lý, được
kiểm kê tài nguyên, điều tra các thông tin cơ bản phục vụ quản lý. Các đơn vị rừng
được chia thành các coup (cúp) khai thác và Nhà nước quy định cấp kính tối thiểu
được phép khai thác. Kiểm lâm đặt các trạm kiểm soát ở cửa rừng, tất cả các gỗ
khai thác ra được chấp nhận, đóng búa, nộp thuế và cho phép lưu thông [8].
- Rừng quan trọng là những khu rừng có vị trí quan trong về kinh tế được
khai thác và bảo vệ trong suốt luân kỳ hoặc là những khu rừng có chức năng quan
trọng khác như rừng đầu nguồn cần bảo vệ nghiêm ngặt.


9

1.2.2.2. Thời kỳ từ năm 1946 - 1990
Sau năm 1945, ngành Lâm nghiệp được quản lý bởi Nha lâm chính thuộc Bộ
canh nông với nhiệm vụ được qui định là Quản lý lâm phận: Ngăn ngừa sự tàn phá
rừng và sự lạm dụng lâm sản, gìn giữ các khu rừng có quan hệ đến sự điều hoà khí
hậu và mực nước của các triền sông, giữ vững các cồn cát để khỏi lấn vào nội địa;
thi hành lâm pháp và thi hành thể lệ về săn bắn.

các khu bảo tồn thiên nhiên có ban quản lý để bảo vệ nghiêm ngặt theo quy chế riêng.
1.2.2.3. Thời kỳ từ năm 1991 đến nay
Từ tháng 10/1995, Bộ Lâm nghiệp (cũ) cùng với Bộ Thủy lợi (cũ) sát nhập
vào với Bộ Nông nghiệp (cũ) để thành lập Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Trong Bộ mới có 2 Cục chuyên ngành Lâm nghiệp đó là Cục Phát triển Lâm nghiệp
và Cục Kiểm lâm.
Tại các tỉnh có Sở NN&PTNT, trong sở có hai cơ quan chuyên ngành lâm
nghiệp đó là Chi cục Phát triển Lâm nghiệp và Chi cục Kiểm lâm, một số tỉnh thì
Chi cục Kiểm lâm trực thuộc UBND tỉnh.
Ở cấp huyện, có phòng NN&PTNT và Hạt kiểm lâm. Phòng NN&PTNT giúp
UBND huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về nông nghiệp, lâm nghiệp,
thuỷ lợi và phát triển nông thôn; Hạt kiểm lâm trực thuộc Chi cục kiểm lâm cấp tỉnh
và chịu sự lãnh đạo của UBND huyện để thực hiện các nhiệm vụ được giao cho lực
lượng kiểm lâm trên địa bàn huyện.
Ở cấp xã, hiện nay đa số các xã đã có kiểm lâm viên, công tác BVR được tăng
cường đến tận các khu rừng trên địa bàn xã.
Bốn định hướng đổi mới về chiến lược phát triển lâm nghiệp đã được vạch ra
trên cơ sở của dự án “Nghiên cứu tổng quan phát triển Lâm nghiệp Việt Nam”:
Chuyển lâm nghiệp từ ngành kinh tế có nhiệm vụ khai thác tài nguyên rừng là
chính, trở thành một ngành kinh tế có nhiệm vụ cơ bản là xây dựng và phát triển
vốn rừng; chuyển lâm nghiệp từ một ngành kinh tế chỉ có Nhà nước và tập thể sang
một nền lâm nghiệp xã hội, thu hút nhiều thành phần kinh tế trong đó có cả hộ gia
đình, cá nhân và các lực lượng xã hội tham gia xây dựng rừng và kinh doanh rừng;
chuyển lâm nghiệp từ một nền kinh tế chuyên khai thác gỗ tự nhiên sang một ngành
kinh tế kinh doanh nhiều sản phẩm, phát triển nhiều ngành nghề; chuyển lâm nghiệp


11

từ tình trạng quảng canh, trình độ khoa học kỹ thuật thấp sang xây dựng một ngành

- Mục tiêu cụ thể:
+ Làm rõ được thực trạng quản lý rừng ở VQG Vũ Quang.
+ Xác định được các yếu tố thuận lợi và khó khăn với quản lý rừng ở VQG Vũ
Quang.
+ Đề xuất một số giải pháp góp phần quản lý rừng bền vững tại VQG Vũ
Quang.
2.2. Nội dung nghiên cứu
Phù hợp với mục tiêu nghiên cứu và những điều kiện cụ thể của địa phương đề
tài tiến hành một số nội dung sau:
- Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng Vườn quốc gia Vũ Quang.
Nội dung này nhằm đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng ở Vườn quốc gia Vũ
Quang, bao gồm: Diện tích các loại rừng, quy hoạch sử dụng rừng, sự đa dạng về tài
nguyên thực vật, động vật và các sinh cảnh cũng như sự phân bố của chúng theo không
gian và các vùng địa lý khác nhau. Đồng thời xác định tầm quan trọng của VQG Vũ
Quang đối với đời sống kinh tế, xã hội địa phương cũng như giá trị sinh thái đối với quốc
gia và thế giới.
- Đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng tài nguyên rừng ở VQG Vũ Quang
Trong nội dung này đề tài phân tích đặc điểm quản lý tài nguyên rừng, trong
đó tập trung vào các hoạt động bảo vệ, phát triển và sử dụng tài nguyên rừng ở
VQG Vũ Quang và vùng đệm.
- Những yếu tố thuận lợi và khó khăn đối với hoạt động quản lý rừng ở VQG
Vũ Quang
Nội dung này nhằm phân tích nhóm các yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội có
ảnh hưởng tới hoạt động quản lý rừng ở vườn quốc gia Vũ Quang.


13

- Nghiên cứu những giải pháp để góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng.
Từ kết quả nghiên cứu những nội dung trên để tìm ra những giải pháp góp


xuất, phân phối, lưu thông, tiêu dùng và tích luỹ v.v... Vì quan hệ chặt chẽ với các
yếu tố trong hệ thống kinh tế nên có thể quản lý rừng bằng việc tác động vào những
yếu tố kinh tế. Đây là lý do vì sao việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế
đến hiệu quả của hoạt động quản lý rừng và xây dựng những giải pháp kinh tế cho
quản lý rừng được xác định như một trong những nhiệm vụ của đề tài.
Rừng cũng là một thực thể xã hội, sự tồn tại và phát triển của rừng phụ thuộc
nhiều vào hoạt động của con người. Hoạt động của họ theo hướng bảo vệ và phát
triển rừng hay tàn phá nó luôn bị chi phối bởi nhiều yếu tố xã hội như nhận thức về
giá trị của rừng, ý thức với luật pháp Nhà nước, trách nhiệm với cộng đồng, kiến
thức về quản lý rừng, những phong tục, tập quán liên quan đến quản lý rừng v.v...
Rừng và hiệu quả của hoạt động quản lý rừng cũng phụ thuộc vào những vấn đề thể
chế và chính sách như hoạt động của hệ thống tổ chức Nhà nước trong lĩnh vực
quản lý bảo vệ rừng, các chính sách đất đai, chính sách sở hữu và sử dụng rừng ở
địa phương. Rừng và hiệu quả của quản lý rừng còn phụ thuộc vào sự hiện diện của
các tổ chức cộng đồng và những quy định của cộng đồng. Chúng hỗ trợ Nhà nước
trong việc tuyên truyền vận động người dân, động viên và giám sát họ thực hiện
những chính sách Nhà nước. Do rừng có liên quan chặt chẽ với các yếu tố xã hội
nên có thể quản lý rừng bằng tác động vào những yếu tố xã hội. Đây là lý do vì sao
trong đề tài này phân tích ảnh hưởng của những yếu tố xã hội đến hiệu quả của quản
lý rừng, coi đây là một nội dung quan trọng. Những giải pháp xã hội cho quản lý
rừng bền vững sẽ là những giải pháp tác động vào các mối quan hệ xã hội để lôi
cuốn cộng đồng vào hoạt động quản lý bảo vệ rừng.
- Quản lý rừng là hoạt động vừa mang tính kỹ thuật, vừa mang tính kinh tế và
xã hội nhân văn nên những giải pháp quản lý rừng phải được xây dựng trên quan
điểm đa ngành
Quản lý rừng là hoạt động mang tính kỹ thuật, nhưng cũng là hoạt động mang
tính kinh tế xã hội. Vì vậy, những giải pháp quản lý rừng sẽ bao gồm cả những giải
pháp khoa học công nghệ và giải pháp kinh tế xã hội. Những giải pháp này sẽ liên
quan đến cả lâm nghiệp, nông nghiệp, thuỷ lợi, địa chính, giao thông, môi trường,

- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn RRA và đánh giá nông thôn có sự
tham gia PRA


16

+ Lựa chọn đối tượng: Nhóm đối tượng phỏng vấn, thảo luận thu thập thông
tin đa dạng, phong phú như, mức sống khác nhau, địa bàn cư trú khác nhau, địa vị
xã hội khác nhau, lĩnh vực quản lý khác nhau nhưng đều có sự hiểu biết về các vấn
đề có liên quan đến quản lý rừng.
Những chủ đề phỏng vấn tập trung vào:
• Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và nhân văn
• Thực trạng quản lý sử dụng rừng
• Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội nhân văn đến hiệu quả
quản lý sử dụng tài nguyên rừng
• Giải pháp nhằm góp phần QLRBV ở Vườn quốc gia Vũ Quang.
Một số công cụ PRA được áp dụng trong quá trình khảo sát như sau:
+ Lược sử thôn bản;
+ Biểu đồ hướng thời gian;
+ Lịch thời vụ;
+ Bảng câu hỏi phỏng vấn bán định hướng;
Phương pháp đánh giá nông thôn tham dự (PRA) được áp dụng để kiểm tra kết
quả và xác định những yếu tố quan trọng nhất đang thúc đẩy hay cản trở, thách thức
quá trình quản lý rừng; lựa chọn những giải pháp ưu tiên, đề xuất những khuyến
nghị sử dụng hợp lý tài nguyên rừng tại địa phương. PRA được thực hiện sau
nghiên cứu RRA thông qua một số cuộc thảo luận với những nhóm người dân, cán
bộ thôn, xã, huyện ở địa bàn nghiên cứu. Một số công cụ PRA được lựa chọn trong
quá trình khảo sát như sau:
+ Lược sử thôn bản. Công cụ lược sử thôn bản được sử dụng để tìm hiểu quá
trình hình thành các buôn làng, quá trình di cư, chuyển đổi các hình thái tổ chức sản

+ Phân tích đánh giá các thông tin về điều kiện tự nhiên như địa hình, địa mạo,
khí hậu thuỷ văn, tài nguyên đất và tài nguyên sinh vật bằng cách thống kê sắp xếp,
phân tích đánh giá các thông tin.
+ Phân tích đánh giá các thông tin về chính sách trong công tác quản lý sử
dụng và phát triển rừng, những tồn tại vướng mắc về chế độ chính sách trong quá
trình thực hiện công tác quản lý sử dụng rừng bằng phương pháp SWOT.
+ Thống kê phân tích tổng hợp đánh giá các thông tin về xã hội.
+ Tổng hợp đánh giá các thông tin về kinh tế, đánh giá hiệu quả sản xuất theo
các mô hình canh tác theo chỉ tiêu tổng hợp lợi nhuận, bằng phương pháp dựa trên
các yếu tố tĩnh.
+ Hiệu quả kinh tế của các mô hình sử dụng đất và phương án sử dụng đất của
các hộ dân trong vùng nghiên cứu.


18

Chương 3
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1. Lược sử hình thành và phát triển của Vườn quốc gia Vũ Quang
Vũ Quang trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ là một khu bảo tồn rừng với diện
tích khoảng 30.000 ha và vì thế, cấm mọi hoạt động xâm hại rừng đối với cộng
đồng dân cư địa phương. Đến những năm 1960 – 1977, các lâm trường Trại Trụ, Vũ
Quang được thành lập để khai thác nguyên liệu gỗ phục vụ cho phát triển kinh tế, xã
hội của đất nước. Trong thời gian này, gỗ ở khu vực Vũ Quang bị khai thác mạnh,
cấu trúc rừng bị phá vỡ, nhất là khu vực núi thấp. Năm 1986, rừng Vũ Quang được
Chính phủ công nhận là Khu bảo tồn thiên nhiên theo quyết định số 194, ngày
09/08/1986 của Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) với diện
tích 16.000 ha. Năm 1992, các nhà khoa học đã phát hiện ở khu vực Vũ Quang 2
loài thú mới là Sao la và Mang lớn. Sau phát hiện gây chấn động này, Dự án đầu tư
Khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang được Viện Điều tra Quy hoạch rừng và Quỹ Bảo

Hương Khê. Vườn có sườn phía Nam giáp Lào, địa hình khá thoải về thung lũng
Nậm Ca Đinh của Lào, với nhiều diện tích bằng phẳng trải rộng. Địa hình Vườn
Quốc gia Vũ Quang được đặc trưng bởi các kiểu sau đây:
- Kiểu địa hình núi diện tích 31.180 ha chiếm 56,6% diện tích VQG, phân bố
chạy dọc theo biên giới Việt Lào. Độ cao của địa hình núi từ 301 – 2.000 m với
nhiều đỉnh cao độ dốc 20o – 35o có nơi hơn 35o. Đây là kiểu địa hình đặc trưng có ý
nghĩa quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học.
- Kiểu địa hình đồi đai cao
giữa mùa hè nóng khô ở vùng đồng bằng của VQG với lượng mưa phong phú và
gió mạnh ở các vùng núi cao. Ở phía Lào của dãy Trường Sơn, mùa đông tương đối
khô với gió mùa thổi từ Ấn độ dương đạt đỉnh điểm vào tháng 6, 7 và 8. Trong khi
phía Lào có một mùa mưa không rõ ràng và phía Việt Nam nhận được lượng mưa
tương đối lớn vào các tháng 6, 7 và 8, thì các đỉnh núi lại có lượng mưa cao từ tháng
5 đến tháng 10 và không có mùa khô. Chế độ mưa như vậy là nét độc đáo của chế
độ khí hậu Vũ Quang, nó ảnh hưởng tới thực vật của khu vực và sự phân bố của các
loài động vật quý hiếm ở đây.
- Chế độ khí hậu vùng đồng bằng và đồi núi thấp
+ Ở vùng đồng bằng và vùng đồi thấp, khí hậu có ba mùa. Mùa đông từ tháng
12 đến tháng 3 với thời tiết lạnh và độ ẩm cao, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 8 và
mùa mưa với các trận mưa rào lớn và thường xảy ra lụt lội từ tháng 9 đến tháng 11.
Đôi khi có những cơn mưa lớn bất thường vào tháng 5 gây ra lụt tiểu mạn. Ở vùng
này không có mùa khô rõ ràng.
+ Nhiệt độ trung bình năm là 25,60C. Tháng 7 là tháng nóng nhất có nhiệt độ
tối cao trung bình là 30,50C, tháng Giêng (một) lạnh nhất với nhiệt độ trung bình
19,60C, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối là 2,60C. Biên độ nhiệt độ cao nhất và nhiệt độ
thấp nhất trong ngày lớn nhất vào tháng 6, 7 và nhỏ nhất vào tháng 1 và tháng 2.
+ Lượng mưa: Tổng lượng mưa trung bình hàng năm của Vũ Quang là 2.697,6
mm, tập trung nhiều vào các tháng 8, 9 và 10 là. Số ngày mưa trong tháng tương đối
đồng đều quanh năm từ 10 đến 18 ngày. Mùa đông lượng mưa không lớn, chủ yếu là
mưa phùn, trong khi mùa thu thường có mưa rào.


22

+ Độ bốc hơi và độ ẩm: VQG Vũ Quang có một đặc điểm là độ ẩm cao quanh năm
(lớn hơn 70%). Độ ẩm cao nhất 80,4% là vào tháng 12 khi nhiệt độ thấp và biên độ dao
động nhiệt trong ngày thấp. Khí hậu tháng 1, tháng 2 có đặc điểm là nhiều sương mù và
mưa phùn. Độ ẩm thấp nhất vào tháng 6 khi số giờ nắng và nhiệt độ đều đạt tối đa.


78

40

76

35

74

30

72

25

70

20

68

15

66

10

64

Độ ẩm (%)

đây.

Độ ẩm
Nhiệt độ


23

Qua việc phân tích các yếu tố khí hậu ở VQG Vũ Quang ta thấy đây là một vùng
có khí hậu rất khác biệt với nhiều nơi trong cả nước, là sự giao thoa giữa khí hậu Lào
và khí hậu miền Trung Việt Nam. Chính sự khác biệt này làm cho nơi đây có nhiều
sinh cảnh rất độc đáo và chứa đựng nhiều loài động, thực vật có yếu tố đặc hữu.
- Chế độ thuỷ văn
Vũ Quang là vùng có hệ thống sông ngòi tương đối dày và là khu vực
thượng nguồn của 3 con sông chính: Sông Ngàn Phố ở huyện Hương Sơn, sông
Ngàn Sâu và Ngàn Trươi ở huyện Hương Khê. Có thể chia hệ thống thuỷ văn của
VQG thành ba hệ thuỷ rõ rệt.
+ Về phía Tây là hệ thuỷ Khe Tre thuộc huyện Hương Sơn. Vùng thượng lưu
bắt nguồn từ độ cao trên 1.400m và đổ xuống theo một độ nghiêng rất dốc trên một
đoạn dài 8 km xuống độ cao 300m và chảy tiếp với độ dốc không đáng kể đến tận
trạm bảo vệ rừng Khe Tre, sau đó nhập với sông Ngàn Phố. Các suối ở đây rất dốc
ngắn và hẹp nên dòng chảy rất mạnh.
+ Sông Ngàn Trươi dài 30 km, rộng 30m đến 35m, bắt nguồn từ các suối ven
biên giới Việt Lào có độ cao 1.000m. Đoạn thượng nguồn rất dốc nhiều đá nổi và
thác, gây nhiều khó khăn trong việc đi lại. Đoạn đường từ đồn biên phòng đến sông
Ngàn Sâu chảy dọc theo thung lũng tương đối bằng phẳng, độ dốc thấp nên có thể
đi lại bằng thuyền nhỏ.
+ Sông Rào Nổ nằm phía Bắc Vườn quốc gia thuộc huyện Hương Khê, tập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status