BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-----------oOo----------
ðẶNG BẢO NGỌC
NGHIÊN CỨU ðẶC ðIỂM SINH HỌC CỦA RẦY NÂU
Nilaparvata lugens Stal VÀ TÍNH KHÁNG CỦA MỘT SỐ
GIỐNG LÚA VỚI CHÚNG TẠI XÃ LONG ðIỀN A,
HUYỆN CHỢ MỚI, AN GIANG NĂM 2012-2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-----------oOo----------
ðẶNG BẢO NGỌC
NGHIÊN CỨU ðẶC ðIỂM SINH HỌC CỦA RẦY NÂU
Nilaparvata lugens Stal VÀ TÍNH KHÁNG CỦA MỘT SỐ
GIỐNG LÚA VỚI CHÚNG TẠI XÃ LONG ðIỀN A,
HUYỆN CHỢ MỚI, AN GIANG NĂM 2012-2013
CHUYÊN NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT
MÃ SỐ: 60.62.01.12
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
tôi hoàn thành ñề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Trưởng trạm Khuyến Nông huyện Chợ Mới
Nguyễn Văn Dũng - Chợ Mới – An Giang và các anh em làm chung Trạm ñã nhiệt
tình giúp ñỡ tạo ñiều kiện cho tôi trong quá trình học tập..
Tôi cũng xin ñược bày tỏ lòng biết ơn ñối với sự giúp ñỡ, ñộng viên của gia
ñình và bạn bè ñể tôi có thể hoàn thành ñề tài.
Chợ Mới, tháng 8 năm 2013
Tác giả luận văn
ðặng Bảo Ngọc
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
iii
MỤC LỤC
Lời cam ñoan
ii
Lời cảm ơn
iii
Mục lục
iv
4
1.2.1
Vị trí phân loại, triệu chứng gây hại, ký chủ và phân bố của rầy nâu
Nilaparvata lugens Stal
5
1.2.2
ðặc ñiểm sinh học, sinh thái của rầy nâu Nilaparvata lugens Stal
6
1.2.3
Nghiên cứu về tính kháng của các giống lúa ñối với rầy nâu
1.3
Tổng quan tình hình nghiên cứu về rầy nâu Nilaparvata lugens Stal ở
10
trong nước
12
ðối tượng nghiên cứu
19
2.1.2
Vật liệu nghiên cứu
19
2.2
ðịa ñiểm và thời gian nghiên cứu
19
2.2.1
ðịa ñiểm
19
2.2.2
Thời gian nghiên cứu
19
2.3
20
2.4.4
Nghiên cứu ñặc ñiểm sinh học của rầy nâu
23
2.4.5
Chỉ tiêu theo dõi và tính toán
24
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
25
3.1
Nghiên cứu ñặc tính sinh vật học của rầy nâu
25
3.1.1
ðặc ñiểm hình thái các pha phát dục của rầy nâu
25
3.2.3
3.3
36
So sánh khả năng ñánh giá tính kháng quần thể rầy nâu trên 2 phương
pháp ñánh giá riêng rẽ và phương pháp khay mạ
37
Diễn biến mật ñộ rầy nâu trên ñồng ruộng
39
KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ
45
1
Kết luận
45
2
ðề nghị
45
Mức ñộ phổ biến
TB:
Trung bình
ðBSCL:
ðồng Bằng Sông Cửu Long
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
vi
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
2.1
Cấp hại và triệu chứng cây mạ bị hại
21
2.2
giống riêng rẽ)
40
Diễn biến mật ñộ rầy nâu trên ñồng ruộng vụ ðông Xuân 2013
tại Xã Long ðiền A, Chợ Mới, An Giang
3.11
38
Diễn biến mật ñộ rầy nâu trên ñồng ruộng vụ Thu ðông 2012 tại
Xã Long ðiền A, Chợ Mới, An Giang
3.10
36
So sánh khả năng ñánh giá tính kháng quần thể rầy nâu trên 2
phương pháp ñánh giá riêng rẽ và phương pháp khay mạ
3.9
35
ðánh giá cấp hại của quần thể rầy nâu Nilaparvata lugens Stal
trên một số giống lúa ở ở ðBSCL (Phương pháp hộp mạ IRRI)
3.8
Tên hình
Trang
2.1
Lồng nuôi rầy
20
2.2
Cốc nhựa ñánh giá tính kháng rầy theo từng giống riêng rẽ
21
2.3
Lúa vừa gieo trên khay
22
2.4
Lúa tiến hành ñánh giá trên khay
22
3.1
tích các nước này là thuộc các nước Châu Á. Các nước này củng sản xuất khoảng
92% tổng sản lượng lúa gạo thế giới. Sản xuất lúa gạo toàn cầu ñã tăng từ khoảng
200 triệu tấn vào năm 1960 lên tới hơn 600 triệu tấn vào năm 2007 (Nguyễn Văn
Luật, 2011)
Tuy nhiên, trong thời ñiểm hiện nay cây lúa củng là một trong những cây
trồng bị nhiều loại sâu bệnh hại nhất. Trong số các tác nhân gây hại thì Rầy Nâu
(Nilaparvata lugens) ñược xem như là một côn trùng gây hại lớn nhất ñối với cây
lúa. Ngoài tác hại cháy Rầy (hopper burn), nó còn là vectơ truyền nhiều bệnh siêu vi
trùng lúa cỏ, vàng lùn xoắn lá tại ðBSCL.
Trong năm 2006 và vụ ðông Xuân 2006 – 2007, sản xuất lúa ở ðBSCL ñã bị
dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá gây hại nghiêm trọng, thiệt hại ước tính
trên 1.000 tỷ ñồng. Trong vụ ðông Xuân 2006 – 2007 ở Nam Bộ, rầy nâu xuất hiện
cao ñiểm ở trà lúa chín vụ với tổng diện tích là 282.713 ha trong số 1.558.947 ha
gieo sạ là diện tích nhiễm nặng là 37.810 ha chiếm 2,42% ; trong ñó tính riêng các
tỉnh ðBSCL, diện tích nhiễm rầy nâu nặng là 36.012 ha. Bệnh vàng lùn và lùn xoắn
lá bùng phát trên diện tích là 61.692 ha và diện tích nhiễm nặng lên tới 18.076 ha
chiếm 1,15% diện tích gieo sạ; tổng diện tích phải tiêu hủy là 10.762 ha chiếm 0,69
% (Bộ Nông Nghiệp và PTNT, tháng 3/2007). Dịch bệnh gây tổn thất to lớn sản
xuất lúa và ñe dọa nghiêm trọng tình hình an ninh lương thực cả nước.
Diện tích ñất gieo trồng lúa ở ðBSCL năm 2020 giảm 160 ngàn ha so với
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
1
năm 2010. Nếu chỉ giữ mức tăng sản lượng bình quân 1%/năm thì năng suất bình
quân năm 2020 phải tăng 6 tạ/ha so với năm 2010. (Phạm Văn Dư, 2010)
ðể ñạt ñược mục tiêu trên cần thường xuyên cải thiện năng suất và không ngừng
nâng cao chất lượng, tính chống chịu của giống trong ñiều kiện thời tiết ngày càng
diễn biến phức tạp do biến ñổi khí hậu mang tính toàn cầu. Trong ñó, công tác chọn
trồng lúa từ nửa sau thế kỷ XX.
Rầy nâu phân bố rộng và bắt ñầu bùng phát thành dịch ở các nước trên thế
giới. Triều tiên từ năm 1912 ñến 1976 có khoảng 10 ñợt dịch. Năm 1975 rầy nâu
gây hại diện tích 1,745 triệu ha lúa. Thiệt hại năng suất từ 24 ñến 38 % ở ruộng có
cháy rầy và 2-20% ở ruộng không cháy rầy. Thiệt hại ước tính 1 triệu ñô la Mỹ. Ấn
ðộ năm 1973 ước tính năng suất bị tổn thất do rầy giao ñộng 10% ñến 70% (ñôi khi
ñến 100%). Những thiệt hai do rầy nâu gây ra ở bang Kerala trong các năm 1973 –
1976 khoảng 12 triệu ñô la Mỹ (Phạm Văn Lầm, 2006). Ở Nhật Bản năm 1987,
Banglades (1976), Indonexia (1968), Malaixia (1967). Philipin năm 1973 hầu hết
các tỉnh trồng lúa ñều bị rầy nâu phá hại, ước tính thiệt hại khoảng 150.000 tấn thóc
(tương ñương 20 triệu ñô la Mỹ). Trung Quốc năm 1955 gây hại miền Bắc, năm
1957 xảy ra ở các vùng phía Nam (Phạm Văn Lầm. 2006). Ở Thái Lan năm 1975
Rầy nâu ñã trở thành loài sâu hại lúa nguy hiểm, từ năm 1975 ñến 2000 có 3 thời kỳ
dịch lớn bùng phát (Vungsilabuts, 2011) .Các chuyên gia Viện Nghiên cứu Lúa
Quốc tế (IRRI) vừa có chuyến ñi khảo sát tình hình rầy nâu tái bùng phát gây cháy
rầy tại tỉnh Pathum Tani, Thái Lan cho biết. Hai năm gần ñây, tại vùng lúa này rầy
nâu ñã bùng phát dữ dội và gây thiệt hại hàng triệu tấn lúa, ước tính tương ñương
51,2 triệu USD .
Ở Việt Nam, tại miền Bắc năm 1958 ñã ghi nhận rầy nâu phát triển thành
dịch lan rộng gây hại nặng một số tỉnh.
Ở miền Nam, rầy nâu hại lúa ñược ghi nhận sớm hơn và phát triển thành dịch
từ tháng 10 – 11 năm 1931 tại Mỹ Tho, Tân An, Chợ Lớn, Gia ðịnh, Gò Công, Cần
Thơ, Bạc Liêu, Rạch Giá, Bến Tre. Sau ñó có xuất hiện cùng với rầy xanh nhưng
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
3
không gây hại nghiêm trọng. Từ năm 1968 trở ñi do trồng một số giống ngắn ngày,
năng suất cao (giống IR), ñồng thời dùng nhiều phân hóa học, thuốc hóa học trừ sâu
Tại Sri Lanka, Nilaparvata lugens ñược biết ñầu tiên với tên Nilaparvata greeni
Distant (Fernando và ctv , 1977). Tại ðài Loan, rầy nâu ñược biết ñến với cái tên
ñầu tiên là Liburnia oryzae(Fukuda, 1934), sau ñó là Nilaparvata oryzae
Matsumra(Anonymous, 1944; Wang, 1957) và trở thành Nilaparvata lugens Stal
vào các năm sau ñó (Lin, 1970; Tao, 1966; Chiu, 1979).
1.2.1. Vị trí phân loại, triệu chứng gây hại, ký chủ và phân bố của rầy nâu
Nilaparvata lugens Stal
Rầy nâu ñược coi là một trong những ñối tượng nguy hiểm gây hại trên lúa
có tên khoa học là Nilaparvata lugens Stal, thuộc giống Nilaparvata, họ rầy
Delphacidae, bộ nhỏ Fulgoromorpha, bộ phụ Auchenorrhyncha, bộ cánh ñều
Homoptera.
Nilaparvata lugens ñược ñặt tên ñầu tiên vào năm 1854 là Delphax lugens
Stål. Sau ñó ñược ñổi tên thành Nilaparvata lugens bởi Muir và Giffard vào năm
1924. Tại Sri Lanka, Nilaparvata lugens ñược biết ñầu tiên với tên Nilaparvata
greeni Distant (Fernando và ctv., 1979). Tại ðài Loan, rầy nâu ñược biết ñến với cái
tên ñầu tiên là Liburnia oryzae (Fukuda, 1934) , Phân bố của rầy nâu rộng khắp các
nước trồng lúa ở Châu Á, Australia và một số ñảo ở Thái Bình Dương. Trên thế giới
phạm vi phân bố của rầy nâu rất rộng. Theo Mochida (1970), rầy nâu phân bố ở hầu
hết các nước trồng lúa nước ở Châu Á như Ấn ðộ, Thái Lan, Campuchia, Lào,
Bangladesh, Indonesia, Srilanca, Philippines, Malaysia, Trung Quốc, ðài Loan,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam… Lúa nước là ký chủ chính của rầy nâu do ñó thời
gian không trồng lúa hoặc ñể ruộng nghỉ không có lúa chét có thể làm giảm số
lượng rầy cho vụ tiếp theo. Cây dại thuộc họ hoà thảo và lúa chét là ký chủ phụ
thích hợp cho rầy sinh sống và ñẻ trứng. Thí nghiệm của Viện Nghiên Cứu Lúa
Quốc Tế (IRRI, 1979) cho biết: cỏ dại ở ruộng lúa có thể góp phần làm tăng số
lượng rầy khi lúa gần chín, là do ñã tạo ñược môi trường có thảm cây rậm rạp. Tuy
nhiên, có một số tác giả khác cho rằng, các ký chủ khác ngoài cây lúa chỉ là nơi trú
ngụ tạm thời của rầy nâu (Hinekly, 1963).
thứ nhất (Alam, 1971).
Sự thay ñổi ñiều kiện thời tiết không những ảnh hưởng tới sự phát triển của
rầy non và trưởng thành nó còn có quan hệ mật thiết tới sự phát triển của trứng. Sự
phát dục của trứng ngừng khi nhiệt ñộ xuống thấp khoảng 10-10,8ºC. Quá trình
hình thành trứng ngừng lại khi nhiệt ñộ xuống thấp dưới 17ºC hoặc 18ºC (Mochida
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
6
và Okada, 1979). Nhiệt ñộ thấp hơn 20oC hoặc cao hơn 30oC ñều làm cho tỷ lệ nở
của trứng giảm (Visarto, 2005).
Theo Otake (1978), thời gian trứng của rầy nâu khoảng từ 7-13 ngày ở ñiều
kiện 25oC và từ 7-13,7 ngày ở ñiều kiện nhiệt ñộ 30oC. Thời gian dài nhất của
trứng là 26,7 ngày ở ñiều kiện 15oC và ngắn nhất là 12,6 ngày ở ñiều kiện nhiệt ñộ
28oC (Visarto, 2005). Các tác giả như Suenaga (1963) và Mochida (1964), chứng
minh rằng tỷ lệ trứng nở cao nhất ở ñiều kiện nhiệt ñộ 25oC (khoảng 96%) và nhiệt
ñộ cao hơn hoặc thấp hơn 25oC tỷ lệ trứng nở ñều giảm. Trong ñiều kiện phòng thí
nghiệm, ñiều kiện ñộ ẩm từ 70-80% và ánh sáng 16 giờ sáng 8 giờ tối, trứng không
phát triển khi nhiệt ñộ thấp hơn 15oC (Visarto, 2005).
Sự phát triển và một số ñặc ñiểm của rầy non: Tỷ lệ sống của rầy non ñạt từ
96-98% cao nhất ở nhiệt ñộ ổn ñịnh ở 25ºC, ở ñiều kiện nhiệt ñộ ổn ñịnh 27-28ºC,
thời gian phát dục ngắn nhất là 12 ngày và tổng thời gian phát dục trứng và rầy non
ngắn nhất là 20 ngày, rầy non tuổi 4 và 5 hoạt ñộng bình thường trong khoảng nhiệt
ñộ 12-31ºC (Mochida, 1964). Thời gian phát dục của rầy non trong ñiều kiện 25oC
là 13,2 ngày (Suenage, 1963), 13,91 ngày (Lin, 1970), 13,6 ngày (Bae và ctv, 1987)
và 16,28 ngày (Bae, 1995) [31]. Khi nuôi ở ñiều kiện nhiệt ñộ 30oC thì thời gian
phát dục của rầy non là 13,1 ngày (Suenage, 1963), 14,0 ngày (Lin, 1970) và 12,7
ngày (Bae và ctv, 1987)
Sự phát triển và một số ñặc ñiểm của trưởng thành rầy nâu: Rầy nâu có 2
vi từ 20-33ºC (Mochida, 1964). Thời kỳ tiền ñẻ trứng và ñẻ trứng của trưởng thành
có quan hệ với nhiệt ñộ, nhiệt ñộ thấp sẽ kéo dài thời gian ñẻ trứng và trước ñẻ. Rầy
nâu ñẻ nhiều nhất và ñiều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển của trưởng thành là
27,5oC (Chen và ctv, 1982).
* Nghiên cứu về sinh thái của rầy nâu Nilaparvata lugens Stal
Nhiệt ñộ: Nhiệt ñộ là một trong những yếu tố khí hậu có ảnh hưởng lớn nhất
tới sự phát dục, biến ñộng quần thể và phát dịch của rầy nâu. Nhiệt ñộ trong phạm
vi 25-30ºC là thích hợp nhất ñối với sự phát dục của trứng và rầy non, nếu nhiệt ñộ
cao hơn 33-35ºC thì không thích hợp với rầy (Bae and Pathak, 1970). Theo Ho and
Liu (1969) cho rằng nhiệt ñộ thấp trong khoảng từ 15-18ºC là không thích hợp cho
sự phát triển của rầy. Các tác giả như Fukuda (1934), Alam (1971) cho hay nhiệt ñộ
cao góp phần tăng số lượng rầy.
Ẩm ñộ và lượng mưa: Về vai trò của ẩm ñộ với phát sinh, phát triển của rầy
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
8
nâu, nhìn chung các tác giả ñều cho rằng môi trường ẩm có liên quan chặt với rầy
nâu, ñiều kiện này góp phần làm tăng số lượng quần thể của chúng. Theo
Kulshresthan (1974) ñộ ẩm trong phạm vi từ 70-80% là thích hợp cho sự phát dục
của rầy nâu. Một số tác giả lại nhận thấy các trận dịch rầy xảy ra chủ yếu trong mùa
mưa (Grist và Lever, 1969). Tác giả Fukuda (1934) và Pathak (1968) có nhận xét
các trận dịch rầy nâu xảy ra trong ñiều kiện khô hạn. Nhiều tác giả cho rằng tưới
nước và giữ nước trong ruộng ñã dẫn ñến làm tăng mật ñộ rầy nâu và từ ñó làm tăng
thiệt hại cho lúa (Hinckley, 1963; Mochida và Suryana, 1975).
Cây chủ: Lúa là cây chủ thích hợp nhất với rầy nâu (Nasu, 1964; Kisimoto,
1977; Okada, 1976). Trên các ký chủ phụ như cỏ, rầy nâu có thể sống nhưng phát
triển không thuận lợi (Mochida và ctv., 1977).
Giống lúa: Quan niệm chung ñều cho rằng việc gieo cấy các giống lúa mới
sinh...) dường như là nhân tố chính ñiều khiển quần thể rầy nâu, nhất là ở các nước
Nhiệt ñới (Visarto, 2005). Khi nghiên cứu về vai trò này Pathak (1968) cho rằng
quần thể rầy nâu biến ñổi phụ thuộc vào thiên ñịch cũng như phụ thuộc vào các
nhân tố khác của môi trường. Tuy nhiên, Otake (1978) lại cho rằng thiên ñịch
không có vai trò ñáng kể trong phòng trừ rầy nâu, ñặc biệt trong các ñợt dịch. Còn
Kenmore và ctv (1984) , Preap và ctv (2001) cho rằng nhóm bắt mồi ñóng góp vai
trò rất quan trọng trong việc duy trì quần thể rầy nâu ở mức thấp. Các loài nhện bắt
mồi thuộc họ Lycosidae và Tetragnathidae, Linyphiidae là nhóm săn mồi quan
trọng của rầy nâu hại lúa (Preap và ctv, 2001). Về nhóm ký sinh trên rầy hại lúa
phân ra thành nhóm ký sinh trứng và rầy non, trưởng thành thuộc bộ Hymenoptera,
Strepsiptera và Diptera (Henrichs và Mochida, 1984) tỷ lệ ký sinh của các loài
thuộc 3 bộ trên trứng rầy từ 0-50% và 1-65% ấu trùng. Bệnh ký sinh trên rầy ñược
nhiều tác giả nghiên cứu, có nhóm Zycomycetes và Hyphomecetes là hai nhóm
quan trọng tấn công rầy, các loài nấm thuộc Hyphomecetes gồm có Beauveria
bassiana, Hisutella sp. và Metarhizium, ngoài ra trong 150 loài nấm thuộc nhóm
Zycomycetes
có
6
loài
là:
Conidiobolus
coronatus,
Entomophaga
và Bph7 trong T12 sử dụng biotype BPH từ Bawnglades. Ikeda và Kaneda (1986) và
Nemoto at al. (1989). Sử dụng 3 biotype khác trong phòng thí nghiệm và 2 giống
kháng có chứa Bph3 và Bph4 ñã phát hiện ra gen kháng mới là Bph8 (gen lặn) trong
Thai Col. 5, Thai Col. 11 và Chinsaba, và một gen trội mới Bph9 trong 3 giống lúa
ñịa phương của Sri Lanka là Pokkli, Balamawee và Kaharamana. Một giống lúa
hoang khác là O. australiensis ñược phát hiện là có chứa một gen kháng trội là Bph10
và ñã ñưa vào một số dòng lúa lai Indica (Ishii et al., 1994).
Tại Ấn ðộ (1974 – 1976) ñã ñánh giá khoảng 3000 giống lúa trong ñó 106
giống ñược xác ñịnh là có khả năng kháng rầy nâu (Kalode và Khrishna, 1979).
Ở Nhật Bản từ năm 1972 – 1976 ñã tiến hành ñánh giá các tập ñoàn giống
nhập nội và trong nước, xác ñịnh thêm ñược 14 giống lúa có khả năng kháng rầy
cao ngoài những giống kháng ñã ñược xác ñịnh tại IRRI và nhiều nơi khác.
Khoảng 3000 giống lúa và dòng lai ñã ñược ñánh giá tại ðài Loan,, 120
giống và dòng lai ñược xác ñịnh là kháng rầy, không một giống nào trong nước có
khả năng kháng rầy và tất cả các giống kháng ñề thuộc loại hình lúa cánh (Indica).
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
11
Một số giống có tác dụng hạn chế sự phát triển và gây hại của rầy nâu, mức
kháng khác nhau ñối với rầy nâu ñã ñược nghiên cứu tại IRRI vao năm 1963 có 7
gen ñã ñược khẳng ñịnh tác ñộng, chống chịu với rầy nâu (Heinrichs E.A., 1994)
Tại Sri lanka, ñánh giá 985 giống ñịa phương, xác ñịnh ñược 20 giống kháng
rầy nâu.
Theo Ikeda và Vaughan, 2006 trên rầy nâu phát hiện ñược có 4 biotype.
Biotype 1 phân bố rộng ở ðông và ðông Nam châu Á; biotype 2 có nguồn gốc ở
Philippine và phát sinh sau khi sử dụng rộng rãi các giống có gen kháng Bph1;
biotype 3 phát sinh tại các phòng thí nghiệm ở Nhật Bản và philippine; biotype 4
chỉ thấy ở vùng Nam Á.
22,3oC, vòng ñời rầy từ 35-40 ngày. Trong tháng 2- 3, với nhiệt ñộ thấp (17-20,2oC)
vòng ñời kéo dài tới 50-55 ngày.
Theo Nguyễn ðức Khiêm (1995), thời gian phát dục của rầy nâu trong vụ
mùa nhiệt ñộ từ 25-29oC thì thời gian trứng khoảng 6,5 ngày, rầy non khoảng 13,516 ngày, trưởng thành 6-9 ngày, trước ñẻ trứng 2,5-3 ngày, vòng ñời 26-30 ngày. Số
trứng trên mỗi ổ ít nhiều phụ thuộc vào giống lúa làm thức ăn cho rầy, trên giống
nhiễm rầy số trứng/ổ cao gấp 2 lần so với giống kháng rầy. Bên cạnh ñó, khả năng
ñẻ trứng còn phụ thuộc vào mùa vụ, trong một năm thì vụ xuân rầy ñẻ trứng nhiều
hơn vụ mùa, vụ xuân ñẻ 255 trứng nhưng vụ mùa chỉ ñẻ 164 trứng thấp hơn 1,37
lần so với vụ xuân. Tại Tiền Giang, năm 1977-1978 cho thấy ổ trứng rầy nâu có ít
nhất là 1 trứng và nhiều nhất là 43 trứng, thường là 2-5 trứng/ổ (P. V. Lầm, 1992).
Trứng có dạng “quả chuối tiêu” mới ñẻ trong suốt, gần nở chuyển màu vàng và có
hai ñiểm mắt ñỏ. ðẻ thành từng ổ từ 5 - 12 trứng nằm sát nhau theo kiểu “úp thìa”
ñầu nhỏ quay vào trong ñầu to quay ra ngoài biểu bì ngoài của bẹ lá. Mới ñẻ nằm
chìm trong mô biểu bì, sắp nở chồi ñầu trứng ra ngoài biểu bì bẹ lá. Trứng ñược ñẻ
ở bẹ lá là chính (lúa non) và ở gân chính của lá lúa (lúa già) (Viện BVTV, 2003).
Trong ñiều kiện Việt Nam, các kết quả theo dõi về khả năng ñẻ trứng của rầy
nâu không giống nhau. Tại phòng thí nghiệm Viện KHKT nông nghiệp miền Nam,
một trưởng thành của rầy nâu ñẻ trung bình 150-400 trứng. Nuôi thí nghiệm ở Long
An, mỗi trưởng thành cái ñẻ 50 – 200 trứng, nhiều nhất ñẻ tới 612 trứng. Trong ñiều
kiện vùng Hà Nội, một trưởng thành cái có khả năng ñẻ 110-324 trứng, nhiều nhất
tới 670 trứng (Viện BVTV, 1980). Trong ñiều kiện ở nước ta trưởng thành cái của
rầy nâu có thời gian ñẻ trứng kéo dài tử 1-27 ngày, thường phổ biến là 6-7 ngày
(Viện BVTV, 1980).
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
13
Theo Phạm Hồng Hiển (2009) nhiệt ñộ cao từ 25-30oC, trứng và sâu non của
rầy nâu hoàn thành sớm hơn ở nhiệt ñộ thấp 10oC, và các tác giả cũng cho thấy rằng tỷ
Diễn biến rầy nâu trên ruộng lúa: Quan sát trên rất nhiều ruộng lúa ở Long
An và vùng ngoài thành Hà Nội có thể nhận thấy quá trình phát triển quần thể của
chúng trong các thời kỳ
+ Rầy trưởng thành du nhập vào ruộng lúa
+ Thời kỳ tích lũy quần thể
+ Thời kỳ cao ñiểm, phá hại nặng gây “cháy rầy”
+ Thời kỳ phát tán
Nhìn chung trong mỗi vụ lúa thường có 2-3 lứa rầy phát sinh và gây hại với
mật ñộ lứa sau cao hơn lứa trước. Các ñợt dịch rầy thường phát sinh ở các vùng vào
giai ñoạn lúa trước hoặc sau trỗ bông tương ứng ở mỗi vụ lúa ñông xuân, hè thu hay
vụ mùa thường có một ñỉnh cao quần thể của rầy (Nguyễn Công Thuật và Nguyễn
Văn Hành, 1980)
Trên mỗi ruộng gieo giống ngắn ngày có thể có 3 lứa rầy. Trong ñó ñợt thứ
hai có nhiều khă năng gây hại nhất. Trong thời gian xuất hiện các cao ñiểm rầy
trưởng thành và rầy non ở các trà lúa nói chung không chênh lệch nhau nhiều
(Nguyễn Mạnh Chinh, 1992).
Rầy nâu dạng cánh dài du nhập vào ruộng lúa sau cấy 20-25 ngày từ các ký
chủ phụ và các nơi khác nhau. Chúng hoàn thành 3 thế hệ nếu du nhập sớm, 2 thế
hệ nếu du nhập muộn hơn. Sau khi du nhập chúng tích lũy số lượng qua các lứa với
hệ số tích lũy lứa 1-2 khoảng 11 lần, lứa 1-3 tới 130 lần (Trần Huy Thọ và cs,
1989). Sau khi tích lũy quần thể ñến mức tối ña, mật ñộ có thể lên tới 700 – 2000
con/khóm. Sau khi cây lúa bị hại nặng (do cháy rầy) lúa không còn thích hợp với
rầy, lúc này rầy nâu phát triển nhiều dạng cánh dài phát tán tới những trà lúa muộn,
những ruộng mạ gieo sớm hay những ký chủ phụ ñảm bảo cho phát triển các thế hệ
tiếp theo.
Khi nghiên cứu rầy nâu ở các vùng ngoại thành Hà Nội, Hà Sơn Bình, Hà
Nam Ninh, các tác giả cho biết, hàng năm ñợt rầy non xuất hiện trên các trà lúa sớm
khoảng cuối tháng 2 ñến giữa tháng 3. Kết quả năm 1981-1982 cho thấy từ tháng 1
giống lúa CR203 vẫn còn kháng ñối với rầy nâu Hà Nội, còn các giống 3T33 và
TSC3 là những giống kháng rầy nâu Tiền Giang, cấp bị hại dao ñộng từ 1,0 ñến
2,7. Giống TC 65 là giống chuẩn nhiễm, bị hại rất nặng ñến mức 9,0.
Nguyễn Văn ðĩnh và Trần Thị Liên (2006) khi ñánh giá phản ứng của các
giống mang gen chuẩn kháng ñối với 3 quần thể rầy nâu (Nilaparvata lugen Stal.) ở
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
16